Đổi mới phương pháp dạy học về đại lượng và đo đại lượng ở lớp 5A
3
Trường tiểu học Mỹ Phước A
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
-Trong thời đại ngày nay, giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu. Vì
vậy, để xây dựng nền tảng cách mạng vững chắc thì giáo dục đóng vai trò quan
trọng nhất. Lời của Bác năm xưa vẫn in đậm trong tâm trí mỗi con người Việt
Nam “ Vì lợi ích mười năm trồng cây – Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Thật
vậy, giáo dục là nơi xây dựng và đào tạo nhân tài cho đất nước, cho thế hệ mai
sau, xây dựng một đất nước giàu mạnh, văn minh và hiện đại. Chính vì vậy trong
quá trình giáo dục và giảng dạy, người giáo viên phải luôn chú trọng đến việc
truyền đạt những tri thức cơ bản cho các em, để từ đó có phương pháp giảng dạy
phù hợp nhằm nâng cao chất lượng học tập văn hoá cho các em. Thời gian qua,
giáo dục ở nước ta đã và đang thực hiện những thay đổi trong quá trình dạy học.
Việc đổi mới mục tiêu giáo dục theo hướng toàn diện hơn nhằm đáp ứng cho sự
phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hoà nhập vào sự tiến bộ
chung của khu vực, của thế giới đã được khẳng định rõ trong Luật giáo
dục.Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII, Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng khẳng định : “Giáo dục và Đào tạo
là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhân tài.” Rèn
luyện khả năng sáng tạo cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng của nhà trường phổ
thông. Trong các môn học, môn toán giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nó giúp học
sinh nhiều trong việc rèn luyện trí thông minh sáng tạo. Nó còn giúp các em rèn
luyện nhiều đức tính quý báu khác như: cần cù và nhẫn nại ,tự lực cánh sinh, ý
chí vượt khó, yêu thích chính xác ,ham chuộng chân lý…
-Qua thực trạng, thực tiễn dạy học kết hợp nội dung chương trình sách giáo
khoa mới và trình độ của đối tượng học sinh ngay từ đầu năm nên em đã quyết
Trang 1
Đổi mới phương pháp dạy học về đại lượng và đo đại lượng ở lớp 5A
3
Trường tiểu học Mỹ Phước A
- Khách thể nghiên cứu: Tập thể học sinh lớp 5A
3
Trường Tiểu Học Mỹ
Phước A.
III.Phạm vi nghiên cứu:
-Do điều kiện thời gian và bản thân bận công tác nên phạm vi nghiên cứu của
đề tài em chỉ tìm hiểu trong phạm vi lớp 5A
3
Trường Tiểu học Mỹ Phước A năm
học 2009-2010.
II. PHẦN NỘI DUNG:
Trang 2
Đổi mới phương pháp dạy học về đại lượng và đo đại lượng ở lớp 5A
3
Trường tiểu học Mỹ Phước A
I.Cơ sở lý luận:
-Trong dạy học toán ở trường tiểu học, giải toán chiếm một vị trí đặc biệt
quan trọng. Các bài toán được sử dụng để gợi động cơ tìm hiểu kiến thức, củng
cố, luyện tập kiến thức, giải toán giúp cho việc nâng cao năng lực tư duy của học
sinh.
-Chúng ta đã biết rằng chương trình toán ở tiểu học là chương trình thống
nhất nhưng khả năng tiếp thu bài ở các em không đồng đều. Đối với học sinh khá
giỏi các em dễ dàng tiếp thu và giải được các dạng toán ở nhiều dạng khác nhau.
Tuy nhiên đối với học sinh trung bình khá thường hay có sự nhầm lẫn ở một số
dạng toán. Vì vậy việc chọn phương pháp giải phù hợp là rất quan trọng.
-Quan niệm đổi mới giáo dục hiện nay là phương pháp dạy học dựa trên định
hướng hình thành con người năng động, sáng tạo, nên cách dạy của giáo viên
hiện nay là lấy học sinh làm trung tâm. Để các yêu cầu nêu trên việc lựa chọn
phương pháp dạy học phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí của từng em trong
thức và kinh nghiệm sẵn có, thông thường ở mỗi học sinh đã có một quan niệm,
kinh nghiệm nào đó gần gũi hoặc liên quan tới kiến thức mới, chúng có thể tạo
thuận lợi cho quá trình nhận thức mới của các em. Trong thực tế, một số giáo
viên ít quan tâm đến vấn đề này, tự cho mình quyền áp đặt kiến thức, làm hạn
chế rất nhiều đến việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của mỗi học sinh.
c. Thực trạng học sinh:
- Tiếp thu bài thụ động lười suy nghĩ – nắm bắt kiến thức hình thành kỹ năng
còn chậm.
- Học sinh còn có những hạn chế trong việc nhận thức: tri giác còn gắn với
hành động đồ vật, khó nhận biết được các hình khi thay đổi vị trí, kích thước,
khó phân biệt những đối tượng gần giống nhau. Tư duy chủ yếu là tư duy cụ thể
còn tư duy trừu tượng dần dần hình thành nên học sinh khó hiểu nên học sinh
khó hiểu bản chất của phép đo đại lượng.
- Một số đại lượng khó mô tả bằng trực quan nên học sinh khó nhận thức
được. Phần lớn học sinh không thích học tuyến kiến thức này.
Trang 4
Đổi mới phương pháp dạy học về đại lượng và đo đại lượng ở lớp 5A
3
Trường tiểu học Mỹ Phước A
- Trong thực hành học sinh còn hay nhầm lẫn do không nắm vững kiến thức
mới.
Ví dụ: khi đổi các đơn vị đo diện tích, thể tích các em còn nhầm lẫn đổi thành
đơn vị đo độ dài
3.Giải Pháp đề ra:
-Để giải được các bài toán ngoài việc nắm vững các kiến thức còn cần phải có
kĩ năng giải toán, kinh nghiệm cá nhân tích luỹ được trong quá trình học tập,
giáo viên có vai trò trong việc giúp học sinh nắm vững một số phương pháp giải
toán.
-Trong quá trình thực hiện giải pháp trên, điều em suy nghĩ trước tiên là làm
sao để học sinh thực sự yêu thích môn Toán . Để làm tốt những vấn đề trên cần
trong quá trình học tập ở trên ghế nhà trường.Vì vậy quá trình dạy học bao gồm
cả dạy tự học. Đề cao vai trò chủ thể của học sinh trong học tập chính là điều
kiện quan trọng trong việc dạy tự học. Bởi vì các em là “sự biến đổi bản thân
mình trở nên có giá trị, bằng nổ lực của chính mình để chiếm lĩnh những giá trị
mới lấy từ bên ngoài là một hành trình nội tại, được cắm mốc bởi kiến thức,
phương pháp tư duy là sự thực hiện tự phê bình, để tự tìm hiểu bản thân mình.”
c. Đưa cái mới vào dạy học một cách hợp lí để tạo ra sự phát triển mới để
nâng cao hiệu quả đào tạo mà vẫn giữ được ổn định.
-Đổi mới phương pháp dạy học trên cơ sở phát huy mặt tích cực của các
phương pháp dạy học truyền thống.
-Các phương pháp dạy học truyền thống gồm: quan sát, hỏi-đáp, thuyết
trình….trong khi sử dụng các phương pháp này, giáo viên phải sử dụng nó theo
quan điểm phát triển, kích thích và phát huy vai trò chủ động, tích cực nhận thức
của người học. Giáo viên không nên làm bài thay tất cả cho học sinh mà nên tăng
cường tối đa sự tham gia của học sinh và giảm đến mức tối thiểu sự áp đặt của
giáo viên trong quá trình dạy học.
Trang 6
Đổi mới phương pháp dạy học về đại lượng và đo đại lượng ở lớp 5A
3
Trường tiểu học Mỹ Phước A
-Liên quan đến việc đổi mới phương pháp dạy học, đòi hỏi phải được cải tiến
thiết bị dạy học, hình thức dạy học và kiểm tra đánh giá trong dạy học.
1.2. Nội dung chương trình "Đại lượng và đo đại lượng" Toán lớp 5.
- Ôn tập bảng đơn vị đo độ dài, bảng đơn vị đo khối lượng.
- Bổ sung các đơn vị đo diện tích: dam
2
, hm
2
, mm
2
Đổi mới phương pháp dạy học về đại lượng và đo đại lượng ở lớp 5A
3
Trường tiểu học Mỹ Phước A
Có 2 dạng bài tập thường gặp về chuyển đổi đơn vị đo đại lượng:
Dạng 1: Đổi đơn vị đo đại lượng có một tên đơn vị đo.
+ Đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị bé.
Ví dụ 1: ( Bài 3 trang 153): Viết số thích hợp vào chỗ chấm:
0,5 = cm ; 1,2075km= m ; 0,064kg= g
Khi chuyển đổi tứ đơn vị mét sang cm thí số đo theo đơn vị mới phải gấp lên
100 lần so với đơn vị cũ. Ta có:
0,5 x 100 = 50. Vậy: 0,5m = 50cm.
+ Đổi từ đơn vị bé ra đơn vị lớn:
Ví dụ 2: (Bài 3 trang 154): Viết số thích hợp vào chỗ chấm:
3576m= km ; 53cm = m ; 5360kg = tấn.
Khi chuyển đổi tứ đơn vị cm sang đơn vị m thì số đo tiếp theo đơn vị mới
phải giảm đi 100 lần so với đơn vị cũ. Ta có:
53 : 100 = 0,53. Vậy 53cm = 0,53m.
Trong thực tế chuyển đổi số đo đại lượng ( trừ số đo thời gian) học sinh có
thể dùng cách dịch chuyển dấu phẩy: Cứ mỗi lần chuyển sang hàng đơn vị liền
sau (liền trước) thì ta chuyển dấu phẩy sang trái ( sang phải):
.1 chữ số đối với số đo độ dài và khối lượng.
.2 chữ số đối với số đo diện tích.
. 3chữ số đối với số đo thể tích.
Ví dụ: a. 4,3256km = m.
Từ km đến m phải qua 3 lần chuyển sang đơn vị(độ dài) liền sau ( km hm
dam
m) nên ta chuyển dấu phẩy sang phải 3 chữ số.
4,3256km = 4325,6m.
b. 156mm
2
2
( đánh dấu
phẩy trước chữ số 0 viết thêm một chữ số 0 nữa trước dấu phẩy).
Ta có: 156mm
2
= 0,0156dm
2
.
Dạng 2: Đổi số đo đại lượng có tên hai đơn vị đo:
- Đổi từ số đo có 2 tên đơn vị sang số đo có 1 tên đơn vị đo.
Ví dụ: Viết số thích hợp vào chỗ chấm:
5 tấn7kg = kg ; 17dm
2
32cm
2
= dm
2
; 2dcm
2
5mm
2
= cm
2
.
Học sinh có thể suy luận và tính toán:
5tấn 7kg = 5tấn + 7kg = 5000kg + 7kg = 5007kg.
Hoặc có thể nhẩm: 5(tấn) 0(tạ) 0(yến) 7(kg). Vậy 5tấn7kg = 5007kg.
Tương tự học sinh có thể suy luận:
2cm
2
Trường tiểu học Mỹ Phước A
Cách ghi: 5285m = 5km 285m.
b. 3,4 giờ = giờ phút.
Phân tích (cách làm): 1 giờ = 60 phút.
3,4 giờ = 3,4 giờ x 60 phút = 204 phút.
204 phút = 60 phút x 3 + 24 phút = 3 giờ + 24 phút.
Cách ghi: 3,4 giờ = 3 giờ 24 phút.
Hoặc: 3,4 giờ = 3
10
4
giờ = 3 giờ +
10
4
giờ.
10
4
giờ = 60 phút x
10
4
= 24 phút.
Cách ghi: 3,4 giờ = 3 giờ 24 phút.
Lưu ý học sinh: Cần chú ý đến quan hệ giữa các đơn vị đo của từng loại đại
lượng để có thể chuyền đổi đúng các số đo đại lượng theo những đơn vị xác
định, đặc biệt là trong những trường hợp phải thêm hay bớt chữ số 0. Đối với
việc chuyển đổi số đo thời gian cần chú ý học sinh nắm vững quan hệ giữa các
đơn vị đo thời gian và kỹ năng thực hiện các phép tính với số tự nhiên hoặc số
thập phân trong việc giải các bài tập. Đối với diện học sinh đại trà khong nên ra
những bài tập về chuyển đổi đơn vị liên quan đến những đơn vị đo cách xa nhau
hoặc xuất hiện tới 3 đơn vị cùng một lúc.
Ví dụ: 5 ngày 8 giờ = phút.
2
c. 3kg 2hg 2300g.
Hướng dẫn giải:
Bước 1: Chuyển đổi hai số đo so sánh về cùng một đơn vị đo:
a. 8m
2
5dm
2
= 805dm
2
.
b. 6hm
2
15dam
2
= 61500m
2
.
1350dam
2
30m
2
= 135030m
2
.
c. 3kg 2hg = 3200g.
Bước 2: Tiến hành so sánh như so sánh số tự nhiên.
a. 805 = 805.
b. 61500 > 135030.
c. 3200 >2300.
2
- 36m
2
.
Hướng dẫn:
Bước 1: Đặt tính theo cột dọc ( mỗi cột phải cùng tên đơn vị đo).
Bước 2 : Thực hiện tính như các số tự nhiên và giữ nguyên đơn vị đo ở từng
cột.
a. 9m75cm b. 1dam
2
5m
2
0dam
2
105m
2
+
2m43cm
-
36m
2
-
36m
2
11m118cm 0dam
2
69m
2
Bước 3: Quan sát dữ kiện nào thay được vào công thức, còn dữ kiện nào phài
tìm tiếp.
Bước 4: Lập mối liên hệ giữa các yếu tố đã cho vào các yếu tố phải tìm, có
thể lập mối liên hệ giữa các yếu tố đã cho để tìm các yếu tố cần cho công thức
hoặc cần cho những yếu tố phải tìm.
Bước 5: Thay các yếu tố đã cho vào các yếu tố tìm được vào công thức tính
để tính theo yêu cầu bài toán.
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài toán, lập kế hoạch giải theo các bước
trên em cho học sinh trình bày bài giải và kiểm tra đánh giá – khai thác lời giải.
Trang 13
Đổi mới phương pháp dạy học về đại lượng và đo đại lượng ở lớp 5A
3
Trường tiểu học Mỹ Phước A
Song cần lưu ý:
* Về trính bày bài giải:
Cẩn phải xác định về mặt kiến thức và chính xác về phương diện suy luận.
Mỗi phép tính cần có lời giải kèm theo. Cuối cùng phải ghi đáp số để trả lời câu
hỏi đúng.
* Về kiểm tra đánh giá và khai thác lời giải:
- Kiểm tra nhằm phát hiện sai sót nhầm lẫn trong quá trình tính toán .
Thay các kết quả của bài toán vừa tìm được vào bài toán để tìm ngược lại các
dữ kiện đã cho.
- So sánh kết quả với thực tiễn.
- Giải theo nhiều cách xem có cùng kết quả không.
Đây là một việc làm rất quan trọng, sau khi tiến hành xong 3 bước học sinh
thường hay bó qua bước này. Ví thế nhiếu em hay còn nhầm lẫn không biết
chính xác bài làm đúng hay sai.
Dạng toán chuyển động đếu là một trong những dạng toan điển hình do đó
giáo viên vừa rèn được kỹ năng giải dạng toán này vừa rèn được kỹ năng giải
toán.
B
; t
A
= t
B
+
3
2
Lời giải: ( cách thứ nhất).
Thời gian ô tô đi từ A là:
30
s
Thời gian ô tô đi từ B về A là:
40
s
Thời gian chênh lệch giữa hai lần đi, về là:
30
s
-
40
s
=
3
2
(giờ) hay
120
s
=
3
2
Ví dụ: ( Bài 2 trang 141 – Toán 5). Một người đi xe đạp trong 15 phút với
vận tốc 12,6km/giờ. Tính quãng đường người đó đi được.
Bài toán 2: Cho biết quãng đường và thời gian chuyển động, tìm vận tốc:
Công thức giải: Vận tốc = quãng đường : thời gian ( v = s : t).
Ví dụ: ( Bài 1 trang 139 – Toán 5). Một người đi xe máy trong 3 giờ được
105km. Tính vận tốc người đi xe máy đó.
Bài toán 3: Cho biết vận tốc và quãng đường chuyển động, tìm thời gian.
Công thức giải: Thời gian = quãng đưởng chia cho vận tốc ( t = s: v).
Ví dụ: ( Bài 3 trang 143 – Toán 5). Vận tốc bay của một con chim đại bàng là
96km/giờ. Tính thời gian của con đại bàng đó bay được quãng đường 72km.
Loại phức tạp: Từ các bài toán cơ bản tren6ta có các bài toán phức tạp sau:
Bài toán 4a: ( chuyển động ngược chiều cùng lúc).
Hai động tử cách nhau quãng đường S khởi hành cùng lúc với vận tốc tương
ứng là v
1,
v
2
đi ngược chiều nhau để gặp nhau. Tìm thời gian gặp nhau và vị trí
gặp nhau.
Công thức giải: Thời gian để gặp nhau là: t = s: (v
1
+ v
2
).
Quãng đường đến chỗ gặp nhau là: s
1
= v
1
x t ; s
2
1
.
Bước 3: Tìm thời gian gặp nhau:
t = s
2
: ( v
1 +
v
2
).
Bước 4: Tìm vị trí để gặp nhau.
Ví dụ: Hai người ở thành phố A và B cách nhau170km. Một người đi từ A
đến B với v = 40km/giờ, một người đi từ B đến A với v = 30km/giờ. Người đi từ
B xuất phát trước 1 giờ. Hỏi sau bao lâu hai người gặp nhau? ( kể từ lúc người từ
A xuất phát).
Bài toán 5: ( chuyển động cùng chiều, cúng lúc, đuổi nhau).
Yêu cầu tìm thời gian để đuổi kịp nhau và vị trí gặp nhau.
Công thức giải: Thời gian để gặp nhau là:
t = s : (v
1
- v
2
) (v
1
> v
2
)
Quãng đường đến chỗ gặp nhau là: s
1 =
v
- Kỹ năng viết tên đơn vị rõ, đẹp.
- Làm bài tập đạt tốt.
- Cách tính bảng đơn vị đo đại lượng có khoa học.
IV.PHẦN KẾT LUẬN
-Lứa tuổi tiểu học là lứa tuổi trí tuệ và tình cảm đang được phát triển. Cũng từ
đấy các em bước vào một môi trường có học tập đi lên , nó đòi hỏi các em phải
nhớ lâu.
-Biết suy luận và tìm hiểu. Nó đánh dấu mầm móng ban đầu cho sự phát
triển một con người. Vì vậy, giáo viên phải giúp học sinh có thái độ ham thích
Trang 18
Đổi mới phương pháp dạy học về đại lượng và đo đại lượng ở lớp 5A
3
Trường tiểu học Mỹ Phước A
học tập, biết tự rèn luyện và nghiêm túc với bản thân để đạt được kết quả tốt.
Muốn vậy giáo viên phải hết sức kiên nhẫn. Nắm vững giáo án, dạy đúng
phương pháp mới, phát âm chuẩn có kế hoạch rõ ràng trong quá trình giảng
dạy. Thường xuyên trao đổi kết quả học tập của học sinh với phụ huynh.
-Tóm lại: Muốn có tiết dạy tốt, học tốt không thể coi nhẹ việc chuẩn bị đồ
dùng dạy học , thiết kế bài dạy, phiếu giao việc , phiếu học tập, thực hành. Nắm
rõ trình độ của học sinh sẽ giúp giáo viên có cách tổ chức dạy học phù hợp từng
loại tiết, kiểu bài .Để hoạt động của thầy trò nhịp nhàng đồng bộ , tránh tình
trạng giáo viên nói nhiều , làm việc nhiều , giáo viên phải có cơ cấu tổ chức hợp
lí tạo không khí đoàn kết, thân ái, thống nhất một số kí hiệu quy ước làm việc.
+Tôn trọng vai trò chủ động, tích cực của học sinh, quan tâm rèn luyện các
em có nếp tự học, tự làm việc, nghiên cứu, tìm hiểu để nắm được tri thức, chú
trọng phát triển óc sáng tạo, tư duy toán học bồi dưỡng lòng say mê ham thích
học tập, thường sử dụng hình thức vui học phù hợp đặc điểm tâm sinh lí học sinh
tiểu học để lớp học sinh động, không gây nhàm chán, buồn tẻ.Tạo cho các em
mạnh dạng .Tự tin khi trình bày ý kiến của mình, biết trình bày bài làm rõ ràng,
khoa học tính toán cẩn thận, chính xác vận dụng bài học vào thực tiễn.
Người viết Trang 20