tìm hiểu sự mạch lạc trong tác phẩm vợ chồng a phủ của nhà văn tô hoài - Pdf 23


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐÀO THỊ HỒNG HẠNH

TÌM HIỂU SỰ MẠCH LẠC TRONG TÁC PHẨM
“VỢ CHỒNG A PHỦ” CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC



Sơn La, tháng 5 năm 2014
Người thực hiện

Đào Thị Hồng Hạnh BẢNG GHI CHÚ CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

NXB: Nhà xuất bản
SP1: Nhân vật giao tiếp
SP2: Nhân vật giao tiếp

1.1.2.4. Yếu tố chỉ lượng 10
1.1.2.5. Yếu tố định biên (Tính trọn vẹn tương đối của văn bản) 11
1.2. Khái niệm mạch lạc 11
1.2.1. Khái quát chung 11
1.2.2. Khái niệm mạch lạc 12
1.2.2.1. Khái niệm mạch lạc trong từ điển 12
1.2.2.2. Khái niệm mạch lạc của những nhà chuyên môn 13
1.2.3. Phân biệt mạch lạc với liên kết 14
1.3. Các biểu hiện của mạch lạc 15
1.3.1. Mạch lạc trong quan hệ giữa các đề tài, chủ đề của câu 16
1.3.1.1. Duy trì đề tài - chủ đề 16
1.3.1.2. Triển khai đề tài – chủ đề 17
1.3.1.3. Cách duy trì, triển khai đề tài – chủ đề 18
1.3.2. Mạch lạc thể hiện ở tính hợp lý trong triển khai mệnh đề 20
1.3.2.1. Bên trong câu 20
1.3.2.2. Giữa các câu 20
1.3.3. Mạch lạc thể hiện trong trình tự hợp lý của các câu 21
1.3.4. Mạch lạc thể hiện ở khả năng dung hợp giữa các hành động nói 22
1.3.5. Mạch lạc thể hiện trong quan hệ ngoại chiếu 24
1.3.6. Mạch lạc biểu hiện ở khía cạnh tâm lý học 25
1.4. Mạch lạc trong lời thoại truyện ngắn 26
1.4.1. Một số khái niện cơ bản về lời thoại 26
1.4.2. Mạch lạc của lời thoại trong truyện ngắn 27
1.4.2.1 Mạch lạc biểu hiện ở phương diện hình thức (dùng các phương tiện liên
kết)……. 27
1.4.2.2. Mạch lạc biểu ở phương diện nội dung 29
1.5. Lí thuyết hội thoại 30
1.5.1. Khái niệm hội thoại 30
1.5.2. Các quy tắc hội thoại 31
1.5.2.1. Nguyên tắc luôn phiên lượt lời. 31

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mạch lạc nói chung trong ngôn ngữ thường ngày không có gì xa lạ, tuy
nhiên mạch lạc với tư cách là một đối tượng nghiên cứu khoa học thì vẫn còn là
một vấn đề mới mẻ. Vấn đề về mạch lạc đã tập trung thu hút được sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước như: Greimas, Halliday và Hasan,
Grice…. Diệp Quang Ban, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Thị Thìn… Dù được đánh
giá là một vấn đề khá mơ hồ và khó xác định trong diễn ngôn và văn bản nhưng
đây là yếu tố quan trọng quyết định việc văn bản có phải là một văn bản hay
không. Từ trước tới nay có nhiều ý kiến đưa ra kiến giải về mạch lạc trong diễn
ngôn và trong văn bản nói chung, đặc biệt là trong truyện ngắn nói riêng.
K.Wales ch rằng: “Mạch lạc là một trong những điều kiện ban đầu hay đặc tính
ban đầu của văn bản: không có mạch lạc một văn bản không phải là văn bản
đích thực” [1:135]. Có thể nói dù đó là diễn ngôn hay văn bản có dung lượng
câu chữ với độ dài khác nhau thì đề cần có tình mạch lạc vì mạch lạc là biêu
hiện của tính khoa học, sự thống nhất và lối diễn đạt logic của một văn bản.
Các biểu hiện của mạch lạc trong văn học là rộng rãi nhất, cũng do vậy mà
khó nắm bắt nhất. Gần đây, cùng sự phát triển của ngôn ngữ học, người ta đã bắt
đầu cố gắng phân biệt liên kết với mạch lạc.
Có thể nói mạch lạc là một yếu tố rất quan trọng trong một tác phẩm văn
học nói chung và một văn bản truyện nói riêng. Mạch lạc là phương tiện thể hiện
dụng ý của tác giả, nhờ mạch lạc mà câu văn trong sáng, diễn tả ý của tác giả
một cách dễ dàng, chính xác, đảm bảo nội dung tác phẩm truyện. Mạch lạc còn
là biện pháp nghệ thuật thể hiện dụng ý của tác giả buộc người đọc tư duy tìm
ra. Vì vậy, khi tìm hiểu một tác phẩm văn học ta phải đi từ giá trị nghệ thuật, từ
tính mạch lạc của tổng thể tác phẩm rồi mới khái quát nội dung. Như vậy, mạch
lạc là phương diện hữu ích để nhà văn thể hiện tác phẩm.
Mạch lạc không chỉ có vai trò quan trọng trong toàn bộ tác phẩm truyện nói
chung mà còn là yếu tố quan trọng trong lời thoại của truyện ngắn nói riêng.
Trong tác phẩm mạch lạc không chỉ giúp rõ nghĩa các lời thoại mà còn đóng vai

2.1. Một số kiến giải về mạch lạc trong văn bản truyện
Mạch lạc nói chung và mạch lạc trong văn bản truyện nói riêng là một vấn
đề được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm. Tuy nhiên, khi nhìn mạch
lạc dưới phương diện là đối tượng nghiên cứu của khoa học thì đây vẫn là yếu tố
đặt ra nhiều sự mới mẻ đối với các nhà nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam.
Sau đây, chúng tôi xin đưa ra một số kiến giải về mạch lạc trong văn bản
truyện.

3
a. Theo Diệp Quang Ban: “Mạch lạc không chỉ đơn giản thuộc về logic, nó
còn thuộc về ngữ nghĩa, và ngữ nghĩa hiểu rất rộng thuộc về mối quan hệ quy
chiếu thuộc về các từ ngữ beeb trong văn bản với vật, việc, hiện tượng bên
ngoài văn bản và thuộc về chức năng (tức hành động nói). Ngoài ra mạch lạc
còn biểu hiện cả trong cách tổ chức văn bản, phương diện nghĩa của mạch lạc
còn biêu hiện trong cái gọi là “ngữ pháp truyện” [3;135].
Tác giả cũng đã chỉ ra: “Mạch lạc trong văn học là cái rộng rãi nhất, vì vậy
mà khó nắm bắt nhất” [3;175], nhưng cũng có thể thấy: Văn bản văn học mang
tính mạch lạc một cách rõ ràng hơn là hội thoại hằng ngày, cũng có nghĩa là
người cầm bút chú ý nhiều hơn đến cấu trúc bài viết của mình.
b. Tác giả Nguyễn Thị Thìn trong bài viết về “Mạch lạc trong văn bản viết”
đã đưa ra bốn phương diện về mạch lạc như sau:
- Sự thống nhất về chủ đề và đích giao tiếp của toàn văn bản.
- Trình tự triển khai tính chủ đề đảm bảo tính hợp lý.
- Mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành tố nội dung văn bản.
- Giải pháp triển khai chủ đề phù hợp với ý đồ giao tiếp và thể loại văn bản.
c. Trong một số luận văn thạc sĩ, khóa lận tốt nghiệp đại học, mạch lạc của
văn bản cũng được trình bày bằng hình thức cụ thế hóa như sau:
- Luận văn thạc sĩ khoa học của Nguyễn Thị Ninh: “Mạch lạc trong một số
truyện ngắn của Thạch Lam”.
- Luận văn thạc sĩ khoa học của Nguyễn Mậu Tư: “Mạch lạc trong phóng

xem phim, thấy được truyện bất ngờ” [12;77]. Mặt khác: “Ngôn ngữ của Tô
Hoài thường ngắn gọn và rất gần với khẩu ngữ của nhân dân lao động”
[12;77].
Tác giả Phan Cư Đệ trong bài viết: “Tô Hoài- Nhà văn Việt Nam hiện đại”
có nhận xét: “Trong tác phẩm của Tô Hoài, nhìn chung ngôn ngữ của quần
chúng đã được nâng cao, nghệ thuật hóa”…, “Tô Hoài không đặt câu, tổ chức
kiến trúc câu theo kiểu sẵn có” [8;99].
Tô Hoài có sự hiểu biết từ nhiều năm về con người, phong tục, sinh hoạt,
cảnh sắc thiên nhiên ở vùng cao biên giới, để ý đến kiểu nói của mỗi người, cách
suy nghĩ diễn đạt của từng nhân vật. Chỉ có thông qua sự vận động của lời nói
thì chúng ta mới hiểu được nhân vật. Ngôn ngữ trong văn xuôi theo Tô Hoài
phải là thứ ngôn ngữ giàu tính chất tạo hình đập ngay vào giác quan người đọc.
Tác giả Hà Minh Đức trong: Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài có nhận xét:
“Ông là nhà văn sử dụng nhiều thể loại văn học và ở thể loại nào mạch văn của
ông cũng vươn tói giá trị của nghệ thuật ngôn từ. Ông không chịu để câu văn

5
rơi vào tình trạng chữ nghĩa sáo mòn và có lối biểu hiện nghèo nàn. Có nhiều
hiện tượng vốn khô khan khó miêu tả nhưng dưới ngòi bút của Tô Hoài cũng trở
nên sinh động, cách diễn tả nhiều cảm hứng, liên tưởng đẹp, so sánh thích hợp,
chữ nghĩa chọn lọc và gợi cảm” [9;140]. Tô Hoài đã say mê tìm tòi và sử dụng
chữ nghĩa tiếng Việt một cách sinh động ông đặc biệt chú ý đến cái mới, cái đẹp
của ngôn từ.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Khóa luận không nhằm đưa ra những đánh giá, nhận xét, bình luận về tác
phẩm Vợ chồng A Phủ mà chỉ tập trung tìm hiểu sự mạch lạc trong truyện ngắn
này. Từ đó, khóa luận tìm hiểu các tầng ý nghĩa trong tác phẩm.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Mạch lạc trong văn bản là một vấn đề quan trọng được nhiều nhà ngôn ngữ

Trong quá trình tìm hiểu tầng nghĩa và sự mạch lạc trong tác phẩm Vợ
chồng A Phủ của Tô Hoài sử dụng phương pháp miêu tả để tái hiện lại bối cảnh,
nội dung của lời thoại đặt trong ngữ cảnh giao tiếp. Vì vậy, cách sử dụng
phương pháp miêu tả là một phương pháp quan trọng trong quá trình tìm hiểu
nội dung khóa luận.
5.4. Nguồn ngữ liệu
Ngữ liệu mà chúng tôi sử dụng trong quá trình phân tích là các diễn ngôn
(lời thoại) của các nhân vật trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ. Tác phẩm được in
trong cuốn Truyện Tây Bắc của NXB Kim Đồng.
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần mục lục và tài liệu tham khảo, nội
dung của khóa luận gồm hai chương, cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Mạch lạc của lời thoại trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ

7
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Văn bản
1.1.1. Khái niệm văn bản
Giống như tất cả các thuật ngữ khác về ngôn ngữ, thuật ngữ văn bản cho
đến nay cũng có khá nhiều định nghĩa khác nhau. Chúng ta có thể tìm hiểu định
nghĩa văn bản qua quan niệm của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu sau:
1. “[…] văn bản được xét như một lớp phân chia được thành các khúc
đoạn”. (L.Hjelmslev,1953) [3;15]
2. “Văn bản được hiểu ở bậc điển thể là phát ngôn bất kỳ có kết thúc và có
liên kết, có tính chất độc lập và đúng về ngữ pháp”. (W.Koch,1966) [3;15]
3. “Văn bản là chuỗi nối tiếp của các đơn vị ngôn ngữ được làm thành bởi
một dây chuyền của các phương tiện thế có hai trắc diện”. (trục dọc và trục
ngang- D.Q.B)(R.Harweg,1968) [3;15]

10. Chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ văn bản để chỉ bất kỳ cái nào có ghi
bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp. (D.Nunan,1993) [3;17]
Qua các cách hiểu như trên về văn bản ta có thể tìm được những cách hiểu
khác nhau về định nghĩa “văn bản”. Tuy nhiên các cách hiểu của các tác giả đều
phục vụ cho mục đích nghiên cứu riêng mà tác giả đó theo đuổi. Ở đây, người
viết tìm hiểu định nghĩa này và sử dụng nó cho các kiến giải tiếp theo. Định
nghĩa “văn bản” có thể hiểu như sau:
“Văn bản: Một quãng viết hay phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc đề
tài- chủ đề v.v… của nó, hình thành nên một đơn vị, loại như một truyện kể, một
bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường v.v… Định nghĩa vừa nêu trên có
thể được hiểu như sau:
a. Tên gọi văn bản ở đây bao gồm cả văn bản viết và văn bản nói, tức là
không phân biệt văn bản với tư cách là quãng ngôn ngữ viết một bên và diễn
ngôn (hay ngôn bản) với tư cách là ngôn ngữ nói một bên. Khi cần có thể phân
biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (hay còn gọi là văn bản nói).
b. Về mặt lượng, văn bản có thể có độ dài bất kỳ, từ độ dài bằng một từ
cho đến quyển sách dài hàng trăm trang.
c. Văn bản là một đơn vị gồm nhiều phương diện như cấu trúc hình thức,
cấu trúc nội dung, cấu trúc tin, đề tài, chủ đề và những phương diện về logic,
văn hóa xã hội khác nữa. Văn bản được coi là một tổng thể hợp nhất.
d. Về phương diện loại hình: Văn bản có thể thuộc về tất cả các hình thức cấu
tạo khác nhau của lời nói được sử dụng trong thực tế giao tiếp bằng ngôn ngữ.

9
Như vậy, theo các đặc điểm trên thì tác phẩm truyện cũng là một văn bản,
dù đó là truyện được lưu lại bằng chữ viết hay đó chỉ là các câu truyện được lưu
truyền dân gian. Vì đó là các văn bản nên các tác phẩm truyện dù là truyện dài
hay ngắn… thì đều phải có các đặc điểm của một văn bản như ở định nghĩa vừa
nêu trên.
1.1.2. Đặc trưng của văn bản

Việc tạo ra đề tài- chủ đề xác định cho văn bản còn được coi là tạo ra tính
thống nhất đề tài- chủ đề của văn bản.
1.1.2.3. Mạch lạc và liên kết
Mạch lạc và liên kết là hai yếu tố quyết định việc tạo thành văn bản, trong
đó nổi rõ lên việc tạo thành tính thống nhất đề tài- chủ đề là mạch lạc, đây là yếu
tố giúp phân biệt văn bản với phi văn bản ở mặt tổ chức nội dung. Mạch lạc có
thể sử dụng các phương tiện liên kết làm cái diễn đạt cho mình; tuy nhiên mạch
lạc có thể không dùng đến phương tiện liên kết mà trái lại có dùng phương tiện
liên kết chưa chắc đã tạo ra được mạch lạc cho văn bản.
Ví dụ 3:
- Lan hôm nay chưa đi học, Lớp mình ai cũng bảo vậy.
Liên kết bằng phép thế ở ví dụ 3 được thể hiện qua từ vậy, nó dùng để thay
thế cho cụm từ Lan hôm nay chưa đi học.
Ví dụ 4:
SP1:- Chiều nay họp lớp. Tớ lại bị ốm rồi.
SP2:- Để tớ xin phép cho.
Đoạn thoại trong ví dụ này không sử dụng phương tiện liên kết nhưng vẫn
đảm bảo được sự mạch lạc vì các thoại ngôn liên kết với nhau bằng hàm ngôn.
SP1 nói bị ốm nhưng thực chất là nhờ bạn xin phép nghỉ họp lớp giúp
mình.
SP2 nhận lời giúp bạn.
Giữa mạch lạc và liên kết thì mạch lạc là yếu tố quyết định tính văn bản hay
chất cho văn bản, làm cho văn bản trở thành văn bản thực sự.
1.1.2.4. Yếu tố chỉ lượng
Văn bản được thể hiện bằng sự nối tiếp tuyến tính của nhiều câu - phát
ngôn - đây là cơ sở hiện thực cho mạch lạc và liên kết.

11
Nếu văn bản được làm thành từ hoặc một câu thì mạch lạc và liên kết trong
văn bản không thật hiển nhiên nữa.

12
Trên cơ sở đó, trong phạm vi của khóa luận này chúng tôi tạm thời coi văn
bản là khái niệm tồn tại ở cả dạng văn tự và âm thanh (nói và viết).
Một văn bản có được gọi là văn bản hay không còn phụ thuộc vào một yếu
tố quan trọng khác là mạch lạc. Vì văn bản không phải đơn thuần được tạo nên
bởi “phép cộng đơn thuần” giữa các phát ngôn mà giữa chúng tạo thành một đơn
vị để thực hiện chức năng đó.
K.Wales (1994) có nhận định: “Mạch lạc được coi là một trong những điều
kiện hoặc đặc trưng hàng đầu của văn bản. Không có mạch lạc, một văn bản
không phải là một văn bản đích thực” [1;135].
Ngôn ngữ tồn tại với tính chất hai mặt nội dung và hình thức. Cho nên, tính
liên kết trong diễn ngôn cũng có hai mặt: liên kết nội dung và liên kết hình thức.
Hai mặt này có quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau.
- Liên kết nội dung: gồm liên kết đề tài, chủ đề, logic.
- Liên kết hình thức: gồm các phương tiện ngông ngữ.
Vì vậy, nhìn chung mạch lạc là một khái niệm khá mới mẻ, mơ hồ trong
nhận thức người Việt.
1.2.2. Khái niệm mạch lạc
1.2.2.1. Khái niệm mạch lạc trong từ điển
Mạch lạc là một hiện tượng có mức độ, không thể vạch đường phân giới
rạch ròi giữa có mạch lạc và không có mạch lạc. Hơn nữa, bên cạnh tên gọi “
mạch lạc” còn có tên gọi “liên kết” và tên gọi thứ hai này lại được chứ ý đến
một cách tập trung hơn trong thời gian trước đây. Ngay những người vốn
chuyên làm việc với “chữ nghĩa” thường cũng không dễ gì phân biệt được mạch
lạc với liên kết. Ai đó có quan tâm thì cũng chỉ cảm thấy là chúng không hoàn
toàn đồng nhất với nhau mà thôi, chứ không khó bề thực hiện “coi mặt đặt tên”
cho chúng một cách phân biệt. Sự thật đó được xác nhận qua nguồn gốc tên gọi
“mạch lạc”.
Trong tiếng Việt, từ “mạch lạc” là từ Hán Việt, và được định nghĩa như sau
trong một số từ điển:

là một văn bản đích thực” [2;135].
- M.AK.Halliday và Hassan trình bày cách hiểu khá rõ về mạch lạc: “Mạch
lạc coi như phần còn lại (sau khi trừ liên kết) thuộc về ngữ cảnh của tình huống
với những dấu nghĩa tiềm ẩn. Mạch lạc được coi là phần bổ sung cần thiết cho
liên kết, là một trong những điều kiện tạo thành chất văn bản” [12;9].

14
- Ở Việt Nam, tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Một văn bản, một diễn
ngôn là một lập luận hay phức hợp bất kể văn bản viết theo phong cách chức
năng nào, tính lập luận là sợi chỉ đỏ được bảo đảm tính mạch lạc về nội dung
bên cạnh tính liên kết về hình thức của văn bản, của diễn ngôn” [5;174].
- Tác giả Diệp Quang Ban lại cho rằng: “Cái nhìn chung nhất hiện nay là
những từ trực tiếp diễn đạt các quan hệ kết nối giữa các câu- phát ngôn làm
thành các tiểu hệ thống (các phương tiện liên kết) thì được sắp xếp vào liên kết,
còn những mối quan hệ kết nối nào thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các
câu thì thuộc về mạch lạc” [3;71].
Qua các cách biểu hiện trên, ta thấy dù các nhà nghiên cứu có các cách phát
biểu khác nhau về mạch lạc nhưng xét chung lại họ đều thống nhất ở các điểm
sau đây:
Mạch lạc là một điều kiện để hình thành một văn bản đích thực và là đặc
trưng cơ bản nhất của một văn bản.
Mạch lạc là yếu tố không trùng với liên kết, mạch lạc và liên kết có thể
cũng xuất hiện trong một văn bản.
1.2.3. Phân biệt mạch lạc với liên kết
Mạch lạc và liên kết là hai phương diện khác nhau. Mạch lạc là sợi dây nối
nối các yếu tố mang nghĩa trong văn bản.
Liên kết là bộ phận trong hệ thống của một ngôn ngữ với chức năng nối
nghĩa của câu với câu trong văn bản, theo những cấu hình nghĩa xác định.
Tuy nhiên, mạch lạc là một hiện tượng khá mơ hồ, ranh giới giữa mạch lạc
và liên kết khó có thể phân định rõ ràng. Vì thế vấn đề đặt ra là: làm thế nào để

đường. Trên con đường ấy, chiếc xe lăn bánh rất êm. Khung cửa xe phía cô gái
ngồi lồng đầy bóng trăng. Trăng bồng bềnh nổi lên qua dãy núi Pú Hồng. Dãy
núi có ảnh hưởng quyết định đến gió mùa đông bắc ở miền Bắc nước ta. Nước
ta bây giờ của ta rồi; cuộc đời bắt đầu hửng sáng”.
Trong ví dụ này đã chỉ ra từng đôi câu đứng liền nhau có phương tiện liên
kết (lặp từ vựng) và làm thành một chủ đề. Nhưng xét trong tổng thể thì không
xác định được đề tài và chủ đề của nó là gì. Nó chỉ là sự minh họa cho sự lạc đề
mà thôi.
Điều này khẳng định, chuỗi câu liên kết chặt chẽ với nhau vẫn không thể
thành một văn bản vì chúng không mạch lạc với nhau.
1.3. Các biểu hiện của mạch lạc
Mạch lạc là một hiện tượng có thực nhưng khá trừu tượng và không dễ nắm

16
bắt. Để làm rõ mạch lạc thường phải dùng những dẫn chứng phản diện, tức là
chỉ ra những hiện tượng không mạch lạc để qua đó mà nhận biết mạch lạc. Cần
lưu ý rằng mạch lạc cũng được hiểu theo những cách rộng hẹp khác nhau. Cách
hiểu rộng về mạch lạc là cách hiểu trong đó thể hiện sự quan tâm của nhiều
ngành học như tâm lý học, văn học, ngôn ngữ học nói chung. Cách hiểu hẹp về
mạch lạc là cách hiểu riêng của những nhà phân tích diễn ngôn, họ hiểu mạch
lạc là sự dung hợp nhau của các hành động nói.
Mạch lạc là quan hệ nghĩa mà cũng có thể là quan hệ chức năng giữa các
hành động nói trong tương tác. Trên thực tế, việc xem xét tất cả các hiện tượng
thuộc về mạch lạc tồn tại trong tất cả các văn bản thuộc các thể loại khác nhau là
công việc rất đồ sộ, không dễ thực hiện. Trong phạm vi khóa luận này, chúng tôi
xin đưa ra một số biểu hiện thực tế dễ nhận biết của mạch lạc được nêu trong
phạm vi cụ thể sau dây:
1.3.1. Mạch lạc trong quan hệ giữa các đề tài, chủ đề của câu
Các đề tài và chủ đề của câu trong một văn bản thường có mối quan hệ với
nhau. Mối quan hệ giữa chúng làm nên sự mạch lạc của văn bản chứa chúng.

“Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình
đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng
trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”.
(Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh)
Trong ví dụ này cùng nói đến một đối tượng là “thực dân Pháp”. Nhưng ở
câu sau tác giả đã thay thế bằng từ “chúng”, là đại từ nhân xưng dùng để thay
thế cả cụm từ thực dân Pháp. Cách dùng đại từ nhân xưng như vậy cũng giúp
liên kết hai câu lại với nhau.
1.3.1.2. Triển khai đề tài – chủ đề
Triển khai đề tài, chủ đề là trường hợp từ một đề tài nào đó trong một câu,
liên tưởng đến đề tài khác thích hợp trong câu khác theo một quan hệ nào đó,
nhằm mục đích làm cho sự việc được nói đến phát triển thêm lên. Các đề tài
được thêm vào phải có cơ sở nghĩa và logic nhất định. Cơ sở nghĩa là sự phù
hợp về nghĩa với đề đã có và với tình huống sử dụng nói chung, cơ sở logic là
tính cần và đủ.
Về mặt liên kết, sự triển khai đề tài được thực hiện chủ yếu nhờ:

18
- Phép phối hợp từ ngữ;
- Phép so sánh.
- Ví dụ 9:
“ Tiếng trống thư không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang
lên để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh
hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt
trên nền trời”.
(Hai đứa trẻ - Thạch Lam)
Trong ví dụ này các từ: “trống thu không, buổi chiều, phương tây đỏ rực,
đám mây ánh hồng, dãy tre làng trước mặt đen lại” là những từ có quan hệ với
nhau theo kiểu chúng cùng chỉ một sự việc và chúng có mặt trong cùng sự việc:
chiều tàn của phố huyện. Các từ này gộp lại làm thành cái nền cho một buổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status