Thế giới nghệ thuật trong tập thơ tự hát của xuân quỳnh - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm tất cả các
yếu tố, cấp độ của sáng tạo nghệ thuật. Mỗi cấp độ, yếu tố này lại có thể là
một chỉnh thể nhỏ hơn được đặt trong mối quan hệ biện chứng nhất định, xâu
chuỗi với những yếu tố khác. Nghiên cứu thế giới nghệ thuật là để tìm hiểu
quy luật của từng thể loại, sự sáng tạo của chủ thể, quan niệm về nghệ thuật,
cuộc sống, nhân sinh... của người nghệ sĩ.
Thơ trữ tình là biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của nhà thơ. Những
cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của thi sĩ thể hiện trong thế giới nghệ thuật
chính là những biểu hiện của cái tôi và các nguyên tắc thể hiện nó. Tìm hiểu
thế giới nghệ thuật thơ trữ tình là một cách đánh giá sáng tạo thơ ca từ góc độ
thi pháp. Đây là hướng tiếp cận có nhiều triển vọng mà tác giả khoá luận
mong muốn đóng góp vào quá trình nghiên cứu và giảng dạy.
1.2. Xuân Quỳnh là một nữ sĩ tài năng, có đóng góp quan trọng cho nền
thơ ca hiện đại của dân tộc. Từ lúc xuất hiện cho đến khi vĩnh biệt cuộc đời,
quá trình sáng tác thơ của Xuân Quỳnh là một chặng đường đi lên không bị
đứt đoạn. Hồn thơ Xuân Quỳnh ngày một đa dạng và không ngừng được mở
ra. Ngòi bút của Xuân Quỳnh đã được thử thách qua thời gian với nhiều loại
chủ đề khác nhau, trong đó có những bài thơ tình yêu đã đạt tới đỉnh cao. Thơ
Xuân Quỳnh không có mạch thơ nào thực sự bình yên, đơn giản mà thường
có nhiều trăn trở băn khoăn. Dù đi vào những vấn đề lớn của đất nước hay trở
về với những tình cảm riêng tư, thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất
riêng của một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, giàu yêu thương. Lại
Nguyên Ân từng nói: "Có lẽ từ thời Hồ Xuân Hương qua các chặng đường
phát triển, phải đến Xuân Quỳnh nền thơ ấy mới thấy lại được một nữ sĩ tài


riêng của một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, giàu yêu thương" [8,
246].
Bên cạnh những nhận định chung về thơ Xuân Quỳnh còn rất nhiều ý
kiến nhận xét cụ thể về cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh.
Mai Quốc Liên là người đã nhận thấy một cái tôi nhất quán trong các
sáng tác của Xuân Quỳnh: "… Chị là một trong những nhà thơ hàng đầu của
thời chúng ta đang sống, một nhà thơ lớn, một nhà thơ đã đi hết cái tôi của
mình một cách hồn nhiên, dung dị và sâu lắng" [17, 585].
Nguyễn Thị Bích Ngọc trong Thơ tình Xuân Quỳnh... đã đưa ra một
đánh giá vừa cụ thể lại vừa khái quát, rất sâu sắc, xác đáng: "Thơ Xuân Quỳnh
là tứ thơ tự biểu hiện và tình yêu chân chính là nơi tác giả bộc lộ mình một
cách chân thành, tha thiết, sâu lắng nhất" [4, 97]. "Xuân Quỳnh gần như trở
thành nhân vật chính của thơ mình" [4, 107].
Nhìn chung, qua những bài nghiên cứu đã có về thơ Xuân Quỳnh,
chúng tôi nhận thấy hầu hết đó là những bài viết về tác giả và thơ Xuân
Quỳnh nói chung, chưa có công trình nào nghiên cứu về Thế giới nghệ thuật
trong tập thơ Tự hát của Xuân Quỳnh. Kế thừa gợi ý của những nhà nghiên
cứu, chúng tôi tập trung tìm hiểu Thế giới nghệ thuật trong tập thơ Tự hát
với hy vọng đóng góp một phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu và tiếp tục khẳng
định sự nghiệp thơ ca của nữ sĩ Xuân Quỳnh.
3. Mục đích nghiên cứu
Khoá luận muốn cắt nghĩa, lí giải và tìm ra những nét đặc sắc về thế
giới nghệ thuật trong tập thơ Tự hát của Xuân Quỳnh . Qua đó, giúp bản thân
chúng tôi cũng như những người quan tâm có được cái nhìn toàn diện hơn về
đóng góp của Xuân Quỳnh đối với thơ ca hiện đại Việt Nam.

Nguyễn Thị Hồi

4


Khoá luận cũng góp một phần hình thành và phát triển kỹ năng nghiên
cứu khoa học đối với sinh viên Ngữ văn.

Nguyễn Thị Hồi

5

Lớp K33A – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

8. Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khoá
luận được chia thành 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề chung
Chương 2. Thế giới nghệ thuật trong tập thơ Tự hát của Xuân Quỳnh
Chương 3. Một số phương diện nghệ thuật góp phần thể hiện thế giới
nghệ thuật trong tập thơ Tự hát của Xuân Quỳnh.

Nguyễn Thị Hồi

6

Lớp K33A – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp đại học


7

Lớp K33A – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Đây là một khái niệm rộng, được triển khai với nhiều cấp độ, tuy còn ở
mức khái quát song khái niệm này sẽ là những gợi ý hết sức quý báu phù hợp
với nhiều luận điểm mà chúng tôi sẽ khai triển trong khoá luận.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên): Thế giới nghệ thuật là "một khái niệm chỉ
tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác
phẩm, một tác giả, một trào lưu). Sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng
được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật... Thế giới nghệ
thuật có thời gian, không gian riêng, có quy luật tâm lý, thang bậc giá trị
riêng trong việc phản ánh thế giới. Mỗi thế giới ứng với quan niệm, một cách
cắt nghĩa về thế giới" [5, 302 - 303].
Nghiên cứu cụ thể loại thơ trữ tình, trong cuốn Thơ trữ tình Việt Nam
1975 - 1990 (1998), Lê Lưu Oanh đã chi tiết hoá khái niệm này qua hình
tượng cái tôi trữ tình. Tác giả viết: "Gọi cái tôi trữ tình là một thế giới nghệ
thuật bởi thế giới nội cảm này là một thể thống nhất có ngôn ngữ và quy luật
riêng phụ thuộc vào lịch sử cá nhân, thời đại... Đi sâu vào thế giới nghệ thuật
được coi như một kênh giao tiếp với những mã số, ký hiệu, giọng nói, chương
trình riêng, cần có thao tác phù hợp. Thế giới nghệ thuật của cái tôi trữ tình
là một thế giới mang giá trị thẩm mĩ" [11, 33 - 35].
Cách hiểu của tác giả giúp chúng tôi định hướng cho mình một cách cụ

th cỏch lut... ng vi mi th loi l nhng th gii ngh thut riờng, hỡnh
thc t chc biu hin riờng.
Th tr tỡnh l mt th loi nm trong loi hỡnh tr tỡnh nờn th gii
ngh thut ca nú cng bao hm y cỏc cp ca th gii ngh thut núi
chung. Nhng cỏc cp , cỏc yu t ny mang mt hỡnh thc biu hin riờng.
Trong khuụn kh khoỏ lun, chỳng tụi i vo tỡm hiu mt s phng din c
bn ca th gii ngh thut th tr tỡnh nh: Hỡnh tng cỏi tụi tr tỡnh; Thi
gian v khụng gian ngh thut v mt s phng din ngh thut nh: Hỡnh
nh th, ging iu, ngụn ng ca tp th T hỏt.
1.3. Tỏc gi Xuõn Qunh
1.3.1. Cuc i
Xuân Quỳnh tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 - 10 -1942
tại xã La khê, huyện Hoài Đức, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc quận Hà Đông - Hà
Nội), trong một gia đình công chức. Xuân Quỳnh được thừa hưởng nhan sắc,

Nguyn Th Hi

9

Lp K33A Ng Vn


Khúa lun tt nghip i hc

Trng HSP H Ni 2

phẩm hạnh của người mẹ và tình yêu văn chương của người cha, nhưng cuộc
đời lại sớm chịu thiệt thòi vất vả.
Cất tiếng khóc chào đời tại làng nghề truyền thống, tiếng hát của những
người thợ dệt, thợ quay tơ, và cả tiếng thoi đưa đã in sâu trong tâm hồn Xuân



Khúa lun tt nghip i hc

Trng HSP H Ni 2

nước trên thế giới. Rồi được tham dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên
thế giới lần thứ 8 tại Helsinki (Phần Lan). Trong kì Đại hội đó, Xuân Quỳnh
được các bạn quốc tế tặng nhiều hoa nhất trong cuộc thi chọn người đẹp của
liên hoan. Sống trong môi trường nghệ thuật, Xuân Quỳnh cảm thấy rất hạnh
phúc, tự hào. Và cũng chính vào thời gian đó, năng khiếu thơ ca của Xuân
Quỳnh bắt đầu được bộc lộ. Xuân Quỳnh đã ghi chép lại cảm xúc của mình
lên trang giấy, những vần thơ mộc mạc thuở ban đầu đã báo hiệu một chồi
thơ xanh biếc. Vì say mê thơ, Xuân Quỳnh đã quyết định từ bỏ ánh đèn sân
khấu để chuyên tâm với sáng tác. Có thể nói, với Xuân Quỳnh, thơ đúng là sự
lên tiếng của thân phận, là cuộc sống thứ hai, vừa giúp giải thoát vừa bù đắp
cho tất cả những lo âu và khao khát. Thơ trở thành lẽ sống của Xuân Quỳnh.
Theo đuổi văn chương khi chỉ có vốn văn hoá lớp 6, có thơ đăng báo năm
19 tuổi, Xuân Quỳnh đã cần mẫn học tập trong suốt cuộc đời cầm bút. Sau khi
tốt nghiệp lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ khoá đầu tiên của Hội Nhà
văn Việt Nam (1962 - 1964), Xuân Quỳnh đã trải qua nhiều công việc khác
nhau: Làm việc tại báo Văn nghệ; báo Phụ nữ Việt Nam; là hội viên Hội Nhà
văn từ năm 1967; uỷ viên Ban chấp hành khoá III...
Phàm người tài hoa thường đa cảm, truân chuyên. Cuộc hôn nhân lần đầu
của Xuân Quỳnh với một nghệ sĩ Violon đã tan vỡ sau khi họ chuyển về khu
nhà 96 Phố Huế (Hà Nội) - cư xá dành riêng cho văn nghệ sĩ. Và rồi cũng
chính ở đó sau này Xuân Quỳnh đã gặp Lưu Quang Vũ - một cuộc gặp gỡ
định mệnh. Lưu Quang Vũ nhỏ hơn Xuân Quỳnh 6 tuổi và trước khi đến với
Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ đã từng lập gia đình với một diễn viên điện ảnh.
Năm 1973, Xuân Quỳnh tái hôn cùng Lưu Quang Vũ. Đó là thời điểm

song với nhau, 2 cái lớn, 1 cái bé. Bi kịch ập đến qúa khủng khiếp và đường
đột. Vậy là Con ong xanh đã bay về miền thanh thản của cõi hư vô, Bông
cúc nhỏ cánh đã rã rụng. Xuân Quỳnh đã ra đi khi tuổi đời và tài năng đang
vào độ chín và hứa hẹn những đóng góp to lớn cho nền thơ ca dân tộc hiện đại.
1.3.2. S nghip sỏng tỏc
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh là một tác giả nữ có
phong cách và bản sắc riêng khá rõ nét. Trải qua năm tháng sống và viết, yêu
thương và lao động nghệ thuật hết mình, Xuân Quỳnh đã để lại cho đời một di
sản văn học thật đáng quý. Ngòi bút của bà đã được thử thách qua thời gian
với nhiều thể loại chủ đề khác nhau. Trong đó có những bài thơ tình yêu đã
đạt tới đỉnh cao. Dù đi vào những vấn đề lớn của đất nước hay trở về với
những tình cảm riêng tư, thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất riêng
của một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo đầy nữ tính. Đọc những tác
phẩm của Xuân Quỳnh, chúng ta hình dung được bà đã sống ra sao, đã yêu

Nguyn Th Hi

12

Lp K33A Ng Vn


Khúa lun tt nghip i hc

Trng HSP H Ni 2

thương day dứt những gì? Lấy sự chân thực làm điểm tựa cho cảm xúc sáng
tạo của mình, các sáng tác của Xuân Quỳnh chính là đời sống của bà, là
những tâm trạng thật của bà trong mỗi bước vui buồn của đời sống.
Thơ:


Khúa lun tt nghip i hc

Trng HSP H Ni 2

như một bối cảnh cho tâm trạng. Thơ Xuân Quỳnh hướng nội, rất tâm trạng cá
nhân nhưng không phải là thứ tháp ngà xa rời đời sống. Thơ Xuân Quỳnh là
đời sống đích thực, đời sống của bà trong những năm đất nước còn chia cắt,
còn chiến tranh, còn nghèo, còn gian khổ, là những lo toan con cái, cơm nước,
cửa nhà của một người phụ nữ, người phụ nữ làm thơ thường ngược xuôi trên
mọi ngả đường bom đạn. Xuân Quỳnh không cầu kì chế tạo ra câu chữ mà
viết như kể lại những gì bà đã sống, đã trải. Nét riêng của Xuân Quỳnh so với
thế hệ nhà thơ hiện đại cùng thời chính là ở khía cạnh nội tâm đó. Thời ấy
nhiều bài thơ thiên về phản ánh sự kiện, cốt để được việc cho đời, còn tâm
trạng của tác giả thường là tâm trạng chung của xã hội, vui buồn của tác giả
hoà trong vui buồn chung của công dân. Tâm trạng thơ Xuân Quỳnh là tâm
trạng nảy sinh từ đời sống và hoàn cảnh của riêng bà. Viết trên đường 20 của
Xuân Quỳnh là bài thơ chiến tranh nhưng lại mang nỗi lòng trăn trở xao xác
của một người đang yêu. Có bài bề bộn chi tiết hiện thực như một kí sự.
Những năm ấy, đúng là kí sự về đời sống Hà Nội những năm chống Mỹ,
nhưng nó không thành kí mà vẫn là thơ do nỗi lòng riêng của tác giả đã tạo
nên một mạch trữ tình xâu chuỗi các chi tiết rời rạc của ngày thường lại, tổ
chức nó thành kết cấu của bài thơ. Xuân Quỳnh có tài toả lên các chi tiết ngẫu
nhiên quan sát được từ đời sống một từ trường cảm xúc của nội tâm mình,
biến các chi tiết đời trở nên thơ, có sức gợi, sức ám ảnh kỳ lạ (Trời trở rét,
Không đề, Gió Lào cát trắng, Mùa hoa doi, Hoa cỏ may)
Thơ Xuân Quỳnh giàu tình cảm, tình cảm sâu và tinh tế nhưng lẩn
khuất phía sau tình cảm ấy lại là tư tưởng có tính khái quát, triết lý (Cơn mưa
không phải của mình, Đồi đá ong và cây bạch đàn, Chuyện cổ tích về loài
người, Những người mẹ không có lỗi). Đấy là những triết lý nảy sinh từ

Trung, nhà thơ tự nguyện: Tôi sẵn lòng đem hiến cả đời tôi ; Cho cát trắng
và gió Lào quạt lửa.
So với các cây bút trẻ cùng thời, thơ viết về chiến tranh của Xuân
Quỳnh không có cái gân guốc, bề bộn như Nguyễn Đức Mậu, cái phóng túng,
tài hoa như Phạm Tiến Duật, cái triết lí sâu đắm như Nguyễn Duy, Thanh
Thảo, Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh cảm nhận chiến tranh bằng con
mắt một người phụ nữ, một người mẹ trẻ tha thiết với sự sống yên bình, xót xa
trước những mất mát:
Bãi cát bỏng ngọn gió Lào hung dữ
Vết chân trẻ em làm đau nỗi nhớ.
(Nhng nm y)

Nguyn Th Hi

15

Lp K33A Ng Vn


Khúa lun tt nghip i hc

Trng HSP H Ni 2

Cột cháy đen, đau giọng hát trẻ em
Chiếc giầy xinh bên cạnh mảnh bom.
(Lng)
Mặt đất dọc ngang xẻ những chiến hào
Lời mẹ ru không chỉ ngọt ngào
Cái bống ngủ ngon, cánh cò bay mãi
Bởi khi bay cánh cò đã gẫy


Trng HSP H Ni 2

của một cái tôi cá nhân đích thực, mang bản chất tự nhiên thuần hậu, khao
khát hướng tới hạnh phúc làm vợ, làm mẹ. Khi yêu người phụ nữ ấy không
ngần ngại bày tỏ nỗi đam mê giông bão:
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức.
(Súng)
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau rạn vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố.
(Thuyn v bin)
Và không chỉ có đam mê, qua thơ tình, Xuân Quỳnh cũng hiện diện
như một cái tôi tự ý thức, vừa chủ động trên hành trình kiếm tìm hạnh phúc,
vừa khắc khoải về cõi nhân sinh hữu hạn:
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua.
(Súng)
Bản năng làm mẹ, phẩm tính người mẹ và sự hóm hỉnh đã đem lại cho
Xuân Quỳnh những vần thơ thật trìu mến, trong trẻo về trẻ thơ. Chùm thơ
xuân cho ba con nhỏ, Chuyện cổ tích về loài người là sự hoà đồng giữa
cái tôi bản thể với tuổi thơ thánh thiện, là nghệ thuật làm mẹ qua ngòi bút
Xuân Quỳnh. Chính mạch cảm hứng thế sự, đời tư này rồi sẽ thành dòng chảy
chính trong thơ Xuân Quỳnh và trong cả nền thơ ca nước ta giai đoạn sau

yêu thơ.
Xuân Quỳnh đã nhận được nhiều giải thưởng lớn như:
- Giải thưởng văn học năm 1982 - 1983 của Hội Nhà văn Việt Nam cho
tập thơ thiếu nhi Bầu trời trong quả trứng.
- Giải thưởng văn học năm 1989 - 1990 của Hội Nhà văn Việt Nam cho
tập thơ Hoa cỏ may.
- Giải thưởng của Trung ương Đoàn TNCSHCM.
- Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.

Nguyn Th Hi

18

Lp K33A Ng Vn


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

1.4. Vị trí tập thơ Tự hát của Xuân Quỳnh trong đời sống văn học Việt
Nam đương đại.
Khoảng năm 1962 - 1963, thơ Xuân Quỳnh xuất hiện trên mặt báo. Một
trong những bài thơ đầu tiên là bài Chồi biếc và đây cũng là tên tập thơ đầu
tay của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Tập thơ mang cái nhìn trong trẻo, trẻ trung, có khi
bồng bột nhưng rất đằm thắm chân thành trước cuộc đời, nhất là những xúc
cảm về tình yêu:
Dưới hai hàng cây
Tay ấm trong tay
Cùng anh sóng bước

30/4/1984, np lu chiu thỏng 9/1984, gm 35 bi th, hu ht l nhng bi
th tỡnh yờu. ú l tỡnh yờu rt p v trong sỏng. Dự cú gian truõn cỏch tr
nhng bao gi cng trn vn, cng n c tn cựng hnh phỳc nh con
sụng nh n vi b xa:
Ting yờu t nhng ngy xa
Tri bao cay ng vn l vn nguyờn
(Nhng nm thỏng khụng yờn)
Nhiu bi th trong T hỏt cú mt trong hu ht gia ti th ca nhng
ụi la yờu nhau: T hỏt, Ch cú súng v em, Bn tay em, Th tỡnh cui
mựa thu, Lai lch mt tỡnh yờu... Xuõn Qunh, tỡnh yờu khụng bao gi n
thun ch l tỡnh yờu, nú cũn tng trng cho cỏi p, cỏi tt, cỏi cao quý ca
con ngi, tng trng cho nim khỏt khao c t hon thin mỡnh.
Có thể nói chỉ riêng với T hỏt, Xuân Quỳnh đã trở thành gương mặt
quen thuộc với bạn đọc và giới nghiên cứu Văn học Việt Nam đương i . Mi
bi th trong tp th ging nh nt nhc ngõn rung, lm thn thc tt c
nhng trỏi tim ang yờu, ó yờu v s yờu. ng thi tp th cng mang li
cho th ca Vit Nam ng i mt din mo mi ca thi k i mi vn
hc. T hỏt ca Xuõn Qunh cựng vi nh trng ca Nguyn Duy v mt s
tp truyn ca Nguyn Minh Chõu, Ma Vn Khỏng... c coi l nhng bng
chng vn hc ang c gng vt lờn, ang t iu chnh cho ỳng hng.
Sau Giú Lo cỏt trng v Sõn ga chiu em i, T hỏt ra i thờm mt na
khng nh s cng ci ca Xuõn Qunh. Th Xuõn Qunh c quan tõm
nhiu hn, cỏc bi vit cng phm vi rng v sõu hn.

Nguyn Th Hi

20

Lp K33A Ng Vn


người khác.

Nguyễn Thị Hồi

21

Lớp K33A – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trong thực tế mỗi thời kỳ văn học, thể loại văn học, mỗi tác phẩm văn
học biểu hiện cái tôi trữ tình khác nhau. Trong văn học lãng mạn nổi bật là cái
tôi cô đơn sầu muộn, khát khao giao cảm với đời, với người. Thể hiện cái tôi
chung này mỗi nhà thơ lại có một cái tôi riêng: Lưu Trọng Lư "triền miên sầu
mộng", Thế Lữ "ôm mộng chinh phu", Xuân Diệu "cô đơn", Huy Cận "hoài
vọng xa xăm". Trong thơ cách mạng chủ yếu là cái tôi sử thi. Tố Hữu nổi bật
với cái tôi thuỷ chung, nghĩa tình. Chế Lan Viên nổi bật với cái tôi suy ngẫm,
triết lí. Thơ ca từ sau 1980 nghiêng về cái tôi thế sự với các tên tuổi như
Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh... Dù ở dạng nào thì cái tôi trữ tình
vẫn chính là hình tượng nhân vật trữ tình - một yếu tố quan trọng nhất ở cấp
độ hình tượng trong cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm trữ tình.
Cái tôi trữ tình trong tập thơ Tự hát nói riêng và thơ Xuân Quỳnh nói
chung là cái tôi được xây cất bởi những mảnh trạng thái tâm hồn đầy mâu
thuẫn của một trái tim đa cảm và tinh tế. Cũng có lúc cái tôi ấy tự tách mình,
phân lập mình thành những thái cực khác nhau để tự mổ xẻ, để thấu lý đạt
tình sự vật hiện tượng và đặc biệt là để nhận ra chính con người mình. Bởi thế
những va động từ thế giới bên ngoài luôn được nhà thơ lý giải trong mối

Tâm lí học nữ giới chỉ ra rằng nữ giới thuộc loại hình tâm lí tình cảm,
mạnh về trực giác và rất nhạy cảm. Đọc thơ Xuân Quỳnh, có cảm giác bất cứ
một biến thái nào từ phía người yêu, dù nhỏ nhặt, mơ hồ cũng lập tức tác
động tới trái tim nhạy cảm đến mức dễ bị tổn thương của nữ sĩ:
Em lo âu trước xa tắp đường mình
Trái tim đập những điều không thể nói
Trái tim đập cồn cào cơn đói
Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn
(Tự hát)
Tập thơ Tự hát cho thấy Xuân Quỳnh có một tâm hồn nhạy cảm, đôn
hậu và có những tình cảm yêu thương sâu kín. Đây là một biểu hiện nổi bật
cho cái tôi giàu vẻ đẹp nữ tính của Xuân Quỳnh. Nói như Lưu Khánh Thơ thì:
"Dù đi vào những vấn đề lớn của đất nước hay trở về với những tình cảm
riêng tư thì thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất riêng của một tâm
hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, đầy nữ tính" [8, 246]. Với tâm hồn nhạy cảm
đó, Xuân Quỳnh cảm nhận được tình yêu quả là một cái gì đó thật mong
manh, dễ đổ vỡ trong cuộc đời thường đầy biến động:

Nguyễn Thị Hồi

23

Lớp K33A – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn


Lớp K33A – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Nên cả lúc gần anh
Mà lòng em vẫn nhớ.
(Con tàu)
Một khía cạnh khác của hình tượng cái tôi giàu vẻ đẹp nữ tính trong tập
thơ Tự hát của Xuân Quỳnh đó chính là khuynh hướng đồng nhất mình với
khung cảnh, sự vật, hoà mình vào thiên nhiên bao la vô tận. Điều này làm cho
thơ Xuân Quỳnh vừa giản dị, tự nhiên, vừa rất hiện đại. Không phải lí lẽ sắc
sảo, lí trí rành mạch, mà chính cái sáng suốt của trực cảm, linh cảm dẫn lối
cho tác giả đi tìm cảm xúc thơ ca, nắm bắt hình ảnh và những vần thơ chân
thành ấy, chinh phục người đọc bằng sức mạnh nội tâm đầy bản năng nữ tính.
Tình yêu với Xuân Quỳnh, dường như đã biến người đàn bà "thô vụng" thành
người phụ nữ tinh tế:
Em xin hát tiếp lời ca
Ru anh sau những lo âu nhọc nhằn.
(Mẹ của anh)
Tự hát còn cho thấy vẻ đẹp của một cái tôi rất đằm thắm khiêm
nhường. Mặc dù sự đằm thắm khiêm nhường là bản chất của người phụ nữ,
nhưng ở Xuân Quỳnh ta thấy nét tính cách này của bà dường như hơn hẳn tất
cả những người phụ nữ bình thường. Cũng bởi vậy, vẻ đẹp nữ tính trong thơ
bà bao giờ cũng trở thành đặc điểm nổi bật nhất khi tìm hiểu về hình tượng
cái tôi trữ tình. Cái tôi ấy muốn trở thành hạt bụi, ngọn cỏ bên người mình
yêu:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status