đặc điểm hư từ hán việt trong tiếng việt” (có đối chiếu với hư từ thuần việt, hư từ tiếng hán cổ đại và hiện đại tóm tắt luận án đỗ phương lâm (tiếng việt) - Pdf 22

1
Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội –
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. Nguyễn Văn Khang
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp học viện tại:
Học viện Khoa học Xã hội vào lúc giờ , ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập (từ không biến đổi
hình thái khi thay đổi chức năng cú pháp), phương tiện ngữ pháp chủ yếu
dựa vào phương thức trật tự từ và hư từ. "Gánh nặng" thể hiện các quan hệ
ngữ pháp trong tiếng Việt lại càng đặt lên hệ thống hư từ. Nghiên cứu hư
từ rất hữu ích đối với việc làm sáng tỏ những vấn đề về từ vựng và ngữ
pháp của tiếng Việt.
1.2. Thông thường, vay mượn từ ngữ giữa các ngôn ngữ chủ yếu diễn
ra ở bộ phận thực từ. Tuy nhiên, tiếng Việt lại vay mượn một số lượng khá
lớn hư từ gốc Hán. Tính chất ngoại lai của hư từ Hán Việt còn khiến cho
người sử dụng gặp khó khăn. Hiện tượng nói sai, viết sai ngữ pháp do hệ
thống hư từ Hán Việt còn khá phổ biến.
1.3. Phần lớn hư từ tiếng Việt có nguồn gốc tiếng Hán. Ngay cả
những hư từ trong các văn bản tiếng Việt cổ như: mựa, sá, tua, khắng,
huống, đối (với), bui, chỉn, cái, chiếc, nhé, v.v. cũng được vay mượn từ
tiếng Hán. Vì thế, “nghiên cứu sự xuất hiện các hư từ và xác định được
tương đối chính xác thời điểm xuất hiện của nó có thể làm chỗ dựa để
nghiên cứu về trình độ diễn đạt và phát triển của ngôn ngữ.” “Tìm hiểu lai

để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt; Nguyễn
Văn Chính (2000) với luận án tiến sĩ Vai trò của hư từ tiếng Việt trong
việc hình thành thông báo phát ngôn; Phùng Thị Thanh Lâm (2003) với
Khả năng hoạt động của các phó từ chỉ thời thể tiếng Việt trong các sự
tình hậu cảnh [48]; Vũ Thị Kim Anh (2005) với Vai trò của các tiểu từ
tình thái cuối câu trong việc hình thành hiệu lực tại lời của phát ngôn, v.v.
3
Ngoài ra, có những nghiên cứu hướng tới việc ứng dụng, trong đó rất
hữu ích là việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Đối với việc học
ngoại ngữ, muốn hiểu được ngữ pháp của một ngôn ngữ thì việc nắm bắt
được hệ thống hư từ là rất quan trọng. Có thể kể một vài công trình như:
Tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt và việc dạy tiểu từ tính thái cuối câu
tiếng Việt cho người nước ngoài (Lê Thị Hoài Dương, 2003); Kết từ tiếng
Việt trong một số sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và vấn đề
giảng dạy kết từ cho người nước ngoài (Nguyễn Thị Thanh Ngọc, 2004)
Một số công trình lại là những nghiên cứu chuyên sâu về một tiểu
loại hư từ. Phạm Hùng Việt (1996) với luận án tiến sĩ Một số đặc điểm
chức năng của trợ từ tiếng Việt hiện đại. Luận án này về sau (2003) được
tác giả phát triển thành cuốn sách Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại. Tác giả
đã đưa ra những tiêu chí để nhận diện trợ từ tiếng Việt, một từ loại rất
phức tạp và dễ nhầm lẫn với phó từ. Vũ Đức Nghiệu (1985, 2000) với một
số bài viết: “Một số cứ liệu về lớp hư từ trong Quốc âm thi tập và Hồng
Đức Quốc âm thi tập thế kỉ XV”, “Hư từ trong bản giải âm Truyền kì mạn
lục”, v.v. lại chú ý nghiên cứu về hư từ trong một văn bản cụ thể. Bùi
Thanh Hoa (2012) trong luận án “Đồng nghĩa của hư từ” đã nhấn mạnh
hư từ có nghĩa và cho rằng “hư từ không phải là đơn vị trống nghĩa hay chỉ
thuần túy mang nghĩa ngữ pháp”. Từ đó tác giả xếp các hư từ về 36 nhóm
hư từ đồng nghĩa với nhau.
2.2. Nghiên cứu hư từ Hán Việt
Các học giả: A. de Rhodes (1651), Trương Vĩnh Kí (1889), Huỳnh

từ, trợ từ trong khi khảo sát. Đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia
“Khảo sát đặc điểm hư từ có nguồn gốc tiếng Hán trong tiếng Việt hiện
5
đại” do Đào Thanh Lan chủ trì (2007). Trong chuyên luận này, các tác giả
đã khảo sát 13 đầu sách để lập danh sách các hư từ gốc Hán trong tiếng
Việt, bao gồm các hư từ Hán Việt: 46 phó từ, 22 liên từ, 7 giới từ và các
hư từ Hán Việt Việt hóa: 5 phó từ, 8 liên từ, 3 giới từ. Vũ Đức Nghiệu
(2006) trong bài viết “Hư từ tiếng Việt thế kỉ XV trong Quốc âm thi tập và
HĐ” đã lập một danh sách 135 hư từ các loại có mặt trong tiếng Việt vào
thế kỉ XV.
Kể trên, các công trình đều có phạm vi rộng là nghiên cứu hư từ gốc
Hán nói chung chứ không phải nghiên cứu riêng về hư từ Hán Việt.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu các đặc điểm ngữ pháp-ngữ nghĩa và đặc điểm
sử dụng của hư từ Hán Việt, luận án góp phần vào nghiên cứu vấn đề hư từ
nói chung, hư từ trong tiếng Việt nói riêng; góp phần nghiên cứu tiếp xúc
song ngữ Hán - Việt và hiện tượng từ mượn Hán trong tiếng Việt; nghiên
cứu quá trình ảnh hưởng của ngữ pháp tiếng Hán đối với tiếng Việt thông
qua hệ thống hư từ; nghiên cứu những biến đổi và xu hướng vận động của
hư từ Hán Việt trong quá trình hoạt động trong tiếng Việt.
Từ mục đích nêu trên, luận án đề ra một số nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài luận án.
- Xác định khái niệm hư từ Hán Việt và xác lập một danh sách hư từ
Hán Việt
- Khảo sát, nghiên cứu đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của hư từ Hán
Việt.
- Khảo sát, nghiên cứu đặc điểm sử dụng của hư từ Hán Việt.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng và phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong
đó, có một số phương pháp cơ bản sau:

từ Hán Việt. Thông qua việc nghiên cứu các đặc điểm về ngữ pháp của các
tiểu loại hư từ, luận án đưa ra quan điểm trong cách phân định phó từ và
trợ từ tiếng Việt. Bằng cách khái quát nên các quy tắc kết hợp của phó từ,
luận án cho thấy phương pháp phân biệt phó từ với trợ từ. Tiếng Việt có
hàng loạt các từ nằm giữa ranh giới của hai từ loại phó từ và trợ từ do ý
nghĩa tình thái của chúng. Căn cứ vào vị trí của chúng trong câu mà ý
nghĩa từ loại của chúng mới được định hình.
- Miêu tả các đặc điểm về ngữ pháp và ngữ dụng của hư từ Hán Việt.
+ Ý nghĩa thực tiễn:
Từ kết quả nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng vào việc:
- Làm cơ sở khoa học cho các công trình nghiên cứu có liên quan về
ngữ pháp và từ vựng tiếng Việt.
- Biên soạn giáo trình dạy hư từ Hán Việt cho người nước ngoài.
- Biên soạn từ điển hư từ Hán Việt.
7. Bố cục của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Luận án có bố cục 3 chương, bao
gồm:
Chương 1. Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2. Đặc điểm ngữ pháp-ngữ nghĩa của hư từ Hán Việt
Chương 3. Đặc điểm sử dụng của hư từ Hán Việt
8
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HƯ TỪ
1.1.1. Hư từ và phân loại hư từ trong ngôn ngữ học đại cương
Vấn đề phân loại thực từ - hư từ là một vấn đề hết sức phức tạp của
ngôn ngữ học, vốn có nguồn gốc từ trong ngữ pháp các ngôn ngữ Ấn Âu. Hư
từ (grammatical words/ synsemantic words/ structure-class words/ function
words/ 虚詞 ) được đặt trong thế đối lập với thực từ (content words/ open
class words/ lexical words/ autosemantic words/ notion words/ 虚 容 虚 ).
Thực từ có giá trị biểu đạt ý nghĩa từ vựng; hư từ có giá trị thể hiện các quan

nhóm
Hư từ
Từ loại trung
gian
Nguyễn Tài
Cẩn
- đoản ngữ 3 phó từ, quan hệ từ, trợ từ thán từ
Ủy ban
KHXH
- ý nghĩa khái quát
- chức vụ cú pháp
2
phụ từ
kết từ
đại từ
trợ từ, cảm từ
Đinh Văn
Đức
- ý nghĩa khái quát
- khả năng kết hợp
- chức vụ cú pháp
2
từ phụ
quan hệ từ
tình thái từ
(tiểu từ, trợ
từ, thán từ)
Nguyễn Anh
Quế
- tổ chức đoản ngữ

10 lượng từ, số từ, định từ,
chỉ từ, phó từ, liên từ, giới
từ, từ tình thái (trợ từ, tiểu
10
Tác giả Tiêu chí phân loại
Số
nhóm
Hư từ
Từ loại trung
gian
từ, thán từ)
Diệp Quang
Ban
- ý nghĩa khái quát
- khả năng kết hợp
- chức vụ cú pháp
6
mạo từ, phó từ, quan hệ
từ, tiểu từ tình thái (ngữ
thái từ, trợ từ), thán từ
đại từ (trong
đó có chỉ định
từ)
Đào Thanh
Lan
- ý nghĩa khái quát
- khả năng kết hợp
- chức vụ cú pháp
4
phụ từ (định từ, phó từ)

THỰC TỪ
Bước 2
(dựa vào cấu trúc đoản ngữ)
Bước 3
(dựa vào chức vụ cú pháp)
1.2. HƯ TỪ HÁN VIỆT
1.2.1. Tiếp xúc song ngữ Hán-Việt và vay mượn từ Hán trong
tiếng Việt
1.2.1.1. Tiếp xúc ngôn ngữ
Tiếp xúc ngôn ngữ (language contact) là hiện tượng phổ biến đối với
mọi ngôn ngữ trên thế giới. Vay mượn từ vựng là hệ quả của sự ảnh hưởng
lẫn nhau giữa các ngôn ngữ trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ.
1.2.1.2. Vay mượn từ vựng
“Vay mượn từ vựng là một trong những phương thức quan trọng để
bổ sung cho vốn từ vựng của một ngôn ngữ.” Từ vựng vay mượn từ các
ngôn ngữ khác được gọi là “từ ngoại lai”.
1.2.1.3. Từ ngoại lai
1.2.1.4. Phân kì quá trình tiếp xúc Hán-Việt
Hình 1.2. Biểu diễn các giai đoạn tiếp xúc Hán-Việt
1.2.2. Từ Hán Việt
1.2.2.1. Cách đọc Hán Việt
Cách đọc Hán Việt là sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với
tiếng Hán và nền văn tự Hán xảy ra vào đời Đường, theo hệ thống ngữ âm
tiếng Hán mà cụ thể là hệ thống Đường âm (khoảng thế kỉ VIII-X).
1.2.2.2. Khái niệm từ Hán Việt
12
Công
nguyên
TK X TK XV TK XX
Cọ xát trực tiếp

ngôn ngữ” để xác định một từ có phải là từ Hán Việt hay không.
- Bất kể nguồn gốc của từ: vay mượn trực tiếp, gián tiếp hay Việt tạo,
chúng đều được coi là từ Hán Việt.
- Mặc dù một số từ Hán Việt có các biến thể về ngữ âm, nhưng trong
trường các biến thể ấy được sử dụng trong các văn bản tiếng Việt và phân
biệt với nhau thì chúng đều được coi là từ Hán Việt.
13
TỪ HÁN VIỆT
VIỆT TẠO
bác sĩ, tin tặc
GỐC KHÁC
chủ nghĩa, dân chủ
GỐC HÁN
quốc gia, đạo đức
Chúng tôi quan niệm từ Hán Việt là từ có âm đọc Hán Việt, hoạt
động trong các văn bản tiếng Việt, được vay mượn trực tiếp hay gián tiếp
từ tiếng Hán hoặc do người Việt tự tạo trên cơ sở ghép các yếu tố gốc Hán
Việt.
1.2.3. Hư từ Hán Việt
1.2.3.1. Quan niệm về hư từ Hán Việt
Chúng tôi loại trừ khỏi danh sách những hư từ gốc Hán có cách đọc
Hán cổ hoặc Hán Việt Việt hóa, chẳng hạn: đang (đương), cùng (cộng),
càng (cánh), dầu, dù (do), v.v. Đồng thời không khảo sát các biến thể
phương ngữ của âm Hán Việt, như: phúc-phước, vũ-võ, v.v. Chúng tôi
chấp nhận các biến thể âm Hán Việt của cùng một Hán tự, như:
giá/giả;v.v.
1.2.3.2. Danh sách và phân loại hư từ Hán Việt
Dựa theo các tiêu chí phân định hư từ Hán Việt ở trên, chúng tôi đã
lập danh sách 149 từ, chia làm 3 tiểu loại: phó từ (71 từ), quan hệ từ (36
từ), trợ từ (41 từ).

quan hệ từ)
2.2. ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP-NGỮ NGHĨA CỦA HƯ TỪ HÁN VIỆT
2.2.1. Phó từ Hán Việt
2.2.1.1. Phó từ số lượng
15
Tiếng Việt có 12 phó từ số lượng, gồm: các, cái, mấy, mỗi, độ, độ
chừng, tất cả, những; từng, mọi (Nguyễn Tài Cẩn coi là số từ); gần,
khoảng, trong đó có 3 từ Hán Việt (các, mỗi, độ), chiếm 25%.
2.2.1.2. Phó từ phủ định
Vô, phi, bất vốn là những phó từ phủ định của tiếng Hán du nhập vào
tiếng Việt từ rất sớm. Chúng được dùng khá phổ biến trong các văn bản
giai đoạn thế kỉ XIV-XVIII. Khi vào tiếng Việt, chúng đã có sự “phân
công” chức năng khá rõ ràng. Trong đó vô (không có), phi (không phải):
phủ định cho danh từ; bất (không làm): phủ định cho động từ, tính từ.
2.2.1.3. Phó từ thời gian
Phó từ thời gian diễn giải sự diễn ra hay tiếp biến của vị từ trong quá
trình. Phó từ thời gian chia làm thời gian thời điểm và thời gian quá trình.
Cũng có thể phân loại phó từ thời gian theo trục quá khứ - hiện tại-tương
lai.
2.2.1.4. Phó từ chỉ diễn biến bất ngờ
Nhóm này bao gồm 8 phó từ Hán Việt: đột nhiên, đột ngột, hốt nhiên,
bất đồ, bất giác, lập tức, tức khắc, tức thời.
2.2.1.5. Phó từ tần suất
+ Diễn đạt tần suất thấp: tạm thời, hy hữu, nhất thời
+ Diễn đạt sự lặp lại: tái. Tái tương đương với phó từ lại (từ thuần
Việt). Tuy vậy, cách dùng của hai từ này có sự phân biệt rõ:
+ Diễn đạt tần suất cao: thường, thường thường, thường xuyên, thường
nhật, hằng, liên tục
2.2.1.6. Phó từ mức độ
Phó từ chỉ mức độ là những từ kết hợp với các tính từ, động từ để

17
Nhóm này bao gồm 8 từ: giá, giá như, nhược, quý hồ, giá dụ/ giả dụ,
giá sử/ giả sử, giá thử/ giả thử, ví thử.
2.2.2.3. Nhóm liên từ biểu thị nguyên nhân, lí do: tại, sở dĩ, do, động
2.2.2.4. Nhóm quan hệ từ biểu thị quan hệ thuận tiếp
2.2.2.5. Nhóm liên từ biểu thị quan hệ nghịch tiếp
2.2.2.6. Nhóm liên từ biểu thị định vị (đầu-cuối): tự, chí
2.2.2.7. Liên từ biểu thị quan hệ loại trừ
2.2.3. Trợ từ Hán Việt
2.2.3.1. Khái quát về trợ từ Hán Việt
- Nhóm đánh giá: “có chức năng thể hiện sự đánh giá của người nói về
mặt số lượng, mức độ đối với một phần của nội dung được nêu trong phát
ngôn.” Nhóm này bao gồm 10 từ, chiếm 24% trợ từ Hán Việt.
- Nhóm nhấn mạnh: “có chức năng thể hiện sự nhấn mạnh đặc biệt của
người nói vào ý khẳng định hay phủ định đối với một phần nội dung được
nêu trong phát ngôn.” Nhóm này bao gồm 31 từ, chiếm 76% trợ từ Hán
Việt.
2.2.3.2. Nhóm trợ từ đánh giá số lượng, phạm vi
Đánh giá về số lượng cũng có thể phân tích theo hai chiều: đánh giá (-)
và đánh giá (+). Trong số các trợ từ đánh giá về số lượng của tiếng Việt,
chúng tôi nhận thấy dường như có một sự phân công rõ rệt: trợ từ Hán Việt
biểu thị chiều đánh giá (-): chỉ, độc, mỗi, trần; trợ từ thuần Việt biểu thị
chiều đánh giá (+): đến, những, tới, cả, hẳn. Tùy theo cách sử dụng, việc
thêm trợ từ vào trong các phát ngôn sẽ làm cho ý nghĩa đánh giá về số lượng
của trợ từ sẽ có thêm những sắc thái riêng.
2.2.3.3. Nhóm trợ từ đánh giá mức độ: đặc, thậm chí
2.2.3.4. Nhóm trợ từ đánh giá phỏng đoán
18
Nhóm gồm 3 trợ từ: hình như, cơ hồ, tưởng như. Trong đó, hình như
thông dụng hơn, cơ hồ và tưởng như ít dùng. Cũng có một số quan điểm

từ phủ định: vô, phi, bất. Các hư từ bị “hình vị hóa” thường làm thành tố
phụ trước trong các từ ghép. Thống kê cho thấy có 11 hư từ có khả năng
hình vị hóa, trong đó 9 từ là phó từ. Nhóm này chia thành 2 loại: những từ
đã bị “hình vị hóa” hoàn toàn, như vô, phi, bất và những từ “hình vị hóa”
không hoàn toàn, như: nguyên ~, hiện ~, đương ~, toàn ~, v.v.
3.1.2. Hiện tượng chuyển loại trong hư từ Hán Việt
Từ chuyển loại là một đặc điểm vô cùng phức tạp của tiếng Việt. Do
hiện tượng chuyển loại từ tiếng Việt rất phổ biến và ở nhiều trường hợp rất
khó nhận biết và xác định, nên việc xếp một từ nào đó về một từ loại là rất
khó khăn. Đây là một công việc không đòi hỏi sự rạch ròi, khuôn cứng và
không có tính cố định.
Đối với hư từ Hán Việt mà nói, sự chuyển loại từ chủ yếu diễn ra xung
quanh phó từ và trợ từ.
3.1.2.1. Hiện tượng chuyển loại của phó từ Hán Việt
Có tổng số 24/41 (59%) phó từ Hán Việt có sự chuyển loại. Hiện
tượng chuyển loại diễn ra chủ yếu ở một số nhóm phó từ: phó từ tần suất,
phó từ mức độ, phó từ phạm vi.
3.1.2.2. Hiện tượng chuyển loại của quan hệ từ Hán Việt
Số quan hệ từ Hán Việt có sự chuyển loại không nhiều, chỉ có 7/36 từ
(19%).
3.1.2.3. Hiện tượng chuyển loại của trợ từ Hán Việt
20
Trong phạm vi trợ từ, có cả thảy 14/41 (34%) đơn vị có sự chuyển loại
qua lại giữa các nhóm từ loại với trợ từ. Như vậy so với phó từ và quan hệ
từ Hán Việt, trợ từ có số lượng từ chuyển loại cao nhất. Trong đó, hầu hết
là các trợ từ chuyển loại thành tính từ, có khả năng đảm nhiệm các vai trò
cú pháp ở trong các ngữ cảnh khác. Đó là các trợ từ kiêm tính từ như: dĩ
nhiên, đương nhiên, hiển nhiên, ngẫu nhiên, tất nhiên, nhất định. Theo
chiều ngược lại là các thực từ qua quá trình hư hóa đã được dùng như trợ
từ trong câu.

chưa có mặt trong từ điển tiếng Việt với tư cách là hư từ. Chúng đều là
những thực từ chuyển loại thành hư từ. Đó là các trường hợp: phó từ:
chúa, chuyên môn, chuyên trị; liên từ: động; trợ từ: đặc, độc, trần.
3.1.5. Khảo sát mức độ sử dụng hư từ Hán Việt
3.1.5.1. Thống kê số lượng hư từ Hán Việt qua các thời kỳ
Kết quả thống kê cho thấy, số lượng hư từ Hán Việt từ trước thế kỉ XV
đến nay đã tăng lên gấp gần 10 lần. Trong đó, chỉ trong khoảng một thế kỉ trở
lại đây, số lượng hư từ Hán Việt trong tiếng Việt đã phát triển rất mạnh mẽ.
Đó là do yêu cầu biểu đạt chính xác, nhu cầu truyền tải lượng thông tin của
xã hội hiện đại. Điều này cũng chứng tỏ sự thay đổi rất rõ rệt của ngữ pháp
tiếng Việt theo hướng hoàn thiện hơn.
3.1.5.2. Đánh giá phạm vi sử dụng hư từ Hán Việt
Hư từ Hán Việt có số lượng từ và tần suất hoạt động lớn nhất ở phong
cách văn chương và thấp nhất ở phong cách hành chính. Ở phong cách
thông tấn, khoa học và hành chính, trợ từ và quan hệ từ chiếm tỉ lệ cao,
phó từ chiếm tỉ lệ rất thấp.
22
3.2. KHẢO SÁT TRƯỜNG HỢP: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CỦA
MỘT SỐ HƯ TỪ HÁN VIỆT THƯỜNG DÙNG
3.2.1. Một số nhóm phó từ thường dùng
3.2.1.1. Nhóm phó từ số lượng: các, mỗi
3.2.1.2. Nhóm phó từ phủ định: vô, phi, bất, cấm
3.2.1.3. Nhóm phó từ thời gian: nguyên, hiện, đương, chuẩn bị
3.2.1.4. Nhóm phó từ mức độ
3.2.2. Một số nhóm quan hệ từ thường dùng
3.2.2.1. Nhóm quan hệ từ biểu thị so sánh
3.2.2.2. Nhóm liên từ biểu thị quan hệ giả thiết: giá, giá như
3.2.2.3. Nhóm giới từ định vị: tại - ở
3.2.2.4. Nhóm liên từ biểu thị nguyên nhân: do, sở dĩ, nhân
3.2.2.5. Nhóm liên từ biểu thị quan hệ nghịch tiếp: huống, phương

nhấn mạnh ý chủ quan, v.v.).
3. Trong việc đảm nhiệm chức năng thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp của
tiếng Việt, hư từ Hán Việt và hư từ thuần Việt có sự phân tách chức năng
nhiệm vụ rõ rệt. Chẳng hạn phó từ thời gian Hán Việt không có từ biểu thị
quá khứ gần và tương lai trong khi phó từ thuần Việt có vừa mới, sẽ; phó
từ Hán Việt không có từ biểu thị mức độ thấp, còn biểu thị mức độ tuyệt
đối thì phó từ Hán Việt lại rất phong phú, như: tối, chí, vô cùng, tuyệt đối,
cực, cực lực, cực độ, v.v. Đối với trợ từ đánh giá về số lượng, từ Hán Việt
biểu thị chiều đánh giá (-) (chỉ, độc, mỗi, trần) trong khi đó từ thuần Việt
biểu thị chiều đánh giá (+) (đến, những, tới, cả, hẳn). Hư từ Hán Việt và
24
hư từ thuần Việt cũng phân biệt rất rõ ở sắc thái ngữ nghĩa mà chúng mang
lại cũng như phong cách văn bản mà chúng thường xuất hiện.
4. Hư từ Hán Việt cũng nằm trong xu thế biến động từ vựng của tiếng
Việt. Số lượng hư từ Hán Việt gia tăng theo thời gian. So với thời kì trước
thế kỉ XV, hiện nay số lượng hư từ Hán Việt đã tăng lên xấp xỉ 8 lần. Khảo
sát hoạt động của hư từ Hán Việt, chúng tôi đã rút ra một số kết luận về xu
hướng vận động của chúng, cụ thể là:
- Xu hướng “hình vị hóa”: một số hư từ Hán Việt, trong đó chủ yếu là
phó từ đơn tiết có xu hướng thu hẹp hoạt động, trở thành các yếu tố cấu
tạo từ và làm thành phần phụ trong cấu trúc của từ ghép Hán Việt Việt tạo.
- Rất nhiều hư từ Hán Việt có khả năng chuyển đổi từ loại khi hoạt
động trong câu. Sự chuyển loại diễn ra giữa các tiểu loại hư từ hoặc giữa
hư từ với thực từ.
- Xu hướng “hư hóa” (thực từ biến đổi thành hư từ) hay còn gọi là quá
trình “ngữ pháp hóa” của một số thực từ.
- Một số hư từ Hán Việt theo thời gian đã dần trở thành từ cũ và bị
thay thế bằng các hư từ khác. Ngược lại, cũng có nhiều hư từ Hán Việt
mới được bổ sung đã lấn át và thay thế một phần hay toàn bộ chức năng
của các hư từ thuần Việt tương đương. Mặt khác, nhờ vào kiểm nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status