SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
LỊCH SỬ 12 THÔNG QUA VIỆC RÈN
LUYỆN HỌC SINH LÀM BÀI TẬP Người thực hiện: Phan Thị Mùi
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 1
- Phương pháp dạy học bộ môn: Lịch sử 1
- Lĩnh vực khác: 1 Có đính kèm:
a. Sử dụng câu hỏi có những yếu tố bài tập nhận thức để học sinh 7
tiếp nhận kiến thức mới:
b. Sử dụng bài tập để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh 12
trong quá trình tiếp thu kiến thức mới.
c. Tổ chức hướng dẫn học sinh làm bài tập lịch sử trong tự học ở nhà: 13
d. Sử dụng bài tập lịch sử trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của 15
học sinh.
e. Sử dụng bài tập lịch sử trong hoạt động ngoại khóa: 18
3. 3: Biện Pháp kiểm tra đánh giá. 18
IV. Ứng dụng vào thực tiễn 18
V. Kết Luận 19
VI. Kết quả thực hiện 19
VII. Những bài học có thể áp dụng 20
Tài liệu tham khảo 21
đi vào cuộc sống:
Tốt * Khá * Đạt *
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả
cao trong phạm vi rộng:
Tốt * Khá * Đạt *
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên và ghi rõ họ tên) (Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Phan Thị Mùi
2. Ngày tháng năm sinh: 09 – 01 – 1980
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: Tổ 19 – Khu Phước Hải – TT Long Thành – Đồng Nai
5. Điện thoại: (CQ)/ 0613844537 – 0613 845107.(NR); ĐTDĐ: 0972988705
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Bí thư Đoàn Trường
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Đại Học
- Năm nhận bằng: 2003
- Chuyên ngành đào tạo: Lịch Sử
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy bộ môn Lịch sử.
- Số năm có kinh nghiệm: 06 năm
- Việc chống lối dạy học thụ động, thầy đọc, trò chép đã được đặt ra từ
lâu. Ngay từ năm 1963 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khuyên người học: “ Phải
tự nguyện tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ … phải hoàn
thành cho được. Do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập,
nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước bất kì khó khăn
nào trong việc học tập”. Tại hội nghị tổng kết phong trào thi đua “Dạy tốt,
học tốt” của ngành giáo dục (1963) Bác Hồ lại căn dặn: “Về giảng dạy tránh
lối dạy nhồi sọ” … “ Về học tập tránh lối học vẹt”. “Các cháu không nên
học gạo, không nên học vẹt … học phải suy nghĩ, phải có liên hệ với thực
tiễn, phải có thí nghiệm và thực hành. Học và hành phải kết hợp với nhau”.
- Nhiều năm qua trên thực tế việc đổi mới dạy và học luôn được diễn ra
thường xuyên. Nhưng hiệu quả đến đâu chưa ai khẳng định được, nhưng
những bất cập đi kèm là điều có thực. Những yếu kém của ngành giáo dục,
đặc biệt trong những năm gần đây bộc lộ khá rõ trong dạy học nói chung và
dạy học lịch sử nói riêng. Biểu hiện nỗi bật của việc giảm sút chất lượng bộ
môn là tình trạng coi thường, nhớ nhầm sự kiện, không hiểu lịch sử, không
vận dụng bài học kinh nghiệm quá khứ vào rèn luyện đạo đức, phẩm chất,
quan điểm tư tưởng, thi cử chất lượng rất thấp. Nguyên nhân đưa tới tình
trạng này có nhiều: quan niệm không đúng về vị trí, chức năng, nhiệm vụ bộ
môn Lịch sử trong đào tạo thế hệ trẻ, cho là môn phụ, tác động mặt tiêu cực
của cơ chế thị trường, những thiếu sót trong công tác đào tạo bồi dưỡng giáo
viên … Một trong nhiều nguyên nhân chủ yếu đó là sự lạc hậu, bảo thủ về
phương pháp dạy và học Lịch sử.
- Để góp phần vào đổi mới phương pháp dạy và học cho phù hợp với tình
hình hiện nay “ Lấy người học làm trung tâm”. Và từ thực tiễn giảng dạy tôi
đã biên soạn đề tài này nhằm góp một ý kiến nhỏ bàn về vấn đề “Đổi mới
phương pháp dạy học lịch sử 12 thông qua việc rèn luyện học sinh làm bài
tập”.
- Cũng như các môn học khác ở trường phổ thông, việc dạy học lịch sử
cũng phải tiến hành làm bài tập nhằm tổ chức việc hình thành, cũng cố, đánh
cũng phải tiến hành làm bài tập nhằm tổ chức việc hình thành, củng cố, đánh
giá, kiểm tra tri thức lịch sử mà các em chiếm lĩnh được trong tiết học.
Đối với học sinh của Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu đa phần là học
sinh có học lực ở mức dưới trung bình so với mặt bằng chung trong khu vực.
Các em yếu toàn diện ở tất cả các môn. Do đó để các em nắm vững được
những kiến thức cơ bản của bài học là việc không đễ dàng gì. Vì vậy việc
tăng cường làm bài tập để hình thành kĩ năng nhuần nhuyễn, khắc sâu cho
học sinh nhớ lâu hơn kiến thức đã học là điều hết sức cần thiết ở tất cả các
bộ môn nói chung và lịch sử nói riêng như dân gian vẫn dạy “văn ôn võ
luyện”.
Mặt khác đối với học sinh khối 12 mục tiêu quan trọng là kết quả tốt
nghiệp ở cuối cấp. Bộ môn lịch sử cũng là môn thi tốt nghiệp. Trong khi đó đặc điểm học sinh của trường lại rất yếu các môn khoa học tự nhiên. Dó đó
vị trí của các môn khoa học xã hội nói chung và bộ môn lịch sử nói riêng đã
góp phần quan trọng vào kết quả tốt nghiệp của các em, cho nên nhận thức
được vai trò quan trọng của bộ môn Lịch sử các em sẽ học tốt hơn. Để nắm
vững và sâu kiến thức lịch sử các em phải tăng cường làm bài tập lịch sử đặc
biệt là các dạng bài tập nhằm để khắc sâu, nhớ lâu sự kiện lịch sử.
2 . Cơ sở thực tiễn.
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối 12 Trường THPT Nguyễn Đình
Chiểu.
2.2. Thực trạng trước khi thực hiện đề tài:
- Đa số học sinh không thích học bộ môn Lịch sử
- Tình trạng xem nhẹ bộ môn, coi đây là bộ môn phụ.
- Giáo viên giảng, đọc, học trò chép. Giáo viên hỏi, học sinh nhìn sách giáo
khoa đọc mà không biết mình đang trả lời cái gì.
- Dẫn đến hệ lụy: kiểm tra quay cóp, chép bài bạn.
2.3. Nguyên nhân:
phương pháp sau:
- Khảo sát thăm dò ý kiến,
- Thuyết trình, nêu vấn đề, thảo luận.
- Gợi mở kiến thức thông qua bài học và thực hành bài tập.
- Tham khảo các tài liệu trong dạy học lịch sử và các tài liệu liên quan
đến bộ môn Lịch sử 12.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1. Phương pháp sử dụng bài tập lịch sử là gì?
Dạy học là một quá trình thống nhất bao gồm nhiều yếu tố như sau:
Sách giáo khoa, tài liệu, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, thầy-
trò. Trong quá trình đó để nâng cao hiệu quả dạy học, người thầy phải bằng
nhiều phương pháp sư phạm để tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh,
trong đó có khâu làm bài tập. Đối với các bộ môn khoa học tự nhiên việc giải
bài tập sau khi đã cung cấp kiến thức mới là điều hiễn nhiên, nhưng đối với
bộ môn khoa học xã hội cụ thể là Lịch sử việc làm bài tập như một khái
niệm xa lạ đối với học sinh.
Trong thực tế qua những tiết học dự giờ của giáo viên cùng trường và học
hỏi các trường bạn. Tôi nhận thấy đa số giáo viên bỏ qua khâu này, nếu có
thì đó chỉ là những câu hỏi chứ chưa được nâng lên thành một bài tập Lịch
sử.
Vậy bài tập lịch sử là gì? Giáo viên, học sinh phải làm gì khi tiến hành
làm bài tập ở bộ môn lịch sử 12 thông qua việc dạy học.
Khi sử dụng bài tập để tổ chức hoạt động nhận thức kiến thức mới cho học
sinh trong giờ lên lớp cần chú ý giải quyết các vấn đề sau:
- Cần phải đưa bài tập vào lúc nào?
- Thời gian giành cho giải quyết bài tập là bao nhiêu?
- Hình thức trả lời bài tập bằng miệng hay viết?
- Giáo viên tham gia chỉ đạo, gợi ý ở chừng mực nào?
Giải đáp các vấn đề trên phụ thuộc hai yếu tố:
Xác định nội dung cần kiểm tra học sinh (phù hợp với yêu cầu học tập).
Xác lập hệ thống các loại bài tập.
Xác định nguồn tài liệu để xây dựng bài tập (sách giáo khoa, tài liệu tham
khảo, đồ dùng trực quan… )
Thể hiện thành các loại bài tập.
Kiểm tra các bài tập dùng để đánh giá học sinh.
c. Hệ thống các loại bài tập:
Thứ nhất, các câu hỏi trong sách giáo khoa cần được giải quyết.
Thứ hai, các loại bài tập nhỏ liên quan đến kênh hình.
Thứ ba, các loại bài tập sử dụng tài liệu tham khảo, đồ dùng trực quan. Thứ tư, bài tập trắc nghiệm.
Thứ năm, bài tập tự luận.
Thứ sáu, bài tập liên hệ kiến thức về quá khứ đang học với thực tiễn cuộc
sống hiện nay.
3. Biện pháp thực hiện:
3.1.Khái quát chung.
Trước hết giáo viên phải quán triệt dạy học theo hướng tích cực hóa nhận
thức của học sinh là một xu hướng, đồng thời cũng là một yêu cầu đổi mới
phương pháp dạy học, trong quá trình dạy học, người thầy phải hướng dẫn, giúp
đỡ học sinh độc lập suy nghĩ, rút ra được tri thức phù hợp trên cơ sở tài liệu học
tập, chứ không phải là một sự nhồi nhét, truyền đạt một chiều. Một trong những
biện pháp để nâng cao tính tích cực học tập của học sinh là nêu một bài tập lịch
sử.
Bài tập trong dạy học lịch sử là một tình huống có vấn đề, mà trong quá
trình giải quyết, học sinh phải biết vận dụng những kiến thức đã học, những tài
liệu liên quan, biết tìm tòi sáng tạo. Hệ thống bài tập chặt chẽ chứ không phải
chỉ là một vài bài tập rời rạc khô khan.
3.2. Các biện pháp sư phạm sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử ở lớp 12.
- Thời gian: từ 1919 – 1929.
- Tăng cường đầu tư với tốc độ nhanh, quy mô lớn. vốn
đầu tư tăng từ (1924 – 1929), lên đến 4 tỉ Phơ- răng: biết được
chính sách
khai thác
thuộc địa
của Pháp có
nội dung gì Vậy với
những chính
sách khai
thác đó đã
tác động
N
ông
nghi
ệ
p
: Thu hút vốn nhiều nhất, chủ yếu đầu tư
vào đồn điền cao su. Diện tích các đồn điền cao su được
mở rộng.
Công nghiệp: Tập trung khai mỏ nhất là mỏ than. Mở
rộng các ngành chế biến như muối, xay xát, dệt…
Thương nghiệp: Ngoại thương tăng, buôn bán nội địa
được đẩy mạnh.
Giao thông vận tải: đường sắt, đường bộ đầu tư phát
triển.
Ngân Hàng: Pháp nắm trọn quyền chỉ huy kinh tế Đông
Dương, tăng thuế, phát hành tiền giấy và cho vay lãi.
Chính trị:
- Tăng cường chính sách cai trị, Bộ máy quân sự, cảnh
sát, mật thám, nhà tù được củng cố và hoạt động ráo riết.
Văn hóa – giáo dục:
- Hệ thống giáo dục Pháp – Việt được mở rộng. (gồm cấp
tiểu học, trung học, cao đẳng, đại học)
- In ấn, xuất bản sách báo ,chủ trương “Pháp - Việt đề
huề”
- Du nhập văn hóa phương Tây phát triển đan xen với văn
hóa truyền thống. Nhằm phục vụ mục đích khai thác
thuộc địa.
2. Những chuyển biến mới về kinh tế và giai cấp xã
hội ở Việt Nam.
®
trở thành 1 động lực mạnh mẽ của phong trào giải
giải phóng dân tộc.
Những chuyễn biến trên làm cho xã hội Việt Nam mâu
thuẫn sâu sắc. Đó là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với
TD Pháp và tay sai phản động.
Tác dụng của bài tập: .Học sinh phải nắm được tình hình kinh tế, xã hội
Việt Nam trước cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai. Từ đó phân tích để thấy
được cuộc khai thác lần thứ hai của thực dân Pháp làm cho cơ cấu kinh tế – xã
hội Việt Nam thay đổi sâu sắc hơn với sự xuất hiện của các giai cấp mới. Từ đó
các em hiểu được mối liện hệ giữa kinh tế và xã hội.
Kết quả thực hiện:
Học sinh chú ý tham gia xây dựng bài 100%.
Học sinh làm bài đạt tốt chiếm 70%.
Học sinh làm bài đạt khá 20%, còn lại trung bình và yếu
Bài tập 2: Lập niên biểu những hoạt động của Nguyễn Ai Quốc từ
1919 – 1925 theo những nội dung sau: thời gian, nội dung hoạt động, ý nghĩa
và rút ra công lao đầu tiên của Nguyễn Ai Quốc là gì?
Triển khai thực hiện:
Giáo viên: Ghi câu hỏi lên bảng.
Học sinh: theo dõi và dựa vào SGK trả lời.
Bước 1: Giáo viên giới thiệu hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn
Ai Quốc một cách khái quát minh họa bằng bản đồ như sau.
Bước 2: Hướng dẫn học sinh lập bảng thống kê các mốc thời gian cơ bản
theo mẫu.
Bước 3: Cho học sinh điền các sự kiện tương ứng mốc thời gian.
Bước 4: Hướng dẫn học sinh nêu lên ý nghĩa
Bước 5: Rút ra công lao của Bác
1921->1923
Liờn Xụ
6/1923
7/1924
Trung Quc
11/11/1924
6/1925
3. HOT NG CA NGUYN I QUC 3. HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC
Địa điểm Thời gian
Hoạt động chính của
Nguyễn i Quốc
Ý nghĩa
Pháp
1917 Bác trở lại Pháp
1919 Bác gia nhập Đảng xã hội Pháp
6/1919
Gửi tới hội nghị Vécxai Bản yêu sách của nhân
dân An Nam đòi quyền tự do dân chủ…
7/1920
Người đọc bản luận cương của Lênin về vấn đề
dân tộc và thuộc địa.
12/1920
Tại đại hội Tua người gia nhập quốc tế cộng sản
và tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp –
người cộng sản Việt Nam đầu tiên
6/1919
Gửi tới hội nghị Vécxai Bản yêu sách của nhân
dân An Nam đòi quyền tự do dân chủ…
7/1920
Người đọc bản luận cương của Lênin về vấn đề
dân tộc và thuộc địa.
12/1920
Tại đại hội Tua người gia nhập quốc tế cộng sản
và tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp –
người cộng sản Việt Nam đầu tiên
Truyền bá
chủ nghĩa
Mác
Lênin về
nước,
chuẩn bị
tư tưởng
chính trị
cho việc
thành lập
Đảng CS
1921->1923
Lập ra Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa và xuất
bản báo “người cùng khổ”. Viết cuốn Bản án chế
độ thực dân pháp…
Liên Xô
6/1923 Đi Liên Xô dự hội nghị quốc tế nông dân
7/1924 Dự đại hội lần V của quốc tế cộng sản (1924)
Trung Quốc 11/11/1924
Người về Quảng Châu (TQ) trực tiếp tuyên
Tỏc dng ca bi tp: vi bin phỏp s dng niờn biu v lc to
hng thỳ cho hc sinh, giỳp hc sinh d hỡnh dung v nm bt cỏc s kin.
trong toàn quốc. Đây là quyết định đúng đắn, kịp thời, sáng suốt. Nhờ vậy Tổng
khởi nghĩa đã diễn ra và giành thắng lợi nhanh chóng trong cả nước.
Tác dụng bài tập: Cách đặt và hướng dẫn giải quyết bài tập như vậy, thu
hút sự chý ý của học sinh, vì các em vừa được cũng cố kiến thức cũ, vừa chuẩn
bị chiếm lĩnh kiến thức mới, nó kích thích tư duy, hình thành phương pháp nhận
thức – phương pháp giải quyết bài tập.
c. Tổ chức hướng dẫn học sinh làm bài tập lịch sử trong tự học ở nhà:
Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử cần chú ý đến vấn đề bồi dưỡng
và phát triển năng lực tự học của học sinh. Bởi vì, bài giảng ở trên lớp chỉ là
bước mở đầu cho công việc tiếp tục tự học ở nhà để hiểu vấn đề. Biện pháp
này được thực hiện bằng nhiều cách sau:
Một là, giải quyết các câu hỏi trong sách giáo khoa.
Hai là, hướng dẫn học sinh làm bài tập do giáo viên đưa ra.
Ba là, hướng dẫn học sinh làm bài tập ở nhà đạt hiệu quả giáo viên cần
chú ý: Đưa ra nhiều loại bài tập đảm bảo tính đa dạng, phong phú, phù hợp với
trình độ từng đối tượng học sinh.
Bài tập lịch sử giúp học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa các sự kiện lịch
sử cơ bản trong từng giai đoạn thời kỳ nhất định.
Ví dụ 1: Sau khi học xong chương II Việt Nam trong những năm 1930-
1945, giáo viên cho học sinh làm bài tập: Với các sự kiện quan trọng sau
em hãy điền mốc thời gian thích hợp.
Thực hiện: giáo viên cho sự kiện, sau khi học sinh điền mốc thời gian
được kết quả như sau:
Thời gian: Các sự kiện quan trọng nhất.
03-02-1930 Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời.
12-09-1930 Xô Viết Nghệ Tĩnh
kiện, vai trò của nhân vật lịch sử…… Trên cơ sở đó tư duy lịch sử của học
sinh được phát triển, ví dụ sau khi học về giai đoạn lịch sử Hoạt động của
Nguyễn Ai Quốc ở nước ngoài trong những năm 1919-1925. Giáo viên nêu
bài tập “Nguyễn Ai Quốc đã trực tiếp chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự
ra đời của chính Đảng vô sản ở Việt Nam như thế nào?”. Học sinh buộc phải
nắm được các hoạt động của Người và chính các hoạt động tích cực đó đã
chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính Đảng vô sản ở Việt
Nam
d. Sử dụng bài tập lịch sử trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học
sinh.
Trong mỗi lớp học, thường có các đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung
bình, yếu. Do đó để tất cả học sinh cùng làm việc, giáo viên nên cho ra bốn
dạng bài tập nhận thức như sau để đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Bài tập mô tả, tái hiện lịch sử: Dạng này giành cho học sinh yếu hoặc
trung bình vì chỉ yêu cầu học sinh trình bày lại sự kiện một cách trung thực.
Ví dụ: Nêu sự phát triển kinh tế Mỹ trong giai đoạn 1945 – 1973.’
Học sinh phải nêu được: Sau CTTG II, nền k/tế Mĩ phát triển mạnh mẽ:
1948 Sản lượng CN Mĩ chiếm 56,5%
1949 sản lượng Nông nghiệp bằng hai lần của Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật
Bản cộng lại.
Có hơn 50% tàu bè đi lại trên biển.
Chiếm 3/4 dự trữ vng của thế giới.
Mĩ trở thnh trung tm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới.
Bài tập vận dụng: Loại bài tập này yêu cầu học sinh vận dụng những tri
thức lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề mới đặt ra.
Ví dụ: Vì sao việc thành lập Đảng Cộng Sản là một yêu cầu cấp thiết của
Cách Mạng Việt Nam. Loại bài tập này học sinh trung bình trở lên làm được.
năm 70 trở thành 1 trong 3 trung tâm k/tế - tài chính thế giới (Mĩ, Tây Âu
- NB).
- Coi trọng phát triển giáo dục khoa học-kĩ thuật, mua bằng phát minh
sáng chế và chuyển giao công nghệ, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất
phục vụ công nghiệp dân dụng.( Sản phẩm nổi tiếng là ti vi , tủ lạnh , ô tô)
Nhân tố làm nên sự phát triển:
Chủ quan:
- Người Nhật có truyền thống lao động, sáng tạo, cần kiệm, tay nghề cao.
- Vai trò lãnh đạo có hiệu quả của nhà nước.
- Chế độ làm việc suốt đời, lương theo thâm niên
- Áp dụng hiệu quả thành tựu của khoa học kỹ thuật.
- Chi phí cho quốc phòng ít, nên có điều kiện tập trung vốn cho kinh tế.
Khách quan:
- Nhật Bản biết tận dụng các yếu tố bên ngoài để phát triển (viện trợ của
Mỹ, nhận được nhiều đơn đặt hàng của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam,
Triều Tiên.)
Bài học cho Việt Nam:
- Phát huy tinh thần lao động sáng tạo, cần kiệm của nhân dân.
- Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn của nước ngoài
- Tăng cường công tác điều tiết, quản lý, tổ chức nền kinh tế.
- Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao để áp dụng khoa học kĩ thuật vào
sản xuất.
Bài tập nghiên cứu, phát hiện. Đây là những bài tập giành cho học sinh
khá giỏi. Trên cơ sở gợi ý của giáo viên, học sinh có thể tập nghiên cứu một
vấn đề lịch sử cụ thể.
Bên cạnh việc bài tập phù hợp với từng đối tượng, giáo viên còn
phải chú ý xây dựng bài tập như: bài tập phải hướng về vấn đề cơ bản của
bài học nhằm giúp học sinh nắm chắc và hiểu sâu những kiến thức quan
trọng, chủ yếu. Muốn vậy, giáo viên nghiên cứu kỹ sách giáo khoa để xác
định những kiến thức cơ bản cần được nhận thức sâu sắc.
nắm vững kiến thức hơn. Đối với các bộ môn như Toán, Lý Hóa việc làm
bài tập là điều hiễn nhiên. Nhưng đây lại là vấn đề thường bị xem nhẹ trong
bộ môn lịch sử. Vì thế khi áp dụng phương pháp này để đạt hiệu quả cao
người giáo viên phải xây dựng cho học sinh làm vở bài tập lịch sử.
Giáo viên thường xuyên kiểm tra vở bài tập của các em, đánh giá,
nhận xét, cho điểm nhằm khuyến khích và động viên kịp thời.
IV. ỨNG DỤNG THỰC TIỄN:
Qua thực tế giảng dạy ở trường THPT ngoài việc sử dụng các
phương pháp đặc trưng của bộ môn lịch sử như mô tả, tường thuật, diễn
giảng, thảo luận nhóm, xem tranh ảnh bản đồ… Ở mỗi tiết dạy tôi đều tiến hành lồng ghép vào những bài tập kiểu kích thích tính tò mò nhận thức ở
học sinh, và yêu cầu học sinh làm ở lớp cũng như về nhà và tôi nhận thấy
có kết quả rõ rệt, học sinh bám sát sách giáo khoa. Hiểu rõ hơn những vấn
đề đang được học một cách chủ động, chắc chắn. Nắm được các kiến thức
cơ bản nhất. Học sinh sẽ nhớ lâu hơn và cảm thấy thích học hơn bộ mộn
lịch sử, giảm tải được áp lực thi cử cho học sinh – khi cứ phải lo vào phòng
thi sẽ quên.
- Góp phần giáo dục tư tưởng tình cảm, nhân cách học sinh.
- Gây hứng thú học tập, góp phần phát triển tư duy cho học sinh, chỉ cần
nắm được kiến thức cơ bản là học sinh có thể yên tâm trong thi cử.
- Góp phần rèn luyện kĩ năng bộ môn.
- Một hoạt động trên lớp mà giáo viên vừa truyền đạt được kiến thức mới,
vừa giúp học sinh giải được bài tập.
V. KẾT LUẬN:
Đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo là khắc phục lối truyền thụ
một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp
dụng các phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện
và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.
Việc hoàn thành hệ thống bài tập đòi hỏi ở học sinh thái độ tự giác
cao, kiên trì, chịu khó. Do đó, những bài tập được tổ chức đúng sẽ tập cho
học sinh làm quen việc tự lập, giáo dục ý thức, trách nhiệm, nắm vững tri
thức. Nó góp phần rất lớn vào sự phát triển ý chí của học sinh.
3. Đề xuất kiến nghị
Tăng tiết ngay từ đầu năm cho khối 12 để tránh việc nhồi nhét kiến
thức. Đây không chỉ là môn thi tốt nghiệp mà còn là môn thi đại học của
các em theo nghành khoa học xã hội.
Cải thiện nâng cấp, đầu tư cơ sở vật chất để tạo điều kiện cho giáo
viên và học sinh được dạy và học trong ngôi trường tốt hơn đáp ứng với sự
phát triển của x hội.
Đầu tư thiết bị, đồ dùng dạy học lịch sử như tranh ảnh, bản đồ …
VII. NHỮNG BI HỌC CĨ THỂ P DỤNG.
Với phương pháp rèn luyện học sinh làm bài tập này có thể áp dụng cho
tất cả các bài trong chương trình lịch sử 12.
Lời cảm ơn.
Với điều kiện thời gian ngắn ngủi, trình độ bản thân còn ít kinh
nghiệm, chắc chắn đề tài còn nhiều hạn chế. Với tâm huyết và tấm lòng của
mình tôi muốn đóng góp cho công việc dạy học một đề tài nhỏ để nâng cao
hiệu quả dạy học. Rất mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy, cô: Ban
giám hiệu, tổ bộ môn và hội đồng giám khảo. oooOooo TÀI LIỆU THAM KHẢO