S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
i ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
PHÓ THỊ HỒNG OANH TRƢỜNG TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TRONG
TRUYỆN TÂY BẮC CỦA TÔ HOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
TRƢỜNG TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TRONG
TRUYỆN TÂY BẮC CỦA TÔ HOÀI Chuyên nghành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60. 22. 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ NHUNG
THÁI NGUYÊN - 2013
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
ii LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn
thạc sĩ Ngôn ngữ học với đề tài: Trường từ vựng - ngữ nghĩa trong Truyện
Tây Bắc của Tô Hoài.
Để hoàn thành được luận văn này, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản
thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm, dạy bảo, động viên, giúp đỡ của các
thầy giáo, cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp và gia đình.
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị
Nhung, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Khoa Sau
Đại học - Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên cùng các thầy
giáo ở Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã
tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, người
thân, các đồng chí đồng nghiệp đã động viên khích lệ tôi để tôi hoàn thành
luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Phó Thị Hồng Oanh
9
7. Cấu trúc của luận văn
9
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
11
1.1. Trường nghĩa
11
1.1.1. Khái niệm nghĩa và các loại nghĩa
11
1.1.2. Trường nghĩa
17
1.2. Hiện tượng chuyển nghĩa
23
1.2.1. Khái niệm hiện tượng chuyển nghĩa
23
1.2.2. Các phương thức chuyển nghĩa
24
1.2.2.1. Ẩn dụ
24
1.2.2.2. Hoán dụ
26
1.3. Các đơn vị từ ngữ
27
1.3.1. Khái niệm từ, phân loại từ
27
1.3.2. Khái niệm đoản ngữ, phân loại đoản ngữ
30
1.4. Phân tích từ ngữ trong tác phẩm văn chương
31
1.5. Sơ lược về nhà văn Tô Hoài và tác phẩm Truyện Tây Bắc
69
2.2.3. Trường nghĩa đặc điểm, tính chất
70
2.2.3.1. TN đặc điểm, tính chất của sự vật tự nhiên
71
2.2.3.2. TN đặc điểm, tính chất của con người
74
2.2.3.3. TN đặc điểm, tính chất của sự vật nhân tạo
79
2.2.4. Tiểu kết
79
CHƢƠNG 3: VAI TRÒ CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC TỪ NGỮ
THUỘC CÁC TRƢỜNG NGHĨA KHÁC NHAU TRONG TRUYỆN
TÂY BẮC CỦA TÔ HOÀI
3.1. Các TN với vẻ đẹp và sự giàu có của thiên nhiên Tây Bắc
82
82
3.1.1. Sự đặc biệt của khí hậu Tây Bắc
83
3.1.2. Sự đa dạng của địa hình Tây Bắc
85
3.1.3. Sự phong phú của thế giới động vật ở núi rừng Tây Bắc
87
3.1.4. Vẻ sinh động của thế giới thực vật nơi núi rừng Tây Bắc
89
3.2. Các TN với đặc trưng văn hóa Tây Bắc
91
124
TÀI LIỆU THAM KHẢO
127
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trường nghĩa (TN) là một trong những lí thuyết quan trọng của ngôn
ngữ học. Nó đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến từ sớm. Nghiên cứu TN
sẽ giúp phát hiện những mối quan hệ ngữ nghĩa của hệ thống từ vựng bởi các
từ ngữ không nằm rời rạc ngẫu nhiên mà nằm trong những mối liên hệ nhất
định như các bộ phận trong một chỉnh thể. Nghiên cứu TN vừa cho thấy vẻ
đẹp phong phú đa dạng của từ ngữ vừa giúp sử dụng từ ngữ một cách linh
hoạt và hiệu quả hơn.
1.2. Nếu như giai điệu, âm thanh là ngôn ngữ của âm nhạc; màu sắc, đường
nét là ngôn ngữ của hội họa; mảng khối là ngôn ngữ của kiến trúc thì ngôn
ngữ là chất liệu của tác phẩm văn chương. Macxim Gorki đã nói: “Ngôn ngữ
là yếu tố thứ nhất của văn học”. Muốn khám phá giá trị của một tác phẩm văn
học, yếu tố đầu tiên và quyết định chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ văn học là
một bức tranh đa màu sắc, chứa nhiều điều bí ẩn mà hấp dẫn luôn thu hút sự
khám phá của người đọc, người nghiên cứu. Ngôn ngữ vừa là chất liệu tạo
nên tác phẩm vừa là phương tiện để qua nó người đọc cảm nhận được cái hay,
vẻ đẹp của tác phẩm đó. Có lẽ đó là một trong những lí do khiến xu hướng
dạy học theo quan điểm tích hợp ngữ - văn đang được đề cao như hiện nay.
mình.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Vấn đề nghiên cứu tác phẩm văn học dựa trên lí thuyết về trƣờng
nghĩa
Thực tế có nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu về TN và các ứng
dụng của nó. Ở đây chúng tôi chỉ điểm lại một số công trình, bài viết của
những người đã quan tâm việc ứng dụng lí thuyết về TN vào việc phân tích
tác phẩm văn học.
Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu. Song
song với việc giới thiệu, nghiên cứu về TN dưới góc độ lí thuyết, ông đã đề
cập đến hướng ứng dụng lí thuyết về TN và phân tích văn học. Trên tạp chí
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
Ngôn ngữ số 3 năm 1974, Đỗ Hữu Châu có bài viết “Trường từ vựng ngữ
nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật”. Trong các công trình
Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (NXB GD, 1999), Từ vựng học tiếng Việt
(NXB ĐHSP, H, 2004), sau khi trình bày lí thuyết về TN, tác giả đều gợi mở
hướng nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm văn học theo TN bằng việc lựa chọn
một số trích đoạn văn chương để phân tích. Đó là những đóng góp quý báu có
ý nghĩa mở đường của Đỗ Hữu Châu cho một hướng nghiên cứu văn học. Tuy
nhiên, các bài viết của ông đều theo hướng mở, lấy một vài dẫn chứng làm ví
dụ chứ chưa thực sự đi vào phân tích một tác phẩm cụ thể nào.
Đỗ Việt Hùng trong bài viết “Một số khía cạnh ứng dụng trường nghĩa
trong hoạt động giao tiếp”(Tạp chí Ngôn ngữ số 3 năm 2010) cũng đề cập đến
việc ứng dụng trường nghĩa trong quá trình tạo lập, sản sinh lời nói và quá
trình lĩnh hội, tiếp nhận lời nói, trong đó quá trình tiếp nhận và phân tích lời
nói nhất là cách diễn đạt chứa hiện tượng ngôn ngữ bất thường đặc biệt được
quan tâm. Tuy nhiên Đỗ Việt Hùng mới chỉ đề cập đến sự ứng dụng của lí
như: Phạm Thị Lệ Mỹ (Trường nghĩa và việc phân tích tác phẩm văn học
(Qua tác phẩm “Thân phận tình yêu” – Bảo Ninh), LVThs, ĐHSPHN, 2008),
Nguyễn Thị Bạch Dương (Trường từ vựng – ngữ nghĩa động vật trong truyện
Tô Hoài viết cho thiếu nhi), LVThs, ĐHSPHN, 2010), Phạm Thị Liên (Tìm
hiểu trường từ vựng – ngữ nghĩa đồng bằng sông Cửu Long, LVThs,
ĐHSPHN, 2011), Lưu Thị Thu Oanh (Trường nghĩa đất trong một số tác
phẩm của Nguyễn Minh Châu, LVThs, ĐH Hải Phòng, 2011), Lê Thị Hương
(Trường từ vựng – ngữ nghĩa “Đấu tranh cách mạng” trong thơ Tố Hữu),
LVThs, ĐH Hồng Đức, 2012), Trần Hạnh Nguyên (Trường từ vựng – ngữ
nghĩa thực vật trong ca dao Việt Nam), LVThs, ĐHSPHN, 2012), Nguyễn
Thị Dinh (Trường nghĩa lúa và sản phẩm của cây lúa trong kho tàng ca dao
người Việt), LVThs, ĐH Hải Phòng, 2013), Nguyễn Thị Dung (Trường nghĩa
sông nước trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, LVThs, ĐH Hải Phòng,
2013), Hoàng Thị Thanh Vân (Trường nghĩa chỉ vật nhân tạo trong thơ Tố
Hữu, LVThs, ĐH Hải Phòng, 2013), vv
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
Như vậy có thể thấy, rõ ràng phân tích tác phẩm văn học dựa vào TN là
một hướng đi đúng đắn.
Với luận văn này, chúng tôi mong muốn sẽ góp thêm một minh chứng về
phương pháp phân tích văn học dựa vào TN. Trên cơ sở tiếp thu thành tựu của
những người đi trước, chúng tôi tiến hành tìm hiểu các TN trong một tác
phẩm văn xuôi - tác phẩm Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài đồng thời chỉ
ra vai trò của các TN đó đối với việc thể hiện giá trị nội dung của tác phẩm và
cái tôi nghệ thuật của tác giả.
2.2. Vấn đề nghiên cứu tác phẩm Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài
Với hơn 90 tuổi đời, hơn 65 tuổi nghề và hơn 160 đầu sách đã xuất bản,
cho đến nay, Tô Hoài là một trong số ít nhà văn hiện đại nước ta đạt được
đánh giá những thành công về nghệ thuật xây dựng nhân vật, đặc biệt nghệ
thuật miêu tả tâm lí và khắc họa tính cách nhân vật. “Cũng như trong tập
Truyện Tây Bắc, truyện Vợ chồng A Phủ còn lôi cuốn người đọc bởi chất thơ
đậm đà, trong sáng. Phong cảnh và con người đẹp đẽ của Tây Bắc được ngòi
bút của Tô Hoài vẽ nên với một sức rung động thơ.” [33, tr.256]
Tương tự như vậy, tác giả Đỗ Kim Hồi trong bài viết Về Vợ chồng A Phủ
(1997), tác giả Nguyễn Quang Trung trong bài Vợ chồng A Phủ (1999) đều
tập trung đánh giá những thành công về nghệ thuật xây dựng nhân vật: những
tính cách độc đáo, những số phận giàu ấn tượng để rồi các tác giả đi đến kết
luận: “Truyện Tây Bắc là thành quả đẹp trong mùa thu hoạch đầu tiên của Tô
Hoài trên quê hương văn học mới của ông Vợ chồng A Phủ có một gương
mặt riêng độc đáo.”
Như một dòng sông vô tận với bao điều kỳ diệu, những sáng tác của Tô
Hoài và đặc biệt tập Truyện Tây Bắc của ông như những con sóng cảm xúc
nối dài khơi gợi sự quan tâm, tìm hiểu của các nhà nghiên cứu. Nhiều luận
văn Thạc sĩ, Tiến sĩ đã viết về tác phẩm của Tô Hoài. Năm 2005, tác giả Mai
Thị Nhung đã có công trình nghiên cứu rất công phu về phong cách nghệ
thuật Tô Hoài. Vấn đề mà tác giả luận văn đi sâu phân tích là phong cách
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
nghệ thuật Tô Hoài với yếu tố hạt nhân chi phối là cảm quan hiện thực đời
thường. Tô Hoài cảm nhận con người trong dạng thức nhân bản đời thường.
Thế giới nhân vật bình dị, đời thường và nhân vật hành động, hướng ngoại.
Ngôn ngữ văn chương Tô Hoài mang vẻ đẹp giản dị, mộc mạc. Từ ngữ được
nhà văn sử dụng ổn định và mang giá trị thẩm mĩ đặc sắc
Từ những khảo sát trên, có thể nhận thấy phần lớn các bài nghiên cứu đều
tập trung đánh giá một cách tổng quát ý nghĩa nội dung, đặc sắc nghệ thuật
của tập Truyện Tây Bắc nói riêng và những sáng tác của Tô Hoài nói chung
hiện chủ đề tác phẩm và cái tôi nghệ thuật của nhà văn.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu tài liệu, các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài
nước để xây dựng cho luận văn một cơ sở lí luận thích hợp;
- Thống kê, phân loại, miêu tả các TN sự vật, TN hoạt động - trạng thái,
TN đặc điểm - tính chất trong Truyện Tây Bắc của Tô Hoài;
- Nghiên cứu giá trị của TN sự vật, TN hoạt động - trạng thái, TN đặc điểm
- tính chất trong Truyện Tây Bắc đối với việc thể hiện nội dung tác phẩm và
phong cách tác giả.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng ba phương pháp sau:
5.1. Phƣơng pháp miêu tả
Chúng tôi đã sử dụng các thủ pháp giải thích bên ngoài và các thủ pháp
giải thích bên trong của phương pháp này để miêu tả các TN trong tác phẩm
Truyện Tây Bắc của Tô Hoài.
Chúng tôi sử dụng các thủ pháp giải thích bên ngoài như: thủ pháp trường
nghĩa – áp dụng lí thuyết trường vào việc nghiên cứu nghĩa nhằm xác định hệ
thống ngữ nghĩa của ngôn ngữ; thủ pháp phân tích ngôn cảnh để nghiên cứu
các tình huống và các nhân tố văn hóa có ảnh hưởng đến việc sử dụng từ ngữ;
các thủ pháp phân bố bao gồm thủ pháp phân tích văn cảnh để miêu tả ý
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
nghĩa của các từ ngữ trong từng TN và thủ pháp thay thế để phát hiện giá trị
nội dung và nghệ thuật của từng từ ngữ cụ thể mà tác giả đã sử dụng.
Các thủ pháp giải thích bên trong được chúng tôi sử dụng bao gồm các thủ
pháp phân loại và hệ thống hóa, thủ pháp phân tích nghĩa tố và thủ pháp
thống kê toán học. Thủ pháp phân loại được sử dụng để phân chia các TN và
Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn
Chương 2: Đặc điểm trường từ vựng – ngữ nghĩa trong Truyện Tây Bắc
Chương 3: Vai trò của việc sử dụng các từ ngữ thuộc các trường nghĩa khác
nhau trong Truyện Tây Bắc
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
1.1. Trƣờng nghĩa
1.1.1. Khái niệm nghĩa và các loại nghĩa
1.1.1.1. Khái niệm nghĩa
Một trong những khái niệm phức tạp nhất, giành được sự chú ý thảo luận
nhiều nhất trong ngôn ngữ học là khái niệm nghĩa. Nghĩa là gì? Câu hỏi ấy
vẫn chưa tìm được câu trả lời thống nhất. Có quan niệm cho rằng nghĩa là
khái niệm tồn tại gắn với từ ở trạng thái tĩnh, trạng thái hệ thống, nhưng cũng
có quan điểm cho rằng nghĩa bao gồm cả hai trạng thái – tĩnh và động
- Theo Từ điển Tiếng Việt thì nghĩa có hai cách hiểu: "1. Nội dung diễn đạt
của một kí hiệu, đặc biệt của kí hiệu ngôn ngữ: giải nghĩa từ; tìm hiểu nghĩa
thể phân xuất ra những yếu tố cấu tạo nhỏ nhất, giống như các nét khu biệt
trong âm vị học. Ví dụ: Nghĩa của từ anh trong tiếng Việt gồm các nghĩa vị:
“đàn ông”, “sinh trước”, “trong quan hệ gia đình với người cùng thế hệ”….vv
- Trong cuốn 777 khái niện ngôn ngữ học, tác giả Nguyễn Thiện Giáp quan
niệm về nghĩa như sau:
" Nghĩa của từ (cũng như của các đơn vị ngôn ngữ khác) là quan hệ của từ
với cái gì đó nằm ngoài bản thân đó. Hiểu nghĩa của một đơn vị nào đó là
hiểu đơn vị ấy có quan hệ với cái gì, tức là nó hiển thị cái gì” [21,tr.78].
Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định, trước hết, khi nói đến nghĩa là nói đến
nghĩa của một cái gì đó đã biết, đã tiếp nhận. Dùng thuật ngữ của F.de.
Saussure thì, nói đến nghĩa là nói đến nghĩa của cái biểu đạt. Nhưng rộng hơn
cách hiểu của F.de.Saussure và rộng hơn cách hiểu thông thường, cái biểu đạt
không chỉ là những vật cảm tính như vỏ ngữ âm của một từ, một câu, một
hình vẽ, màu sắc mà còn có thể là những hiện tượng trong cuộc sống, những
hiện tượng vật chất, những hiện tượng tinh thần, một hành động, một việc
làm, kể cả một cách thức nói năng, thậm chí còn có thể là một ý nghĩa của
một câu đã biết (nội dung câu hỏi, nội dung lời thanh minh…). Theo tác giả
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
Đỗ Hữu Châu, có thể dùng thuật ngữ “ngoại biểu” thay cho thuật ngữ “cái
biểu đạt” của F.de. Saussure.
Theo chúng tôi, ở ngôn ngữ, nói đến nghĩa là nói đến cái được biểu đạt mà
người ta có thể học thuộc, ghi nhớ vì nó có tính ổn định, gắn chặt với hình
thức của tín hiệu, của biểu thức ngôn ngữ. Có thể hiểu về nghĩa theo quan
niệm rộng là toàn bộ nội dung, thông tin mà người nói/ viết muốn truyền đạt
thông qua một đơn vị ngôn ngữ nào đó và bằng một cách thức nhất định.
Quá trình hình thành nghĩa của từ như sau: Sự vật, hiện tượng trong thực tế
khách quan phản ánh vào trong tư duy của con người thành khái niệm (về sự
sở chỉ. Chúng tôi thống nhất với khái niệm này.
- Nghĩa biểu niệm:
Trong Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Nghĩa biểu
niệm của từ là hợp thể những hiểu biết được đưa vào hệ thống ngôn ngữ của
một ngôn ngữ về nghĩa biểu niệm của từ đó" [tr.197]. Trong Từ vựng – ngữ
nghĩa tiếng Việt , ông lại viết: “ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số
nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự
nhất định. Tập hợp này ứng với một số ý nghĩa biểu vật của từ. Chính vì ý
nghĩa biểu niệm là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, cho nên còn có thể gọi
nó là cấu trúc biểu niệm”.
Nguyễn Thiện Giáp gọi thứ nghĩa này là nghĩa sở biểu, là quan hệ của từ
với biểu tượng, khái niệm mà từ biểu thị. Khái niệm hoặc biểu tượng có quan
hệ với từ được gọi là cái sở biểu.
Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học tập hợp một số điểm ở khái niệm của cả
hai ông mà đưa ra quan niệm: “Nghĩa biểu niệm là mối quan hệ giữa từ với
khái niệm và biểu tượng của sự vật, tức với những đặc trưng bản chất nhất
của sự vật; tập hợp một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo
một trật tự nhất định và có tổ chức. Nghĩa biểu niệm được coi như bất biến
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
15
thể trong sự đối lập với nghĩa biểu vật; còn gọi là nghĩa biểu ý, nghĩa sở
biểu”. Chúng tôi theo quan điểm này.
- Nghĩa biểu thái:
Trong Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu cho nghĩa biểu thái
là “những nhân tố đánh giá như to, nhỏ, mạnh, yếu…, nhân tố cảm xúc như
dễ chịu, khó chịu, sợ hãi…, nhân tố thái độ như trọng, khinh, yêu, ghét,… mà
từ gợi ra cho người nói, người nghe”.
Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học gọi thứ nghĩa này là nghĩa biểu cảm, và
Nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp của từ cùng có tính chất tương đối cố
định, vững bền, là những sự kiện thuộc cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ.
Chúng là những nghĩa ngôn ngữ, cùng đối lập với một thứ nghĩa chưa cố
định, dễ biến động, mang tính chất xã hội - lịch sử - cá nhân cụ thể, đó là
nghĩa liên hội của từ.
1.1.2. Trƣờng nghĩa
1.1.2.1. Khái niệm
Lí thuyết TN ra đời dựa trên cơ sở những luận điểm về ngôn ngữ học đã
được hình thành từ rất sớm. Trước hết phải kể đến giả thuyết về “tính tương
đối ngôn ngữ” do Sapir (1921) và Whorf (1956) khởi xướng. Dựa trên nhận
định của W. Humboldt: “Ngôn ngữ của một dân tộc chính là linh hồn của dân
tộc đó, linh hồn của dân tộc chính là ngôn ngữ của dân tộc đó”, Sapri và
Whorf đã làm sáng tỏ quan niệm coi ngôn ngữ là cái phản ánh tinh thần của
một dân tộc nào đó. Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống từ vựng riêng. Hệ thống
từ vựng này phản ánh cách chia thực tế khách quan và phạm trù hóa hiện thực
riêng của từng dân tộc ngay trong bản thân ý nghĩa các từ. Tiếp theo đó là
hàng loạt các nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu về ngữ nghĩa của ngôn ngữ,
tiêu biểu là Talmy (1981), Langacker (1987) và Lakoff (1987).
Năm 1896, M.Pokrovxkij viết: “Từ và ý nghĩa của chúng không tồn tại
tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng chúng ta và độc lập với ý
thức chúng ta thành những nhóm nhất định. Cơ sở để tập hợp những nhóm
như vậy là sự đồng nhất hay sự trái ngược trực tiếp với chúng về nghĩa.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
17
Chúng ta đã biết một cách tiên nghiệm rằng các từ như vậy hoặc giống nhau
hoặc song hành với nhau trong sự biến đổi ý nghĩa và trong lịch sử của chúng,
chúng ảnh hưởng lẫn nhau. Chúng ta đã biết rằng những từ này được dùng
trong những tổ hợp cú pháp giống nhau” [11, tr.243]. Như vậy có thể thấy
điểm của Trier về trường là những gợi ý ban đầu cho việc nghiên cứu ngôn
ngữ nói chung và trường từ vựng nói riêng. Với những nghiên cứu của mình,
J. Trier đã “mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử ngữ nghĩa học”.
Sau J. Trier, một số nhà nghiên cứu khác như Weisgerber, J. Lyons,…
cũng đã có những quan niệm bổ sung cho lí thuyết trường. J. Lyons trong
cuốn “Nhập môn ngôn ngữ học lí thuyết” đã đưa ra được một định nghĩa về ý
nghĩa của từ (sense) có phần khoa học hơn: “Cái mà ta cho là ý nghĩa của một
đơn vị từ vựng là toàn bộ tập hợp các quan hệ ý nghĩa giữa nó với các đơn vị
khác trong từ vựng.”[11, tr.244]. Trên cơ sở quan niệm này, Lyons đã miêu
tả cấu trúc ngữ nghĩa của các từ trong các hệ thống từ vựng bằng các quan hệ
đồng nghĩa, đồng âm, trái nghĩa, đa nghĩa,…
Một số nhà ngôn ngữ học sau này đã chia hệ thống từ vựng của một ngôn
ngữ thành TN ở nhiều cấp độ lớn nhỏ khác nhau dựa vào nét nghĩa phạm trù
chung nhất đến các nét nghĩa phạm trù nhỏ hơn rồi các nét nghĩa loại, hạng và
nét nghĩa riêng biệt.
Nhìn chung những quan niệm về TN của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ mà
chúng ta vừa xem xét đều dựa vào quan hệ dọc của ngôn ngữ. W. Porig – nhà
ngôn ngữ học người Đức lại dựa trên quan hệ ngang giữa các tín hiệu ngôn
ngữ để đề xuất lí thuyết về TN. Theo ông, khái niệm TN dựa trên cơ sở các
mối quan hệ về nghĩa giữa các cặp từ có quan hệ ngữ đoạn với nhau (quan hệ
ngang). Với Porzig, ý nghĩa của từ có thể được chỉ ra một cách độc lập trong
những trường hợp sử dụng cú pháp khác biệt. Khả năng kết hợp về mặt cú
pháp của một từ, tức khả năng cùng một số từ khác kết hợp thành một cấu
trúc cú pháp có nghĩa là bằng chứng cho ý nghĩa độc lập của từ. Porzig đã lấy
sự liên tưởng làm nguyên tắc phân chia TN. Theo cơ chế liên tưởng, một từ
nào đó xuất hiện thế nào cũng gợi lên những từ khác trong hệ thống ngôn