SKKN Đổi mới phương pháp dạy học qua tác phẩm Dế mèn phiêu lưu ký của nhà văn Tô Hoài - Pdf 26

\

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC QUA
TÁC PHẨM "DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ"
CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI
\
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết việc "Đổi mới phương pháp dạy học" được thực hiện
hơn mười năm qua. Với mục tiêu tổng quát của chương trình Ngữ văn THCS được
cụ thể hoá trong việc dạy của thầy, việc học của trò trên ba phương diện: kiến
thức, kĩ năng và thái độ, tình cảm. Về kĩ năng, chương trình nhấn mạnh: Trọng tâm
rèn luyện kĩ năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho học sinh có kĩ năng nghe, đọc,
nói , viết Tiếng Việt thành thạo theo các kiểu văn bản và có kĩ năng sơ giản về
phân tích tác phẩm văn học, bứơc đầu có năng lực cảm nhận và bình giá văn học.
Để thực hiện mục tiêu rèn luyện kĩ năng nói trên, việc dạy học Ngữ văn được
tiến hành theo phương pháp tích hợp. Phương pháp tích hợp đòi hỏi học sinh học
tập một cách sáng tạo, vừa kết hợp các yếu tố đồng qui giữa ba phân môn: Văn

giới loài vật hết sức sinh động, trong sáng và ngộ nghĩnh. Điều đáng nói hơn là cái
thế giới loài vật ấy thật gần gũi với lứa tuổi thiếu niên. Những sự việc cụ thể,
những mẩu chuyện hồn nhiên được tái hiện đúng như cái thế giới trong trẻo, hồn
nhiên, ngộ nghĩnh của tuổi thơ. Không chỉ thế, thế giới ấy cũng mở ra cho người
lớn những liên tưởng phong phú, những ngẫm nghĩ không cùng về những mặt nào
đó trong cuộc sống xã hội.
"Bài học đường đời đầu tiên" là đoạn trích trong chương đầu của tác phẩm,
được coi như màn tự giới thiệu của nhân vật trung tâm Dế Mèn. Tài năng và lòng
yêu mến trẻ thơ đã giúp Tô Hoài sáng tạo một câu chuyện có ý nghĩa thật sâu sắc.
Chỉ đọc một đoạn này thôi ta cũng hiểu rõ điều đó. Bài học đầu đời của của Dế
Mèn là một bài học có tính luân lý, đạo đức nhưng nó không hề khô khan, trìu
tượng như một bài học đạo đức mà rất sinh động. Nó có tác động mạnh mẽ sâu xa
vào tâm hồn bạn đọc nhỏ tuổi qua hình tượng Dế Mèn với biệt tài liên tưởng, dẫn
dắt chuyện hết sức sinh động và hấp dẫn của nhà văn.
Chúng ta vẫn còn nhớ, trong chương trình cải cách giáo dục năm 1985, tác
phẩm "Dế Mèn phiêu lưu kí" cũng đã được đưa vào trong chương trình Văn học
lớp 6 - Tập I, gồm 6 tiết với các đoạn trích: "Tôi sống độc từ thuở bé - một sự ngỗ
nghịch đáng ân hận suốt đời" (Trích chương I); "Tranh hùng với võ sỹ bọ ngựa -
Chánh phó thủ lĩnh tổng châu chấu - thề rằng sinh tử có nhau " (Trích chương
VI); "Lại một chuyện rủi ro với các bạn kiến - Sự tức giận của mấy cô bé học trò -
Ai có công nhất" (Trích chương IX). Với ba đoạn trích trên, chúng tôi thiết nghĩ
rằng người chủ biên chương trình muốn cho học trò biết được sự phát triển nhân
cách của nhân vật Dế Mèn. Từ một kẻ tự cao, tự đại, cho rằng trong thiên hạ không
ai bằng mình cho nên đã gây nên cái chết thương tâm cho Dế Choắt, từ đó mới rút
ra bài học đường đời đầu tiên cho bản thân. Đến việc "Tranh hùng với võ sỹ bọ
ngựa" tính nết của Dế Mèn đã hoàn toàn thay đổi: Qua cuộc đấu võ, Dế Mèn đã tỏ
ra là một võ sỹ tài ba, có mưu lược và biết ứng phó kịp thời nhưng rất khiêm tốn và
không màng danh vọng ( mặc dầu khi đánh thắng xứ này họ yêu cầu làm thủ lĩnh).
Đến đoạn trích thứ 3 "Lại một chuyện rủi ro với các bạn kiến - Sự tức giận của
mấy cô bé học trò - Ai có công nhất" thì Dế Mèn không còn là một gã dế hung

xét đánh giá như:
- Tác giả Lê Lưu Oanh trong cuốn "Bình giảng văn học lớp 6"
- Nhóm tác giả Nguyễn Đăng Điệp, Đỗ Việt Hùng, Vũ Băng Tú trong cuốn
"Ngữ Văn 6 nâng cao".
- Nhóm tác giả Tạ Đức Hiền, Nguyễn Kim Thoa, Lê Thuận An trong cuốn
"Nâng cao Ngữ văn 6".
- Nhóm tác giả Trần Đình Sử, Nguyễn Cẩn, Văn Giá, Nguyễn Xuân Lạc trong
cuốn "Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học văn 6.
Nói chung, các bài viết trên đã phân tích được vẻ đẹp hình thức và nội dung
của đoạn trích. Nhưng đó mới chỉ là tài liệu tham khảo để giáo viên hiểu thêm về
tác giả , tác phẩm chứ chưa phải là những chỉ dẫn thiết thực cho giờ dạy văn theo
\ quan điểm tích hợp và như vậy cũng chưa thể hiện được dụng ý của người chủ
biên.
Thực tế hiện nay, trên thị trường sách, ngoài những tài liệu trên đã có thêm rất
nhiều sách tham khảo nhưng đọc, nghiên cứu kỹ thì các tài liệu ấy thường có nội
dung na ná giống nhau, chưa có điểm gì mới. Do vậy, khi giảng dạy giáo viên
thường dựa vào hai tài liệu chính đó là "Sách giáo viên Ngữ văn 6 - tập II" của Bộ
giáo dục và đào tạo và sách "Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 6 - Quyển 2" của Nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Chúng tôi đã xem hai cuốn này như một sự gợi
mở hướng đi trong quá trình giảng dạy. Nhưng ở hai cuốn này vẫn còn những vấn
đề cần bàn bạc.
Đối với cuốn "Sách giáo viên Ngữ văn 6 - Tập II", khi dạy văn bản này, các
hoạt động chủ yếu bám vào câu hỏi hướng dẫn "Đọc - Hiểu văn bản" trong sách
giáo khoa mà chưa có một tiêu đề hợp lý:
- Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh đọc và tìm hiểu chung về bài văn (Câu 1-
SGK)
- Hoạt động 2: Phân tích hình ảnh Dế Mèn trong đoạn 1 của bài văn (Câu 2 -

phẩm không thể không thông qua ngôn từ, nhưng cái chính là giáo viên biết hướng
học sinh chỉ ra được tính nghệ thuật, tính hiệu quả của ngôn từ, của cách viết, cách
nói trong tác phẩm chứ không giải mã nó một cách khô cứng, máy móc. Chính vì
vậy, sau khi đã tham khảo giáo viên phải tự đầu tư suy nghĩ để lựa chọn phương
pháp dạy học thích hợp nhất, làm thế nào để học sinh chiếm lĩnh được kiến thức
một cách dễ dàng và hiệu quả nhất theo quan điểm dạy học như trên đã nêu.
II- CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy, được dự giờ của các đồng nghiệp tôi
nhận thấy: dạy học theo quan điểm tích hợp có rất nhiều ưu thế. Trong giờ dạy văn
những kiến thức kỹ năng của 3 phân môn không còn bi coi như những mảng kiến
thức độc lập, tách rời mà đã được dạy trong mối liên hệ hỗ trợ lẫn nhau trong từng
giờ dạy. Bởi thế nó vừa tạo nên được tính tích cực trong hoạt động của học sinh,
vừa hình thành rèn luyện được cho các em kiến thức kỹ năng một cách toàn diện
hơn. Thế nhưng trong giảng dạy vẫn bộc lộ rõ một số nhược điểm đáng kể, đó là:
sự hiểu biết, vận dụng phương pháp theo hướng tích cực vào quá trình dạy học ở
một số giáo viên còn tỏ ra quá máy móc, thô cứng và làm ảnh hưởng không nhỏ
đến việc thực hiện mục tiêu bài học.
Không ít giáo viên cho rằng: một giờ học sử dụng được nhiều kiến thức của
các phân môn, sự tích hợp được thực hiện trên một diện rộng xem đó là phương
pháp tốt. Song họ quên rằng, sự tích hợp ấy đã thích hợp chưa, có tác dụng gì
không?
Tôi xin nêu ra đây một số ví dụ từ thực tế mà giáo viên đã thể hiện khi dạy
văn bản "Bài học đường đời đầu tiên".
Ví dụ: Khi tìm hiểu về hình ảnh Dế Mèn ( Bức chân dung tự hoạ - Phần 1
của văn bản). Sau khi học sinh phát hiện các chi tiết và nhận xét được nghệ thuật
miêu tả trong phần một (động từ, tính từ, so sánh ), giáo viên hỏi như sau:
Hỏi: Trong các tính từ ấy, đâu là tính từ chỉ màu sắc, đâu là tính từ chỉ tính
chất?
\


trong bài sao cho phù hợp với việc thực hiện phương pháp tích hợp.
Có thể trong văn bản, có nhiều kiến thức liên quan đến những bài Tiếng
Việt, Tập làp văn đã học hoặc sẽ học thì giáo viên cần lựa chọn những đơn vị kiến
thức nào để góp phần soi sáng cho vẻ đẹp của tác phẩm văn chương (văn bản) giúp
học sinh mà mở ra được hướng đi có hiệu quả trong việc khám phá giá trị tác
\ phẩm. Như vậy qua giờ dạy có thể củng cố kiến thức cũ cho học sinh, nhưng quan
trọng hơn là rèn luyện cho các em kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để xử lý một
vấn đề mới trước mắt chứ không phải chỉ là để học sinh nhắc lại kiến thức cũ một
cách đơn thuần nhạt nhẽo.
Đồng thời việc tích hợp phải được thực hiện một cách nhuần nhuyễn, đúng
lúc, đúng chỗ.
Ở trên chúng ta đã nói chương trình SGK được xây dựng theo nguyên tắc
tích hợp nhưng không có nghĩa là phủ nhận đặc trưng riêng của từng phân môn.
Nếu chúng ta sử dụng phương pháp không đúng lúc đúng chỗ thì sẽ làm ảnh
hưởng đến quá trình tiếp nhận - khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn chương. Có
nghĩa là làm mất đi chất văn của văn bản, không đảm bảo được nét đặc trưng của
phương pháp dạy văn.
Nhận thức rõ được những điều đó chính là điều kiện để dạy hiệu quả hơn đối
với văn bản "Bài học đường đời đầu tiên".
IV- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ĐỀ TÀI:
1- Đối tượng:
Là học sinh khối 6, đặc biệt là những lớp tôi đang trực tiêp giảng dạy năm học
2011 - 2012
2- Phạm vi nghiên cứu
Một số phát hiện mới về phương pháp dạy học tích cực đối với bài: "Bài học
đường đời đầu tiên"
V- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

TIÊN"
Theo phân phối chương trình thì văn bản này được học trong 2 tiết:
Tiết 1: Dành cho giới thiệu bài, tìm hiểu chung và tìm hiểu phần I của văn bản.
Tiết 2: Các nội dung còn lại, có thể đọc thêm tại lớp một vài đoạn khác trong
truyện "Dế Mèn phiêu lưu ký". Trong phần này, tôi xin nêu lên một số vấn đề có
tính chất bổ sung mà theo tôi là cần thiết trong khi dạy bài này.
1- Vấn đề giới thiệu tác giả, tác phẩm:
Do thời gian có hạn, chỉ được dạy trong 2 tiết mà đây là một tác phẩm lớn,
nổi tiếng của nhà văn Tô Hoài viết cho thiếu nhi, vậy giáo viên nên tạo điều kiện
và khuyến khích học sinh tìm đọc truyện "Dế Mèn phiêu lưu ký" ở nhà, đến lớp
cho học sinh kể lại rồi giáo viên bổ sung trong phần giới thiệu chung về tác phẩm.
Có như thế học sinh mới nắm bắt được cả tác phẩm chứ không phải chỉ là đoạn
trích này.
Trước khi vào bài giảng, cần dành 10 phút giới thiệu chung về tác giả, tác
phẩm. Giáo viên dựa vào phần chú thích (*) của Sách giáo khoa . Cần lưu ý một số
điểm:
- Truyện "Dế Mèn phiêu lưu ký": Ghi lại những cuộc phiêu lưu của Dế Mèn
(kí là thể văn ghi chép, thuật lại những việc, câu chuyện đã xẩy ra). Trong tác
phẩm, Tô Hoài tưởng tượng ra lời của một con dế tự kể về mình, về những cuộc
phiêu lưu và những điều mắt thấy tai nghe, những sự việc đã xẩy ra trong những
\ cuộc phiêu lưu ấy. Làm như thế sẽ có nhiều cái lợi. Thứ nhất, nó tạo cho câu
chuyện có vẻ khách quan và tự nhiên hơn. Thứ hai, khi tự kể về mình dưới hình
thức tự truyện, chú Dế Mèn cũng có dịp giãi bày tường tận với bạn đọc những tâm
sự sâu kín, những xúc cảm chân thành trên đường đời và cả những nỗi ân hận mà
chú đã phải trải qua.
- Truyện "Dế Mèn phiêu lưu ký" viết về thế giới loài vật nhỏ bé ở đồng quê rất
sinh động, hóm hỉnh, đồng thời cũng gợi ra những hình ảnh của xã hội con người


phương diện: Dế Mèn rất đẹp, rất cường tráng và cũng rất kiêu căng tự phụ về vẻ
đẹp và sức mạnh của mình, nên đã xem thường mọi người.
Hàng loạt những tính từ đặc tả (đen nhánh, mẫm bóng, nhọn hoắt, hủn hoẳn,
ngoàm ngoạp, khoan thai ) được kết hợp với những động từ chỉ về hoạt động
khiến cho Dế Mèn trở nên mạnh mẽ dứt khoát (đạp phanh phách; vũ phành phạch,
nhai ngoàm ngoạp ) khiến người đọc người nghe hình dung rất rõ, rất sinh động
về Dế Mèn, cảm nhận được tính cách và cả những hậu quả do tính cách tự mãn ,
tính khoe khoang của nó gây nên.
Tác giả rất tài tình khi sử dụng nghệ thuật nhân hoá. Tô Hoài đã để cho Dế
Mèn tự hoạ về chân dung của mình vô cùng sống động. Loài vật ở đây cũng biết
nói năng, suy nghĩ, cũng có tình cảm, tâm lý và các quan hệ như ở con người.
Nhưng chúng không bị biến thành những biểu tượng thuần tuý nhằm nêu lên
những bài học luân lý, đạo đức như trong truyện ngụ ngôn mà vẫn là hình tượng
sinh động, đúng với hình ảnh của loài vật trong thế giới tự nhiên. Mỗi lời đối thoại
của Dế Mèn cùng Dế Choắt và các loài khác trong tác phẩm chẳng khác nào
những lời đối thoại của thế giới loài người. Những giây phút kiêu căng, những
hành động thiếu suy nghĩ, những giọt nước mắt muộn màng và những suy tư, ăn
năn hối hận tạo nên sự sinh động trong tính cách Dế Mèn, nó chẳng khác gì tính
cách của một con người.
4- Nghệ thuật miêu tả loài vật: (Tích hợp với phần Tập làm văn)
Sản phẩm của những trang viết miêu tả thành công là phải làm cho người đọc
hình dung rõ mồn một trước mắt mình về cảnh vật, con người được miêu tả. Lấy
chuẩn đó để đo và kết luận thì không ai dám nghi ngờ về tài năng của Tô Hoài
trong "Dế Mèn phiêu lưu ký". Nhờ óc quan sát tinh tế, tỷ mỷ, trí tưởng tượng
phong phú và nghệ thật miêu tả bậc thầy, đoạn văn miêu tả (chàng dế thanh niên
cường tráng) có thể xem là đoạn văn mẫu mực về tả loài vật mà Tô Hoài đem đến
cho người đọc. Nhà văn Tô Hoài đã dựng lên trước mắt chúng ta bức chân dung
Dế Mèn hấp dẫn đến từng chi tiết: Đôi càng mẫm bóng, những cái vuốt, ở khoeo
cứng dần và nhọn hoắt; đầu to và nổi từng tảng, rất bướng; sợi râu dài uốn cong rất

Mèn. Một chàng dế có vẻ đẹp khoẻ mạnh cường tráng nhưng tính nết lại kiêu
căng, xốc nổi đã gây nên cái chết thảm thương cho người bạn hàng xóm, từ đó hối
hận và rút ra bài học đường đời đầu tiên cho mình.
- Nắm được những đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả loài vật, cách kể chuyện
theo ngôi kể thứ nhất tự nhiên, hấp dẫn. Cách sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân
hoá so sánh phù hợp khéo léo, từ ngữ chính xác, giàu tính tạo hình.
- Rèn luyện được kỹ năng đọc, kể : lời đối thoại phù hợp với tính cách các nhân
vật, tả loài vật.

B- Tiến trình tổ chức các hoạt động:
Hoạt động 1: Ổn định tổ chức lớp.
Hoạt động 2: Kiểm tra vở soạn của học sinh.
(Đây là tiết học đầu tiên của chương trình học kỳ II nên giáo viên chỉ kiểm
tra vở soạn của học sinh để nắm được tình hình chuẩn bị của các em ở nhà như thế
\ nào, cách soạn, cách làm đã đúng với yêu cầu chưa. Từ đó, kịp thời nhắc nhở, uốn
nắn tạo kỹ năng thành thạo cho việc soạn bài ở nhà).
Hoạt động 3: Bài mới
Tiêt 1:
Giới thiệu bài mới: Cho học sinh xem chân dung Tô Hoài, xem cuốn truyện
"Dế Mèn phiêu lưu ký" và giới thiệu nội dung bài học:
Trên thế giới và ở nước ta có những nhà văn nổi tiếng gắn bó cả đời viết của
mình cho đề tài trẻ em - một trong những đề tài khó khăn và thú vị bậc nhất. Tô
Hoài là một tác giả như thế. Truyện "Dế Mèn phiêu lưu ký" là một truyện đã và
đang được được nhiều người hâm mộ với nhiều lứa tuổi khác nhau - đặc biệt là lứa
tuổi thiếu niên chúng ta. Nhưng Dế Mèn là ai? Chân dung và tính nết như thế nào?
Bài học cuộc đời đầu tiên mà anh ta nếm trải ra sao? Đó chính là nội dung bài học
đầu tiên của học kỳ II này.

của tuổi thơ, thể hiện tình yêu thương, sự
trân trọng đối với những mầm tươi mới
đang cần được bồi đắp để bước vào đời .
- Bút danh Tô Hoài thể hiện tình yêu quê
hương, đặc biệt là quê ngoại, nơi có con
sông Tô Lịch chảy qua phủ Hoài Đức.
Tác giả đã ghép tên địa danh quê hương
thành bút danh của mình.
- Trước Cách mạng tháng 8/1945 ông đã
\ H: Trình bày những điểm cơ bản lớn
nhất về tác phẩm "Dế Mèn phiêu lưu
ký"?
* GV giải thích tên của tác phẩm
"Dế Mèn phiêu lưu ký": Ghi lại những
cuộc phiêu lưu của Dế Mèn. (Ký là thể
văn ghi chép, thuật lại những sự việc,
câu chuyện đã xẩy ra). Trong tác
phẩm, Tô Hoài đã tưởng tượng ra lời
của một con dế tự kể về mình và những
cuộc phiêu lưu, những điều mắt thấy
tai nghe những sự việc đã trải qua
trong các cuộc phiêu lưu ấy.
H: Nêu vị trí của đoạn trích "Bài học
đường đời đầu tiên"


c- Vị trí của đoạn trích:
Trích từ chương I của tác phẩm. Ở
chương này Dế Mèn tự giới thiệu về
mình, đặc biệt kể về một câu chuyện
đáng ân hận - một bài học đường đời đầu
tiên của mình.
2- Đọc - Tìm hiểu chung:
a- Đọc: GV nêu hướng dẫn đọc: Đoạn
Dế Mèn tự tả về chân dung đọc: to, vang,
giọng tự hào, kiêu hãnh, chú ý đến những
tính từ, động từ miêu tả. Đoạn trêu chị
Cốc:đọc giọng trịch thượng của Dế Mèn;
giọng Dế Choắt thì yếu ớt rên rỉ; giọng
chị Cốc thì đáo để, tức giận. Đoạn Dế
Mèn hối hận thì đọc giọng chậm, buồn,
sâu lắng và có phần bi thương.
b- Kể tóm tắt đoạn trích:
\

- Cho học sinh kể tóm tắt đoạn trích.
- Cho học sinh tìm hiểu các chú thích
(3, 12, 30)


hôi như cú mèo > Việc sử dụng một số thành ngữ và
một số quán ngữ (chết ngay đuôi, nói
thẳng thừng, không dám ho he, bắt chân
chữ ngũ ): Là lời ăn tiếng nói hàng ngày
của nhân dân ta vừa gần gũi, vừa gợi tả
làm cho tác phẩm trở nên gần gũi, sinh
động, phù hợp với tâm lý trẻ thơ nói
riêng và người Việt Nam nói chung. Đây
là một trong những yếu tố tạo nên sức
hấp dẫn cho tác phẩm.
d- Phương thức biểu đạt, ngôi kể:
* Phương thức biểu đạt: Miêu tả, tự sự,
biểu cảm.

* Ngôi kể: Ngôi thứ nhất. Dế Mèn tự
xưng "tôi".
- Cách kể như vậy tạo nên sự thân mật,
gần gũi đáng tin cậy đối với người đọc.
e- Bố cục: 2 phần.
* Từ đầu > đứng đầu thiên hạ rồi: Chân
dung của Dế Mèn.
* Còn lại: Kể về bài học đường đời đầu
\ Hỏi: Văn bản được viết theo phương
thức biểu đạt nào?

3- Tìm hiểu chi tiết:

a- Bức chân dung tự hoạ của Dế Mèn.

* Hình dáng:
- [ ] Tôi đã trở thành một chàng dế
thanh niên cường tráng .`
- Đôi càng: mẫm bóng.
- Vuốt: cứng, nhọn hoắt
- Đôi cánh: thành áo dài kín chấm đuôi.
- Đầu: to và nổi từng tảng, rất bướng.
- Răng: đen nhánh
- Râu dài, uốn cong
> Miêu tả đôi càng. Vì đôi càng vừa thể
hiện sức mạnh vừa là vũ khí lợi hại của
riêng nhà Dế.
GV: Trong văn miêu tả thường có một
trình tự nhất định, nhưng đây chính là
chủ ý của tác giả nhằm nhấn mạnhđặc
điểm nổi bật nhất của nhân vật nên đã
sắp xếp như thế. Điều đó thể hiện về tài
năng quan sát tinh tế, sự am hiểu tường
tận về thế giới loài vật của tác giả Tô
Hoài.
* Hành động:
- Đạp phanh phách
- Vũ phành phạch
- Nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm
máy
- Đi đứng oai vệ [ ] mỗi bước đi, tôi làm

H: Em có nhận xét gì về cách dùng từ
và sử dụng các biện pháp nghệ của tác
giả khi miêu tả về hình dáng và hành
động của Dế Mèn?
> Từ ngữ chọn lọc tiêu biểu đặc sắc,
dùng nhiều tính từ, động từ gợi tả, gợi
hình ; sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân
hoá, so sánh độc đáo, sinh động.
>Dế Mèn là một chàng Dế đẹp đẽ, khoẻ
khỏe mạnh, hùng dũng cường tráng tràn
đầy sức sống, tự tin yêu đời và rất hấp
dẫn.
*Với mọi người trong xóm:
- Dám cà khịa tất cả bà con trong xóm
- Quát mấy chị Cào Cào
- Đá ghẹo anh Gọng Vó
> Qua cách cư xử ấy Dế Mèn đã bộc lộ
tính cách của mình, đó là: hung hăng,
hống hách, coi thường mọi người, cậy
mình có sức mạnh đã bắt nạt kẻ yếu.
> Vì Dế mèn mới lớn, sống trong một
thế giới nhỏ bé, xung quanh toàn là
những người hiền lành, quen thuộc nên
lầm tưởng sự ngông nghênh của mình là
tài ba, giỏi giang.
==>Học sinh trình bày, giáo viên nh
ận
xét, bổ sung:
+ Miêu tả cụ thể, tỷ mỷ, với những tính
từ, động từ chọn lọc, gợi tả, gợi hình
H: Qua đó, em có nhận xét gì về nghệ
thuật miêu tả của nhà văn Tô Hoài? hiểu tường tận về thế giới loài vật, tác
giả Tô Hoài đã miêu tả cặn kẽ, chi tiết
bức chân dung của Dế Mèn - Một võ sỹ
kỳ thú, hấp dẫn như một đô vật hình thể
đang biểu diễn các động tác của mình
trước khán giả với vẻ kiêu hãnh, đầy tự
hào.
Học sinh trình bày, giáo viên nhận

xét, khái quát và chốt nội dung:
Dế Mèn là một chàng dế ở tuổi trưởng
thành có vẻ đẹp cường tráng, trẻ trung,
tràn đầy sức sống, tự tin , yêu đời nhưng
còn xốc nổi, kiêu căng, tự phụ, xem
thường mọi người.
- Định hướng thảo luận: Hiểu để tự tin
vào sức mạnh của mình là phẩm chất tốt
nhưng quá kiêu ngạo về sức mạnh đó và


H: Qua sự tìm hiểu trên, em hiểu gì về

Dế Mèn? H: Trong những nét tính cách trên, em
thấy điểm nào đáng quý, điểm nào
đáng chê? Thái độ của em trước những
nét tính cách của Dế Mèn? (Cho học
sinh thảo luận theo nhóm).
H: Qua đoạn trích trên, em học tập
vô cùng sống động và độc đáo.
\ được những gì về nghệ thuật miêu tả


kể của Mèn cho ta biết những gì về Dế
Choắt? b- Bài học đường đời đầu tiên của Dế
Mèn:

* Dế Choắt:
- Choắt là tên tôi đặt cho[ ]
- Choắt nọ [ ] trạc tuổi tôi.
- [ ] gầy gò và dài lêu nghêu như một
gã thuóc phiện.
-[ ] cánh ngắn hủn hoẳn đến giữa lưng
hở cả mạng sườn như người cởi trần
mặc áo gi-lê
- Đôi càng bè bè, nặng nề
- Râu ria gì mà cụt có một mẩu và mặt
mũi thì lúc nào cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ

> Cách kể rất ấn tượng, với khả năng
quan sát tỷ mỷ kết hợp với việc sử dụng
các thành ngữ gần gũi quen thuộc giàu
sức gợi cảm, gợi tả như: ăn xổi ở thì, tắt
\
lửa tối đèn, hôi như cú mèo và biện
nghệ thuật so sánh tài tình tác giả đã vẽ
lên một hình ảnh Dế Choắt hoàn toàn
đối lập với Dế Mèn, đó là một chú Dế
gầy gò, ốm yếu, bệnh tật, xấu xí .
> Dế Mèn coi thường Dế Choắt: việc
đặt tên cho anh bạn hàng xóm là
"Choắt" còn tả Choắt rất xấu (gầy gò,
dài lêu nghêu ) thể hiện cách nhìn chê
bai, diễu cợt. Choắt bằng tuổi Dế Mèn
mà gọi Choắt là "Chú mày", cách xưng
hô ấy tỏ vẻ ngông nghênh, tự phụ,
không coi Choắt ra gì. Đó là thái độ

trịch thượng, ra vẻ đàn anh kẻ cả. Còn
len giọng chế diễu, khinh thường khi
Choắt đề nghị giúp đỡ: "Hức! Thông
ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ! Chú
mày hôi như cú mèo thế này ai mà chịu
đươc[ ] Đào tổ nông thì cho chết!"
> Với lời nghề nghị của Dế Choắt, Dế
Mèn không thông cảm giúp đỡ mà còn
quát mắng thậm tệ, tỏ vẻ khinh khỉnh rồi
bỏ đi. Điêu đó chứng tỏ rằng: Dế Mèn là
một kẻ ích kỷ , hẹp hòi , sống chỉ biết


là tình huống nào?

* Dế Mèn trêu chị Cốc:
Mèn được thể hiện qua các sự việc, các
hành động và ngôn ngữ của nhân vật.
Lúc đầu Mèn còn hênh hoang trước Dế
\

H: Hãy bàn luận về hành động này của
Dế Mèn?

.

GV nhận xét, bổ sung và bình:
Tác giả đã hoá thân vào nhân vật (kể
theo ngôi thứ nhất) nên rất tự nhiên,
chân thật, hấp dẫn và cách miêu tả diễn
biến tâm lý của nhân vật rất tinh tế, hợp
lý, sinh động, làm cho người đọc hiểu
được đây là một đứa trẻ mới lớn nông
nổi, hiếu động, ngỗ ngược. Huyênh
hoang đối với những kẻ yếu dễ bắt nạt
nhưng lại run sợ, hoảng hốt trước kẻ
mạnh. Để rồi từ đó rút ra một bài học
nhân sinh và đạo lý thấm thía.

"Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có
óc mà không biết nghĩ, sớm muộn rồi
cũng mang vạ vào mình đấy."
\

H: Tìm những chi tiết miêu tả hành

==> Bài hoc về:
- Thói kiêu căng: kẻ kiêu căng, tự phụ
có thể làm hại người khác khiến phải ân
hận suốt đời.
- Tình thân ái: Nên sống đoàn kết, nhân
ái, mình vì mọi người. Đặc biệt là phải
yêu thương giúp đỡ những người khó
khăn, hoạn nạn. GV: Bài học của Dế Mèn cũng là bài
học bổ ích đối với lớp trẻ chúng ta
Nhà văn Tô Hoài đã cài vào trong câu
chuyện về bài học nhân sinh và đạo lý
nhưng không khô khan, trừu tượng mà
rất sâu sắc và thấm thía.
-


động
- Cách kể chuyện theo ngôi thứ nhất tự
nhiên, hấp dẫn.
- Ngôn ngữ chính xác, gợi hình, gợi cảm
kết hợp với các biện pháp tu từ nhân hoá
và so sánh đã bộc lộ được chủ đề tư
tưởng mọt cách tự nhiên, dễ thuyết
phục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status