BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÊ THỊ NHUNG
THIÊN NHIÊN TRONG
TRUYỆN TÂY BẮC
CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
khoa Ngữ văn, các cô chú cán bộ Thư viện trường Đại học Tây Bắc, tập thể lớp
K51 ĐHSP Ngữ Văn đã tạo điều kiện giúp đỡ và động viên em trong quá trình
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Sơn La, tháng 5 năm 2014
Ngƣời viết
Lê Thị Nhung MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4. Mục đích nghiên cứu 5
3.3. Thiên nhiên Tây Bắc được miêu tả bằng những màu sắc nổi bật và mùi vị
đặc trưng 39
Tiểu kết 42
KẾT LUẬN 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tô Hoài là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt
Nam hiện đại. Với tám mươi lăm năm tuổi đời, sáu mươi tư năm tuổi nghề, ông
đã có hơn một trăm sáu mươi đầu sách được xuất bản, đây là điều mà ít nhà văn
Việt Nam hiện đại đạt được. Tác giả Phong Lê nhận xét: “Nếu đóng góp của một
nhà văn vào nền văn học dân tộc vào đời sống tinh thần của cộng đồng là ở
phong cách,khối lượng và số lượng của tác phẩm, thì có thể nói: Tô Hoài là một
trong những đời văn đẹp của văn học Việt Nam đương đại” [9, 208]. Tác giả
Vương Trí Nhàn trong Tô Hoài tác gia và tác phẩm cũng nhận định: “Đời văn
của Tô Hoài gợi ra hình ảnh một dòng sông miên man chảy và mang trong mình
cả cuộc sống bất tận” [9, 208].
Tô Hoài là một trong những tác gia lớn có đóng góp quan trọng vào nền văn
học dân tộc với nhiều tác phẩm tiêu biểu đạt cả giá trị nội dung và hình thức.
1.2. Sau Cách mạng tháng 8 - 1945, đặc biệt từ sau kết quả thực tế mà Tô
Hoài đi khắp các chiến trường Tây Bắc, ngòi bút của ông hướng đến đồng bào
mạnh, dồi dào “viết bất cứ đâu và viết không ngừng nghỉ” (Đoàn Văn Bổng).
Trong hơn sáu mươi năm cầm bút, Tô Hoài đã có một số lượng tác phẩm
văn chương đồ sộ. Bàn về giá trị văn chương của Tô Hoài xưa nay có rất nhiều ý
kiến đánh giá, tuy nhiên chúng tôi chỉ xin trình bày vắn tắt một số ý kiến liên
quan đến đề tài và nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong Truyện Tây Bắc của nhà
văn Tô Hoài. Ngay sau khi tác phẩm ra đời đã có nhiều sự cổ vũ và đồng tình từ
phía bạn đọc. Những công trình nghiên cứu về giá trị của tác phẩm tăng nhanh
về số lượng và chất lượng.
2.1. Về giá trị tập Truyện Tây Bắc
Về Tô Hoài và Truyện Tây Bắc đã có đến 90 bài viết của các tác giả nghiên
cứu. Nhìn chung các tác giả đều thống nhất cho rằng: Truyện Tây Bắc là tác
phẩm thành công, đánh dấu sự chuyển biến cả về tư tưởng, nghệ thuật và phong
cách của Tô Hoài. Phong Lê và Vân Thanh là những người rất công phu khi tập
hợp và giới thiệu cuốn sách Tô Hoài về tác gia và tác phẩm. Trong cuốn sách
này hầu hết các tác giả nghiên cứu tập truyện đều chú ý đến Vợ chồng A Phủ và
Mường Giơn với một số bài viết sau:
Trong bài viết về Vợ chồng A Phủ, tác giả Đỗ Kim Hồi cho rằng: “Công
đầu viết về Tây Bắc, đem đến cho người đọc những hiểu biết về miền đất còn xa
lạ này thuộc về Tô Hoài và Truyện Tây Bắc là thành quả đẹp trong mùa thu
hoạch đầu tiên của Tô Hoài trên quê hương văn học mới” [9, 258].
3
Trong bài viết Sáng tác của Tô Hoài, tác giả Vân Thanh cho rằng:
“Thành công của Truyện Tây Bắc còn là sự miêu tả những khung cảnh mang
đậm màu sắc riêng của miền núi. Tô Hoài am hiểu sâu và kể lại khá thành công
những chuyện sinh hoạt như tục lệ đi ở cuông, đi ở rể, chơi hang, tắm suối nước
nóng, cưới vợ, hoặc những cảnh sinh hoạt vui chơi như chơi xuân ,đánh pao,
thổi sáo, thổi kèn. Tất cả những khung cảnh sinh hoạt đó có tác dụng làm nền
cho tính cách nhân vật và đem lại cho người đọc một cảm giác chân thật, tin
cậy” [9, 73]. Ngoài ra tác giả cũng khẳng định “ Truyện Tây Bắc ra đời đánh
thiếu của núi rừng Tây Bắc” [9, 275].
Giáo sư Huỳnh Lý có một cái nhìn khá toàn diện về Truyện Tây Bắc,
không chỉ đề cập đến chủ đề, nội dung tác phẩm,còn có những đánh giá sắc sảo
về nghệ thuật: “Khi miêu tả một cảnh đẹp, một cuộc vui, một không khí gia đình
đầm ấm, ông không ngại nói nhiều, ông đưa rất đúng lúc màu sắc, hình ảnh và
nhạc điệu vào khiến cho đoạn văn vừa như một khúc nhạc, một bức tranh, một
bài thơ” [9, 241].
Tác giả Phan Cự Đệ trong bài viết Tô Hoài - nhà văn Việt Nam hiện đại
đã có sự so sánh, đánh giá về đặc điểm phong cách nghệ thuật của Tô Hoài như
sau: “…. bao giờ cũng cố gắng gắn liền bút pháp hiện thực với màu sắc lãng
mạn trữ tình thơ mộng. Ở một cây bút hiện thực nghiêm ngặt như Ngô Tất Tố,
cái thiên nhiên miền núi có thể chỉ hằn lên những đường nét dữ dội: đàn ngựa
kéo dài qua những quãng kẹt núi dựng, tiếng gió gào quẩn trên đầu sóng cỏ
tranh, chốc lại xô lên lấp cả người cả ngựa. Bóng tối trĩu nặng từng quãng
nhanh và dữ dội… Dưới con mắt của Tô Hoài, thiên nhiên Tây Bắc vừa dữ dội,
lại vừa thơ mộng… ” [9, 86].
Giáo sư Hà Minh Đức trong bài viết Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài
nhận định: “Tô Hoài giỏi miêu tả thiên nhiên. Thiên nhiên trong tác phẩm của
ông gồm nhiều màu vẻ từ những cảnh thơ mộng gợi cảm đến một thiên nhiên
khắc nghiệt hung dữ. Tô Hoài miêu tả thiên nhiên theo một cách nhìn ngắm tự
nhiên, nhẹ nhàng. Không có những dấu vết ngăn cách khung cảnh thiên nhiên
và bức tranh xã hội. Từ tả người đến tả cảnh, từ xã hội đến thiên nhiên, văn
mạch của ông vận động tự nhiên và biện chứng… Trong tác phẩm của ông
thiên nhiên luôn có mặt và dường như là một nhân vật có cuộc sống, có tâm
hồn. Khi miêu tả thiên nhiên cũng là lúc điệu văn của Tô Hoài đậm màu sắc trữ
tình và giàu chất thơ” [9, 138].
Nhận xét về phong cách nghệ thuật của Tô Hoài, Trần Hữu Tá cho rằng:
“Tô Hoài có khả năng quan sát tinh tế và nghệ thuật miêu tả linh động. Người,
vật, thiên nhiên, cảnh sinh hoạt… tất cả đều hiện lung linh, sống động, nổi rõ
cái thần của đối tượng và thường bàng bạc một chất thơ” [9, 158].
Sử dụng phương pháp này để so sánh các tác phẩm viết về đề tài miền núi
trong sáng tác của Tô Hoài. Đồng thời so sánh với các tác phẩm của các nhà văn
6
khác cùng viết về đề tài này. Từ đó đối chiếu, so sánh để thấy được vị trí riêng
của Tô Hoài trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
5.4. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp
Tiến hành phân tích cụ thể các đặc điểm của thiên nhiên miền núi ở nhiều
khía cạnh khác nhau. Sau đó khái quát lên đặc điểm của thiên nhiên và nghệ
thuật miêu tả thiên nhiên. Đồng thời hiểu thêm về phong cách nghệ thuật của
Tô Hoài.
6. Đóng góp của khóa luận
Tiến hành thực hiện khóa luận này chúng tôi mong muốn góp thêm một
cái nhìn khái quát về đặc điểm và nghệ thuật miêu tả thiên nhiên miền núi qua
tập Truyện Tây Bắc. Khóa luận hoàn thành có thể là một tài liệu tham khảo cho
sinh viên khoa Ngữ Văn học tập và nghiên cứu về Tô Hoài.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, thư mục, tài liệu tham khảo, nội dung
chính của khóa luận được triển khai ở 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Đặc điểm thiên nhiên trong Truyện Tây Bắc
Chương 3: Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong Truyện Tây Bắc
từ và là cuốn thiên sử thi dài nhất trên thế giới, tồn tại ở dạng văn bản cụ thể.
Nhưng có những câu ngắn cũng được coi là một tác phẩm văn học, ví dụ như
tục ngữ, thành ngữ tồn tại theo hình thức truyền miệng.
Mỗi tác phẩm là một hệ thống phức tạp bao gồm hàng loạt các yếu tố thuộc
những bình diện khác nhau như đề tài, chủ đề, tư tưởng, kết cấu, ngôn ngữ, nhân
vật, hình tượng và cốt truyện. Sự kết hợp và tác động lẫn nhau giữa các yếu tố
này khiến tác phẩm trở thành một chỉnh thể nghệ thuật, mang tính thống nhất
hữu cơ giữa nội dung thẩm mĩ và hình thức nghệ thuật.
8
1.1.1.2. Mối quan hệ của tác phẩm văn học
Tác phẩm văn học khi đặt trong mối quan hệ với hiện thực phản ánh, nhà
văn và thời đại sẽ giữ vai trò và chức năng riêng. Trong quan hệ với hiện thực
mà nó phản ánh, tác phẩm là nơi lưu giữ những hình ảnh, phản ánh những quy
luật của cuộc sống. Chẳng hạn, Truyện Tây Bắc của Tô Hoài phản ánh công
cuộc đấu tranh giai cấp của nhân dân các dân tộc miền núi chống chế độ áp bức
của phong kiến, thực dân, đồng thời ca ngợi cách mạng đã giải phóng cho nhân
dân Tây Bắc thoát khỏi cuộc đời tối tăm, ca ngợi những con người miền núi,
nhất là lớp thanh niên đã vùng dậy làm chủ cuộc sống của mình, ca ngợi tinh
thần đoàn kết giữa các dân tộc ( HMông, Dao, Thái).
Trong quan hệ với nhà văn, tác phẩm là nơi khẳng định vị trí, tài năng, tầm
ảnh hưởng; là nơi cụ thể hóa những biểu tượng tri thức khách quan để bạn đọc
có thể suy ngẫm. Những tác phẩm vĩ đại nhất của Ph.m.Đôxtôiépxki như: Tội ác
và hình phạt, Chàng ngốc, Lũ người quỷ ám, Người chồng vĩnh cửu, Nhật kí nhà
văn đã khẳng định vị trí, tài năng và ảnh hưởng của của ông đối với văn học
nhân loại. Ông không chỉ là “nhà văn vĩ đại của nước Nga thế kỉ XIX, mà còn là
một trong những người khổng lồ của văn học thế giới. Sáng tác của Đôxtôiépxki
không chỉ có ảnh hưởng rộng lớn đến nhiều thế hệ nhà văn kế tiếp của nhân
loại, mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới tư tưởng và ý thức của con người
trong xã hội hiện đại” [4, 44].
ảnh, hình tượng, sự hoạt động và quan hệ giữa các nhân vật, suy nghĩ và cảm
xúc của các nhân vật Xuyên qua nội dung cụ thể của tác phẩm, ở một cấp độ
cao hơn, sâu hơn là nội dung tư tưởng (nội dung khái quát, nội dung biểu hiện).
Ðó chính là sự khái quát những gì đã trình bày trong nội dung cụ thể thành
những vấn đề của đời sống và giải quyết những vấn đề ấy theo một khuynh
hướng tư tưởng nhất định.
Như vậy, có thể nói nội dung của tác phẩm là toàn bộ những hiện tượng
thẩm mĩ độc đáo được phản ánh bằng hình tượng thông qua sự lựa chọn, đánh
giá chủ quan của người nghệ sĩ, tức là tiếng nói riêng của nhà văn bao gồm
những cảm xúc, tâm trạng, lí tưởng của tác giả về hiện thực đó.
Nội dung tác phẩm văn học không đơn giản là hiện thực được miêu tả, hoặc
ý nghĩ trừu tượng của nhà văn, mà là quan hệ chủ quan - khách quan được phản
ánh trong tác phẩm. Đó là “cái nội dung toàn vẹn, phong phú, nhiều bình diện
độc đáo của nghệ thuật đòi hỏi phải thể hiện qua hình thức nghệ thuật, chứ
không thể thông báo được bằng lời” [ 10, 251]. Đi tìm hai mặt khách quan và
chủ quan này chính là nội dung của tác phẩm.
Hình thức tác phẩm văn học là một hệ thống các phương tiện và phương
thức thể hiện nội dung. Nó được hợp thành bởi nhiều yếu tố: nghệ thuật sử dụng
10
các chất liệu, phương tiện nghệ thuật, các qui định của loại thể, những biện pháp
kết cấu, cách xây dựng nhân vật, thể hiện hình tượng Tất cả đều nhằm mục
đích biểu hiện trực tiếp và sinh động nội dung của tác phẩm, tạo thành một dạng
tồn tại nhất định của nội dung ấy, qua đó xây dựng tác phẩm thành một chỉnh
thể nghệ thuật thống nhất.
Hình thức của tác phẩm văn học mang tính cụ thể, thẩm mĩ, không lặp lại.
Lấy thể lục bát mà nói, lục bát của Nguyễn Du, của ca dao, của Nguyễn Bính,
của Tố Hữu đều không giống nhau. Lấy bài, thì lục bát trong các bài Bà bủ, Bầm
ơi, Việt Bắc của Tố Hữu đều không giống nhau. Lục bát Bà bủ đầy vẻ dân dã,
thô mộc; lục bát Việt Bắc đã được trau chuốt đến mức tuyệt đỉnh của sự hài
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh người chinh phu
Trong lòng người cô phụ.
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.”[ 2, 27 ].
Với cách tổ chức hình thức bài thơ về mặt từ ngữ như vậy đã giúp nhà
thơ biểu đạt được nội dung một cách thầm kín. Tiếng thu không chỉ là tiếng
buồn, tiếng rạo rực trong lòng người cô phụ mà còn là tiếng lòng đồng cảm
của nhà thơ.
Trên thực tế không dễ dàng các nhà văn thống nhất nội dung và hình thức.
Tuy nhiên trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội dung vẫn là cái
quyết định. Điều này được thể hiện ở chỗ nội dung là chủ đề được nhận thức, từ
đó nó gợi ra những hình thức phù hợp.
1.1.2. Đề tài của tác phẩm văn học
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Đề tài là khái niệm chỉ loại các hiện
tượng đời sống được miêu tả phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Đề tài
là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm” [2, 110].
Đề tài bao giờ cũng có giới hạn. Đó có thể là một giới hạn bề ngoài như đề
tài loài vật, đề tài sản xuất, đề tài cải cách ruộng đất, đề tài kháng chiến chống
Mĩ, đề tài tiểu tư sản… Ở giới hạn bề ngoài của đề tài, các phạm trù xã hội, lịch
sử đóng vai trò rất quan trọng. Ở phương diện bên trong, người ta quan tâm đến
cuộc sống nào, con người nào được miêu tả trong tác phẩm. Chẳng hạn, Tắt đèn
thể hiện cuộc sống bế tắc tan vỡ của người nông dân trước Cách mạng tháng
12
Tám. Sống mòn của Nam Cao thể hiện cuộc sống quẫn bách mòn mỏi của tầng
lớp trí thức nghèo. Truyện Tây Bắc của Tô Hoài viết về đề tài miền núi trong sự
như thường được lặp đi lặp lại trong văn học ở mọi nơi và mọi thời đại. Chẳng
hạn, đề tài về tình yêu và hạnh phúc, chiến tranh và hòa bình, sự sống và cái
13
chết Có người cho rằng đấy là những đề tài vĩnh cửu của văn học. Thật ra, đó
chỉ là một cách nói. Bởi vì, ngay chính một nhà văn khi viết về một phạm
vi cuộc sống thì đề tài của tác phẩm cũng đã là một cái gì mới mẻ, không lặp lại.
Bên cạnh đó đề tài còn mang tính khách quan tương đối. Ðề tài có tính
khách quan vì bản thân nó chưa thể hiện tính tư tưởng. Những nhà văn có lập
trường tư tưởng khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau vẫn có thể cùng viết một
đề tài. Chẳng hạn cùng viết về đề tài tiểu tư sản, nhưng tác phẩm của Đỗ Đức
Thu thiên về phơi bày sự tầm thường của lối sống viên chức, còn Nam Cao xoáy
vào những cảnh đời xám xịt của lớp trí thức nghèo, sống dở, chết dở. Tính khách
quan của đề tài cũng chỉ mang tính tương đối vì xét đến cùng, đề tài ít nhiều
cũng gắn bó với thế giới tinh thần của nhà văn. Sự quan tâm và hứng thú của
nhà văn đối với một loại đề tài nhất định nào đó nhiều khi cũng xuất phát từ chỗ
đứng, quan điểm tư tưởng, thậm chí từ khuynh hướng chính trị của nhà văn đó.
Đề tài luôn gắn với hiện thực khách quan và cũng chịu sự chi phối của tư
tưởng tác giả, cho nên tính khách quan là chủ yếu nhưng trong đó cũng có một
phần chủ quan. Đề tài là cơ sở để nhà văn khái quát những chủ đề và xây dựng
những hình tượng, những tính cách điển hình. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp
đề tài , chủ đề hòa quyện với nhau không tách được, như một số tác phẩm ngụ
ngôn, truyện đồng thoại, một số thơ trữ tình… Người tiếp nhận có thể đi thẳng
từ đề tài bên ngoài vào chủ đề, tư tưởng tác phẩm.
1.2. Tô Hoài và tác phẩm Truyện Tây Bắc
1.2.1. Tô Hoài – “một trong những đời văn đẹp của văn học Việt Nam đương
đại ” [9, 208]
1.2.1.1. Cuộc đời
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27/9/1920. Nguyên quán là
làng Kim An, huyện Thanh Oai, thuộc Hà Tây. Tô Hoài sinh ra và lớn lên ở quê
Tuy nhiên sự chuẩn bị từ gia đình và xã hội đến với nghiệp văn là không đáng
kể thì càng khẳng định cái năng khiếu to lớn của ông, khiến cho Tô Hoài chỉ
trong nghề này mới tìm thấy sự thích thảng, thoải mái (Vương Trí Nhàn).
1.2.1.2. Sự nghiệp văn chương
Sự nghiệp văn chương của Tô Hoài có thể chia làm ba giai đoạn lớn:
Trước năm 1945: Ông chủ yêu sáng tác truyện ngắn. Trong số những sáng
tác đầu tiên Tô Hoài gửi báo Hà Nội tân văn được đăng là truyện ngắn Nước
lên, Bụi ôtô (8 -1940), Một đêm sáng trăng suông (9 -1940), Đàn bà (10 -1940),
Tâm sự cô hàng xén (3-12-1940) , Ba bố con (17-12-1940)… Sau khi Hà Nội
tân văn bị đóng cửa, Tô Hoài gặp được ông chủ báo Vũ Đình Long, sắp ra báo
Truyền bá, chuyên cho đối tượng thiếu nhi. Vũ Đình Long yêu cầu Tô Hoài viết
thử truyện Con dế mèn, câu chuyện nhận được sự ủng hộ của độc giả. Ngay sau
15
đó, Tô Hoài được đặt viết tiếp Dế mèn phưu lưu ký dài gấp đôi Con dế mèn, sau
đó gộp hai tác phẩm thành Dế mèn phưu lưu ký in lần đầu 1941. Tô Hoài tiếp
tục khẳng định tài năng của mình trong những truyện ngắn miêu tả thế giới loài
vật. Thế giới ấy hiện lên qua cách nhìn của trẻ thơ như Mụ ngan, O chuột…
Thế giới loài vật luôn là nội dung đặc sắc và độc đáo trong thế giới truyện của
Tô Hoài.
Thời kỳ này, bên cạnh những trang viết cho thiếu nhi, ông còn viết về một
mảng đề tài khác: vùng quê Bưởi - ven đô. Một vùng quê đã có sự xâm nhập
của lối sống thành thị nhưng vẫn còn xa cách biệt lập với thành thị. Qua những
trang viết này thể hiện ông là người có tâm hồn gắn bó với quê nghèo, với
những con người chân lấm tay bùn. Trước năm 1945, ngòi bút Tô Hoài có cùng
lúc hai đối tượng phản ánh. Một bên là cuộc sống xung quanh mình - miền quê
sát gần thành thị đã không còn mấy sự yên lành thơ mộng bởi túng đói, thất
nghiệp, ly tán… và một bên là thế giới riêng - thế giới loài vật với những ước
mơ , tưởng tượng và khát vọng. Hai mảng đề tài này hội tụ, thống nhất trong
một thế giới nghệ thuật chung của Tô Hoài.
Tô Hoài viết xong Truyện Tây Bắc và hai năm sau tác phẩm được giải nhất về
văn xuôi Giải thưởng văn học 1954 - 1955 của Hội văn nghệ Việt Nam.
Sau tập truyện này ông còn viết nhiều bút ký phóng sự như: Lên Sùng Đô, Nhật
ký vùng cao, Trở lại cao nguyên Đồng Văn, Những làng Dao ở Viễn Sơn…
Những năm sáu mươi, Tô Hoài muốn thử sức mình ở một phương thức
mới, một tư duy mới về phản ánh và khái quát hiện thực - một hiện thực đang
đổi thay và luôn biến động. Ông tìm đến một thể loại mới cho mình đó là tiểu
thuyết. Và Miền Tây đã ra đời với một hiện thực: công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền núi Tây Bắc. Vẫn chuyện Tây Bắc nhưng giờ đây là chuyện đối
sánh giữa mới và cũ, trước và sau, xưa và nay. Miền Tây đã được một giải
thưởng quý - Giải thưởng Hội nhà văn Á - Phi năm 1972 thật xứng đáng với
tâm huyết và công sức của Tô Hoài. Về đề tài vùng cao vẫn còn tiếp tục với:
Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971) , Họ Giàng ở Phìn Sa (1984) , Nhớ Mai Châu
(1988). Trong khi nhiều cây bút đã bỏ cuộc với đề tài miền núi thì Tô Hoài vẫn
theo đuổi đề tài đó với một hứng thú và kiên nhẫn phi thường.
Về đề tài miền núi, Tô Hoài luôn có những trang viết hay khi miêu tả
thiên nhiên và cảnh sinh hoạt với sắc thái riêng của miền núi nhất là miền núi
của cách mạng, miền núi của sự đổi thay trong hai chế độ.
Sau năm 1990: Nếu như Tô Hoài thành công ở mảng đề tài miền núi và
xứng đáng là nhà văn của miền núi thì với mảng đề tài Hà Nội, ông cũng rất
thành công. Trước cách mạng Tô Hoài có viết về Hà Nội, nhưng không gian
nghệ thuật chủ yếu thu hẹp trong phạm vi vùng kẻ Bưởi - quê ông. Giờ đây,
trong sáng tác của ông, quy mô hiện thực rộng lớn hơn cả về không gian lẫn thời
gian. Đó là Hà Nội đầu thề kỷ XX với những công cuộc đấu tranh quật khởi
17
chống Pháp ngấm ngầm hay công khai (Quê nhà - tiểu thuyết; Câu chuyện bờ
đầm sau của miếu Đồng Cổ - truyện ngắn). Đặc biệt với tiểu thuyết Mười năm
Tô Hoài đã dựng lại một thời kỳ lịch sử dữ dội và phức tạp, đau thương nhưng
sôi động của thời kỳ Mặt trận Dân chủ đến cách mạng tháng Tám. Hà Nội trong
18
thù không đội trời chung với giặc Pháp và phong kiến miền núi, đều có tinh thần
cách mạng và khả năng đoàn kết với nhau. Truyện Tây Bắc phản ánh cuộc đấu
tranh giai cấp của nhân dân các dân tộc miền núi chống chế độ áp bức của phong
kiến, thực dân. Đồng thời ca ngợi cách mạng đã giải phóng cho nhân dân Tây
Bắc thoát khỏi cuộc đời tối tăm; ca ngợi những con người miền núi, nhất là lớp
thanh niên đã vùng dậy làm chủ cuộc sống của mình; ca ngợi tinh thần đoàn kết
giữa các dân tộc.
Ánh sáng của cách mạng đã làm thay đổi hai cuộc đời, hai thế hệ. Trong
Cứu đất cứu mường, bà Ảng nhân vật chính được Tô Hoài miêu tả khác nhau
giữa hai cuộc đời mới và cũ. Cô Ảng khi còn trẻ đẹp và tài giỏi nức tiếng ở
Mường Cơi nhưng lại phải lấy một ông lão sáu mươi tuổi, rồi lão chết, cô phải
hầu hạ hết tên quan này đến quan khác. Lúc có con không quan nào chịu nhận.
Cô mang tội chửa hoang phải nộp làng hai mươi đồng bạc xòe, theo lệ làng cũng
không có ruộng cày nên cô phải bán con đi. Thời gian đã khiến cô Ảng xinh đẹp
ngày nào trở thành một bà lão. Khi ánh sáng cách mạng đến với bà Ảng từ khu
du kích Phiềng Sa. Bà đã được tự do làm chủ cuộc đời mình.
Trong Mường Giơn, ông Mờng tiêu biểu cho người nông dân nghèo miền
núi: lầm lì, ít nói nhưng gan góc bướng bỉnh, đối với giặc bề ngoài có vẻ sợ sệt
nhưng bên trong thì chất chứa căm thù và có tinh thần bất khuất. Tâm hồn ông
chất phác, chân thật nhưng không bao giờ tin lũ giặc. Ông hiểu rằng: “Ở với
quân ác thì không thể nhìn mặt nhau được” và “Làng mày rào nổi nhưng cái
bụng người ta mày không rào nổi đâu” [7, 119].
Tô Hoài còn nhấn mạnh sự đổi thay về nhận thức và hành động nhờ cách
mạng trong hình ảnh lớp thanh niên mới như Sạ, Ính, A Phủ, Mỵ. Ở Sạ, người
thanh nên nông dân luôn cay cực với số phận ở rể của mình, yêu tha thiết nhưng
vẫn bị gò bó trong tục lệ phong kiến. Khi giặc về, tình yêu đổ nát, cuộc đời anh
tưởng không còn nữa. Nhưng khi được bộ đội cứu thoát và rèn luyện anh đã trở
thành người cán bộ về gây cơ sở ở làng. Ra đi Sạ mang mối thù giặc và tình yêu
thương đồng bào bên mình. Một nhân vật cũng được Tô Hoài chú ý nhiều trong
những đóng góp về bút pháp nghệ thuật. Sáu mươi năm cầm bút, ngòi bút Tô
Hoài đã trở nên thành thạo, linh hoạt, thích nghi từng hoàn cảnh, trường hợp.
Khi miêu tả một cảnh đẹp, một cuộc vui, không khí gia đình đầm ấm,ông biết
cách kết hợp màu sắc, hình ảnh, nhạc điệu vào khiến đoạn văn vừa như một
khúc nhạc, một bài thơ, một bức tranh. Khi nói về không khí nổi dậy chống phá
địch của đồng bào lời văn ông dồn dập, khúc chiết.
Truyện Tây Bắc còn lôi cuốn người đọc bởi chất thơ đậm đà , trong sáng.
Hoàng Trung Thông đã nhận xét rằng: “Phong cảnh và con người đẹp đẽ của
Tây Bắc được ngòi bút của Tô Hoài vẽ nên với một sức rung động thơ”
20
[7, 228]. Chất thơ ấy toát lên từ nội dung tác phẩm, chất thơ ấy còn thấm đượm
trong bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc tươi sáng và đường nét uyển chuyển
của núi rừng Tây Bắc, làm nền cho những cảnh sinh hoạt giàu chất trữ tình của
con người.
Tiểu kết
Khi nghiên cứu về văn học nói chung hay một tác giả nói riêng, tác phẩm
được coi là đối tượng xem xét trực tiếp và chủ yếu. Chỉ từ tác phẩm mới mở ra
các bình diện để phân tích khác: tác phẩm với tác giả, tác phẩm với hiện thực,
thời đại, tác phẩm với người đọc, với truyền thống văn hóa, tư tưởng, nghệ
thuật. Đối với từng tác phẩm, nội dung và hình thức là phạm vi chủ yếu thể hiện
giá trị tư tưởng và nghệ thuật của nó. Hai yếu tố này có mối quan hệ gắn bó mật
thiết với nhau. Nhà văn Xô Viết Lêônốp đã khái quát: “Tác phẩm nghệ thuật
đích thực, nhất là tác phẩm ngôn từ, bao giờ cũng là một phát minh về hình thức
và một khám phá về nội dung” [10, 258]. Trong nội dung tác phẩm, đề tài đóng
một vai trò quan trọng. Nó là cơ sở để nhà văn khái quát những chủ đề và xây
dựng những hình tượng, những tính cách điển hình.Mỗi tác giả luôn tìm cho
mình những đề tài để phát huy khả năng sáng tạo văn chương,khai phá những
vùng đất văn học mới.
Tô Hoài là nhà văn có sự gắn bó sâu sắc với đề tài miền núi. Nó đã trở