Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Người viết chọn đề tài Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ
của nhà văn Tô Hoài, với các lí do sau:
Người viết muốn hiểu rõ về nền văn học và đời sống của con người trong giai đoạn
1945 - 1954. Muốn hiểu sâu hơn về tác giả Tô Hoài cũng như các tác phẩm của ông. Đặc
biệt là hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ mà Tô Hoài đã bỏ không ít
công sức để xây dựng.
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954, gắn liền với hai sự kiện có ảnh hưởng
sâu rộng đến mọi mặt của đời sống chính trị - xã hội Việt Nam: Cách mạng tháng Tám và
cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài suốt 9 năm. Chính hai sự kiện này đã ảnh hưởng
không nhỏ đến nền văn học Việt Nam cũng như số phận, cuộc sống của những người dân
trong giai đoạn này.
Văn học ở giai đoạn này, chủ yếu viết về hiện thực cuộc sống và hiện thực cách
mạng. Có rất nhiều nhà văn cùng với tác phẩm của mình đã thực sự tỏa sáng như: Hồ
Phương với truyện ngắn Thư nhà (1948), Nguyễn Đình Thi với tiểu thuyết Xung kích
(1951), Võ Huy Tâm với tiểu thuyết Vùng mỏ (1953), Nguyễn Tuân với thể loại ký Tình
chiến dịch (1950), Nguyễn Huy Tưởng cùng Ký sự Cao Lạng (đạt giả thưởng văn nghệ
năm 1951-1952),… Đặc biệt, Tô Hoài với tập truyện Truyện Tây Bắc (1953). Tập truyện
Truyện Tây Bắc gồm có 3 truyện: Cứu đất cứu Mường, Mường Giơn và Vợ chồng A Phủ.
Trong đó, truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là truyện phản ánh cuộc sống của người dân vùng
núi Tây Bắc và hiện thực xã hội giai đoạn này rõ nét nhất. Hiện thực cuộc sống tối tăm,
lối sống lạc hậu và chịu sự áp bức bóc lột nặng nề dưới ách thống trị lúc bấy giờ.
Nghiên cứu đề tài này, người viết có thể hiểu rõ hơn về Tô Hoài cũng như hình
tượng nhân vật trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ. Nếu như cốt truyện là yếu tố cần thì
nhân vật là yếu tố đủ để giúp cho mạch chuyện được viết nên thật chặt chẽ và sinh động.
Nhân vật chính là nơi tác giả gửi gắm những quan điểm, khát khao của mình.
Tác phẩm Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đã gửi gắm toàn bộ tâm tư, những ước vọng
của mình vào nhân vật nhất là nhân vật Mị và A Phủ. Một cô Mị với sức sống tiềm tàn
nhưng mãnh liệt, một A Phủ cá tính mạnh mẽ, gan góc. Từ đó, thấy được sự thành công
của Tô Hoài khi ông dám phơi bày bản chất tàn bạo của giai cấp thống trị ở miền núi.

và truyện ngắn về cảnh và người một vùng quê ven đô - quê ngoại và cũng là quê sinh nơi tác giả đã sinh sống suối đời cho đến hôm nay” [31; tr.30].
Năm 2007, Nguyễn Đức Quyền, có công trình Bình giảng – Bình luận văn học.
Công trình này có bài viết Vợ chồng A Phủ. Bài viết này, tác giả bình giảng về truyện
ngắn Vợ chồng A Phủ, Mị và cuộc đời Mị, sức sống ẩn chứa trong Mị, nghệ thuật kết cấu
và ý nghĩa tư tưởng: “Đoạn trích giảng là phần đầu câu chuyện, kể về lai lịch cô Mị,
cuộc sống đau khổ của Mị trong nhà Pá Tra và sức trổi dậy mãnh liệt của lòng yêu đời,
ham sống ở cô, trong một ngày xuân” [1; tr.347].
Năm 2010, Nguyễn Xuân Lạc, có công trình nghiên cứu 125 bài văn dành cho
học sinh lớp 11 và 12 luyện thi tú tài – cao đẳng – đại học . Trong đó có bài viết về
hành động của nhân vật Mị: “Đọc Vợ chồng A Phủ, ta không thể quên được chi tiết Mị
cắt dây cởi trói cho A Phủ - một chi tiết làm nên mọi giá trị tác phẩm. Và đúng như ai đó
từng nói, khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị đã tự cắt dây trói cuộc đời mình với nhà
thống lí Pá Tra” [14; tr.252].
Như vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Tô Hoài cũng như các tác phẩm
của ông. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu về hình tượng nhân vật trong truyện ngắn của
Tô Hoài vẫn khá ít và chưa chuyên sâu tìm hiểu một cách trọn vẹn Hình tượng nhân vật
trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ. Vì thế, người viết chọn đề tài niên luận của mình là
Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. Dù các tác giả viết
2


về khía cạnh nào đi nữa, dù viết trực tiếp hay gián tiếp. Tôi xin kế thừa những thành tựu
của các nhà nghiên cứu, phê bình.

3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô
Hoài, người viết nhằm đạt được những mục đích sau:
Người viết muốn hiểu rõ hơn về nhà văn Tô Hoài cũng như truyện ngắn Vợ chồng
A Phủ của ông, nhằm tích lũy kiến thức văn học cho bản thân. Đồng thời, hiểu được nội
dung, ý nghĩa và những ý đồ mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm.

3


Phương pháp phân tích - tổng hợp: Trong khi phân tích người viết cũng huy động
tất cả các thao tác giải thích, chứng minh, bình luận,… Đồng thời, so sánh đối chiếu để
làm nổi bật vấn đề nghiên cứu. Sau cùng, để trình bày kết quả thu được qua quá trình
nghiên cứu, người viết kết hợp cả hai phương pháp diễn dịch và quy nạp.

4


Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Hình tượng và hình tượng nhân vật
1.1.1. Hình tượng nói chung
Theo góc độ văn học và nghệ thuật, hình tượng được hiểu là sự phản ánh hiện thực
một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thức nhưng hiện tượng cụ thể, sinh động,
điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảm tính.
Hình tượng còn là những gì quen thuộc, gần gũi nhất với chúng ta. Cũng như
Doboline đã nói: “Đối với tôi hình tượng luôn luôn nằm ở đầu ngòi bút” [26; tr.91]. Còn
Bielinski thì cho rằng: “Nhà thơ tư duy bằng hình tượng nhà thơ không chứng minh mà
trình bày bằng chân lí” [28; tr.91]. Mỗi nhà văn đều xây dựng hình tượng cho tác phẩm
của mình và có những cách xây dựng khác nhau, có những đặc điểm khác nhau, nó riêng
biệt và nổi bật.
Hình tượng thường được hình thành trong mối quan hệ giữa thế giới hiện thực
khách quan với nhận thức chủ quan của con người, giữa nghệ thuật và cuộc sống. Song,
hình tượng không là một bức ảnh chụp hay một bản sao chép máy móc theo đúng nguyên
mẫu của thế giới hiện thực, bởi vì nó thuộc về thế giới của tinh thần và thế giới của sự
sáng tạo. Hình tượng không chỉ phản ánh hiện thực mà còn khái quát hóa, điển hình hóa
toàn bộ thế giới hiện thực, nhằm tìm ra được những yếu tố cốt lõi nhất của hiện thực
khách quan. Hình tượng không giống với các khái niệm mang tính trừu tượng mà nó

thầm kín của mình. Nhân vật cũng là nơi để nhà văn thể hiện quan điểm nghệ thuật và lí
tưởng thẩm mĩ của chính bản thân mình về con người. Tô Hoài cũng cho rằng: “Nhân vật
là nơi duy nhất, tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” [15; tr.248].
Mỗi một nhà văn tuỳ theo cảm quan hiện thực đời sống, tuỳ theo quan niệm của
mình mà có những kiểu nhân vật riêng. Chẳng hạn, trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ
của Tô Hoài thì nhân vật Mị được xem là hình tượng nhân vật điển hình, điển hình cho số
phận của những người nông dân ở vùng núi Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn thực dân
nửa phong kiến, thần quyền. Trong truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao thì Hộ là hình
tượng nhân vật điển hình cho bi kịch của những người trí thức nghèo trong xã hội bấy
giờ.
Hình tượng nhân vật là nhân vật điển hình trong các tác phẩm văn học, mang đậm
nét khái quát và những nét riêng đặc biệt có trong từng nhân vật. Cũng theo Tô Hoài:
“Nhân vật là trụ cột của sáng tác, phải chuẩn bị nhận vật trước tiên” [16; tr.248]. Hình
tượng nhân vật là nơi thể hiện tập trung lý tưởng đạo đức thẩm mĩ của tác giả, là cái tác
động đến người đọc trên ba mặt: nội dung nghệ thuật, trình độ và hiệu lực của sáng tạo
nghệ thuật ngôn từ.
Phương Lựu cho rằng: “Hình tượng nhân vật là khách thể tinh thần, mọi phương
tiện biểu hiện chỉ có ý nghĩa khi nào làm sống lại các khách thể đó, và người đọc tác
phẩm, chỉ khi nào thâm nhập vào thế giới tinh thần đó mới có thể nảy sinh được thưởng
thức đồng cảm” [7; tr.140].
Như vậy, xây dựng hình tượng nhân vật chính là một phần thiết yếu của tác phẩm.
Nếu không xây dựng được hình tượng cho tác phẩm thì tác phẩm sẽ khô khan và không
thú vị, không có nét riêng.

1.2. Vài nét về nhà văn Tô Hoài và sự nghiệp sáng tác văn chương
1.2.1. Nhà văn Tô Hoài
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen sinh ngày 07 – 9 – 1920 và tính đến nay ông đã
được 95 tuổi. Ông sinh ra tại quê nội làng Nghĩa Đô, huyện Thanh Oai, phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông, Hà Nội trong một gia đình thợ thủ công. Tuy nhiên ông lớn lên ở quê ngoại
là làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường
Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Ông còn có nhiều bút danh khác như: Mai Trung,

lịch sử Tô Hoài cho ra đời những tác phẩm với những nội dung khác nhau. Sự nghiệp
sáng tác của Tô Hoài được chia thành hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám –
1945.
*Trước Cách mạng tháng Tám – 1945:
Tô Hoài đã khẳng định vị trí của mình trong bằng một loạt các tác phẩm độc đáo,
đặc sắc như: Dế mèn phiêu lưu kí (1941), Quê người (1941), O chuột (1942), Trăng thề
(1943) Nhà nghèo (1944 ).
Tô Hoài có nhiều tác phẩm được dịch ra tiếng nước ngoài, đặc biệt Dế mèn phiêu
lưu ký được nhà văn viết năm 18 tuổi, là một trong những tác phẩm văn học thiếu nhi
được yêu thích nhất cũng là tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất.
Tác phẩm của Tô Hoài trước Cách mạng có thể phân thành hai loại chính là :
truyện về loài vật và truyện về nông thôn trong cảnh đói nghèo.
7


Những truyện về loài vật tiêu biểu như: O chuột (1942), Con dế mèn (1941), Dế
mèn phiêu lưu kí (1941),... Qua những tác phẩm trên ta thấy, Tô Hoài là nhà văn thích viết
về những cái tốt, cái đẹp, cái thiện trong cuộc sống nhằm bày tỏ mong muốn có một cuộc
sống êm ấm, hạnh phúc và bình yên trong xã hội. Một cuộc sống tốt đẹp thật sự.
Bên cạnh truyện viết về loài vật ông còn mảng truyện viết về nông thôn trong cảnh
sống đói nghèo, tất cả đều được nhà văn miêu tả một cách chân thực và sinh động. Cuộc
sống bần cùng, bế tắc của những kiếp người nghèo khổ, lang thang, phiêu bạt, những
người thợ thủ công bị thất bại đều được nhà văn tái hiện lại qua từng trang sách bằng tất
cả niềm cảm thông, trân trọng chân thành của nhà văn: Nhà nghèo (1944), Xóm giếng
ngày xưa (1944),…
*Sau Cách mạng tháng Tám – 1945:
Tô Hoài có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng và sáng tác. Ông đã có những suy
nghĩ mới mẻ về hiện thực cuộc sống và sáng tạo ra những tác phẩm mang nhiều giá trị ở
các thể loại khác nhau. Trong đó, thành công nhất của ông là tiểu thuyết Miền Tây đã đạt
giải Bông sen vàng của Hội Nhà văn Á Phi năm 1970. Trong sáng tác, Tô Hoài đã có

1.3.1. Xuất xứ
Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ được viết năm 1952, in trong tập Truyện Tây Bắc,
tập truyện được giải nhất của Hội Văn nghệ Việt Nam (1945 – 1955). Truyện ngắn Vợ
chồng A Phủ là kết quả của chuyến đi dài tám tháng theo bộ đội vào giải phóng Tây Bắc
năm 1952. Trong chuyến đi này nhà văn đã có dịp sống găn bó với đồng bào các dân tộc
thiểu số nên đã để lại nhiều kỉ niệm. Điều đó đã gợi nên cảm hứng để Tô Hoài viết
Truyện Tây Bắc trong đó có Vợ chồng A Phủ. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ gồm có hai
phần. Phần đầu viết về cuộc đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài. Phần sau viết về cuộc
sống nên vợ chồng, tham gia cách mạng của Mị và A Phủ ở Phiềng Sa.
Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ đã phản ánh số phận cực khổ của người dân miền
núi dưới ách thống trị của thực dân nửa phong kiến và thần quyền. Tố cáo các thế lực chà
đạp con người. Tái hiện cuộc đời Mị và A Phủ, tác giả bày tỏ lòng cảm thông, xót xa
trước cuộc sống cơ cực của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp và sức
sống quật cường của họ.

1.3.2. Tóm tắt truyện ngắn
Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ kể về cuộc đời hai thanh niên người Mông: Mị và A
Phủ. Mị là một cô gái trẻ đẹp và có tài thổi sáo. Cô là một cô gái yêu đời, yêu cuộc sống
tự do, không ham giàu sang, phú quý. Vì món nợ truyền kiếp, bị A Sử bắt về làm vợ, làm
dâu gạt nợ nhưng trên thực tế chính là làm nô lệ ở nhà thống lí Pá Tra. Từ khi bước chân
vào nhà thống lí Mị bị bóc lột về sức lao động, làm việc quần quật, bị áp bức, sống lùi lũi
như con rùa nuôi trong xó cửa. Đã có lần Mị định tự tử nhưng vì thương bố Mị không
đành chết. Thế là Mị sống tiếp trong cuộc sống tăm tối, Mị dường như đã tê liệt về cảm
xúc. Mị làm việc một cách máy móc: Tết xong hái thuốc phiện còn giữa năm thì giặt đay,
se đay, đến mùa: đi nương bẻ bắp,… Mị làm việc tất bật cả ngày cả đêm. Bao nhiêu việc
cứ lặp đi lặp lại từ ngày này qua ngày khác, năm này sang năm khác.
Cho đến đêm mùa xuân, tiếng sáo gọi bạn tình của những thanh niên ở làng Mèo
Đỏ đã đánh thức trong Mị niềm khát khao tự do, hạnh phúc. Mị đã uống rượu, khều to
ngọn đèn, với tay lấy cái váy hoa sửa soạn đi chơi nhưng A Sử đã trói đứng Mị suốt đêm,
Mị sống trong sự giằng xé giữa khao khát tự do và hiện tại nghiệt ngã.

ngựa cho nhà tao. Đời mày, đời con mày, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ
thì tao mới thôi” [6; tr.12]. Dù xuất hiện ít nhưng ta vẫn thấy được bản tính của thống lí
Pá Tra, bản tính của bọn chúa đất hung hãn, tàn bạo. Thông qua nhân vật thống lí Pá Tra,
Tô Hoài đã tố cáo sự áp bức, bóc lột của ách thống trị thực dân. Nhà văn đã lột tả được
hết bản chất và bộ mặt giả dối, ác độc của bọn chúa đất, thần quyền.

2.1.2. Nhân vật A Sử
Nhân Vật A Sử là con trai của thống lí Pá Tra, đại diện cho tầng lớp thống trị. Nhà
giàu nhất làng, có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng. Từ cái nhìn đầu
tiên cho ta thấy, A Sử là người ngang ngược, không chịu nói lý lẽ khi bắt cóc Mị về vợ để
trừ nợ: “Nhét áo vào miệng Mị rồi bịt mắt, cõng Mị đi” [17; tr.5]. Một người cậy quyền
thế và hung hãn khi: “A Sử ném đá vào vách” [6; tr.10]. Hắn kéo bè lũ đến gây sự với
những thanh niên trong làng.
Ngoài ra, A Sử còn là người độc đoán khi: “Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi
tết” [25; tr.7]. Khi trói đứng Mị khi cô chuẩn bị đi chơi. Sau đó A Sử ung dung đến với
cuộc chơi mà chẳng quan tâm gì đến vợ. Đối xử tệ bạc với Mị, đạp vào mặt Mị một cách
tàn nhẫn khi Mị ngủ quên trong lúc thoa thuốc cho hắn. A Sử chỉ xem Mị như một người
ở không hơn không kém. Hoàn cảnh xã hội đã đẩy những con người như A Sử thành con
người xấu xa, đáng bị nguyền rủa. Tô Hoài đã thành công khi xây dựng nhân vật A Sử với
tính cách của tầng lớp thống trị áp bức.

11


2.2. Hình tượng nhân vật người lao động nghèo khổ bị áp bức, bóc lột
2.2.1. Nhân vật Mị
Mị xuất hiện ngay ở những dòng đầu tiên của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ với
một thân phận đặc biệt. Đó là một cô gái âm thầm, lẻ loi, sống như gắn vào những vật vô
tri, vô giác.
Đến với nhân vật Mị, Tô Hoài đã không miêu tả chi tiết về ngoại hình của Mị ta

mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết. Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể
ăn lá ngón tự tử nữa. Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi” [10; tr.6]. Không một lời than
giãn chấp nhận cái số phận nghiệt ngã của mình. Mị chỉ biết cúi mặt không nghỉ ngợi gì
nữa mà cô chỉ nhớ đi nhớ lại những việc mình cần làm trong năm mà thôi. Bây giờ,
dường như Mị chỉ nghĩ mình cũng là con trâu, con ngựa. Ý thức làm người vốn có của Mị
12


đã bị giai cấp phong kiến vùi dập. Mị giờ đây, chỉ là một cái bóng vô cảm, vô hồn. Nhà
văn đã gián tiếp tố cáo sự áp bức bóc lột của bọn địa chủ phong kiến miền núi.
Sau những cuộc phản kháng, Mị dần trở nên âm thầm, vô cảm. Mị không còn cảm
nhận được thế giới xung quanh nữa, Mị chỉ nhớ đến những việc mình cần làm trong năm.
Vẫn tưởng Mị đã không còn sức chống chọi nhưng không, bởi cô Mị của trước kia là một
cô gái yêu đời, yêu cuộc sống vì vậy mà dù thế nào chăng nữa trong Mị vẫn chứa đựng
một sức sống mãnh liệt luôn nhen nhóm, chỉ cần có yếu tố tác động vào thì sức sống ấy sẽ
vụt lên mạnh mẽ như chính con người Mị của trước kia. Yếu tố tác động mạnh mẽ vào
linh hồn Mị không gì khác chính là đêm tình mùa xuân. Với cảnh mùa xuân vui tươi, tràn
đầy sức sống và màu sắc, với vẻ đẹp của thiên nhiên núi rừng, bữa cơm tết cúng ma đón
năm mới “chiêng đánh ầm ĩ” và bữa rượu tiếp ngay bữa cơm bên bếp lửa. Đặc biệt là
tiếng sáo gọi bạn tình của những thanh niên. Tiếng sáo ấy đã làm sức sống trong Mị thức
tỉnh. Tiếng sáo từ xa đầu tiên: “Trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra
phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ... Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên
sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe
tiếng sáo vọng lại thiết tha, bổi hổi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi” [1;
tr.7]. Tiếng sáo đầu tiên cất lên đã đánh dấu bước trở lại đầu tiên của một cô Mị yêu đời.
Mị đã cất tiếng hát sau bao năm câm lặng. Tiếng hát ấy không lớn mà nó chỉ như là
những lời thì thầm mùa xuân. Chỉ là hành động nhẩm thầm lời bài hát nhưng đó minh
chứng cho sự thay đổi trong Mị. Trong cái không khí của đêm tình mùa xuân, trong cái
nồng nàn của bữa rượu ngày tết, Mị cũng uống rượu, uống ực từng bát như muốn uống đi
những cay đắng vừa qua, để sống lại cuộc đời tươi trẻ. Cô đang sống những kỉ niệm ngày

ngày tăm tối, buồn khổ, thắp lên ngọn lửa sống trong Mị mà bấy lâu nay đã nguội lạnh.
Mị phản kháng một cách mạnh mẽ và liên tục trong tâm hồn để rồi dẫn đến hàng loạt
hành động.
Những hoạt động sống lại của Mị đang diễn biến mạnh mẻ cũng là lúc nó bị vùi
dập một cách dã man. A Sử đã trói đứng Mị vào cột, quấn luôn tóc Mị lên cột khiến cho
Mị không thể cựa quậy được: “Trong bóng tối, Mị đứng lặng im, như không biết mình
đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những đám
chơi, những cuộc chơi” [22; tr.8]. A Sử chỉ có thể trói buộc thể xác của Mị còn tâm hồn
Mị vẫn đi theo tiếng sáo Mị vùng bước đi như kẻ bị mộng du. Bởi Mị đang sống với ước
mơ, bằng ước mơ chứ không phải bằng hiện thực. Cả đêm Mị bị trói đứng như thế. Mị
sống trong sự giằng xé giữa quá khứ và hiện tại, giữa tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết và
tiếng chân ngựa đạp vào vách: “Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được.
Mị không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng
yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa” [25; tr.8]. Thực tại
phũ phàng đã dẫm lên ngọn lửa sống vừa mới nhen nhóm. Điều đó cũng hứa hẹn sẽ có
một cuộc phản kháng quyết liệt hơn. Cũng như nhân vật Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật
Mị của Tô Hoài không mất đi hoàn toàn bản chất tốt đẹp vốn có mà nó ẩn sâu trong tâm
hồn của Mị. Giống như ngọn lửa vẫn đang âm ỉ cháy dưới lớp tro tàn nguội lạnh, chỉ cần
một trận gió mát lành thổi tới là nó có thể cháy một cách mãnh liệt.
Sau đêm mùa xuân bị trói đứng, Mị lại trở về với tình cảnh u mê và có phần trầm
trọng hơn, Mị trở nên dửng dưng khi thấy cảnh A Phủ bị trói đứng. Bởi tâm hồn Mị đã
khép kín và câm lặng rồi. Cho đến khi Mị nhìn thấy những giọt nước mắt của A Phủ:
“Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy A Phủ cũng vừa mở, một dòng
nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” [21; tr.13]. Dòng nước mắt ấy
đã làm trỗi dậy trong Mị sự đồng cảm, thương người, thương mình. Mị nhớ lại đêm năm
trước Mị cũng phải trói đứng như thế kia. Có thể thấy, lòng thương mình là nền tảng để
thương người để rồi sau đó Mị hành động một cách mạnh mẽ. Mị nhìn rõ được bộ mặt tàn
ác và tội ác của cha con thống Lí. Sức mạnh của tình thương người và niềm khát khao tự
do trong Mị trỗi dậy, bùng phát mạnh mẽ đã khiến Mị vượt qua sự sợ hãi để đưa ra quyết
định và hành động táo bạo cắt dây cởi trói cho A Phủ và theo A Phủ bỏ trốn khỏi Hông

Từ năm lên mười, A Phủ đã bộc lộ mình là con người gan góc, cá tính ấy lại được
chính cuộc sống núi rừng, hoàn cảnh cực khổ, làm thuê, làm mướn hun đúc để A Phủ trở
thành người có mạnh mẽ, táo bạo. Cũng vì là người táo bạo, dám nghĩ dám làm nên A
Phủ đã đánh A Sử con trai thống lí Pá Tra khi A Sử đến sinh sự. Để rồi, A Phủ bị bắt, bị
hành hạ, bị xử ép và trở thành nô lệ cho nhà thống lí Pá Tra. Dường như A Phủ không
quan tâm mấy đến việc mình đang ở trừ nợ cho nhà thống lí. A Phủ vẫn: “Đốt rừng, cày
nương, đốt nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn ngựa quanh năm một thân một mình bôn ba
rong ruổi ngoài gò ngoài rừng. A Phủ đương tuổi sức lực. Công việc làm hay đi săn, cái
gì cũng làm phăng phăng. Không còn có lúc nào trở về làng bên. Nhưng A Phủ cũng
chẳng muốn trở về làm gì bên ấy nữa” [17; tr.12].
Vẫn tưởng cuộc sống của A Phủ sẽ suôn sẻ như thế nhưng không sóng gió một lần
nữa đến với A Phủ vì mải bẫy nhím, để hổ bắt mất một con bò, cứ ngỡ A Phủ sẽ lo sợ lắm
nhưng A Phủ rất thản nhiên vác nữa con bò mà hổ ăn dở về, điềm nhiên nói với thống lí
sẽ bắt hổ về và coi đó là chuyện dễ dàng: “Về đến nhà, A Phủ lẳng vai ném nửa con bò
xuống gốc đào trước cửa. Pá Tra bước ra hỏi: Mất mấy con bò? A Phủ trả lời tự
nhiên:Tôi về lấy súng. Thế nào cũng bắn được. Con hổ này to lắm”. Dù chỉ là một câu
nói nhưng ẩn chứa bên trong là cá tính táo bạo của A Phủ. A Phủ không sợ quyền lực,
cũng không sợ cái uy của ai cả. A Phủ bị trói đứng vào cọc ở nhà thống lí Pá Tra.
Trong suốt thời gian bị trói A Phử đã nhận ra được bản chất tàn bạo của xã hội
phong kiến, thần quyền Tây Bắc, cảm nhận được cuộc đời, số phận của mình. A Phủ đã
khóc, đó là những giọt nước mắt đau khổ khi ý thức được thực tại cuộc sống quá nghiệt
ngã, quá phủ phàng. Giọt nước mắt A Phủ: “Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt
trông sang, thấy A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má
15


đã xám đen lại” [21; tr.13]. Lần đầu tiên con người gan góc, mạnh mẽ như A Phủ khóc,
khóc vì số phận, vì cuộc sống hiện tại dưới ách thống trị của thực dân phong kiến và thần
quyền.
Cuối cùng nhờ sự giúp đỡ của Mị, A Phủ đã được giải thoát, hai người trốn khỏi

Tra, thống lí Pá Tra hút xong một lượt năm điếu, đến lượt người khác hút, lại người khác
hút” [31; tr.10]. Bọn chức việc chỉ biết đến việc hút thuốc phiện mà chẳng quan tâm đến
vì sao A Phủ đánh A Sử. Họ là những người tham quan chỉ biết lo cho cuộc sống của
mình mà chẳng nghĩ đến cuộc sống của người khác. Bọn quan chức đã tạo điều kiện để
thống lí Pá Tra có cơ hội bắt A Phủ trở thành người ở. Bắt A Phủ phải lệ thuộc vào hắn.
Tô Hoài đã xây dựng hình tượng nhân vật với hai mảng đối lập nhau: Một bên là
nông dân nghèo khổ, không quyền hạn. Một bên là quan chức giàu có, có uy quyền. Từ
đó, phản ánh rõ nét về cuộc sống của người dân nơi vùng núi Tây Bắc.
16


Chương 3: VÀI NÉT NGHỆ THUẬT VỀ HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN VỢ CHỒNG A PHỦ
3.1. Giọng điệu nghệ thuật
Tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài đã khắc họa chân thực những nét riêng
biệt về phong tục, tập quán, tính cách và cả về tâm hồn của người dân vùng Tây Bắc: Tục
trình ma, tục cưới hỏi, tục đi chơi ngày Tết,… với giọng văn nhẹ nhàng, đượm màu sắc.
Giọng kể khi thì khách quan, khi thì nhập vào nhân vật tạo ấn tượng cho người đọc.
Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài có một nét riêng mà không thể lẫn đi
đâu bởi giọng điệu mà tác giả sử dụng là giọng điệu tự nhiên, gần gũi với cuộc sống hàng
ngày của người dân. Bằng cách xưng hô “tao- mày” chân thực không chứa nhiều ẩn ý
làm cho người đọc dễ hiểu, dễ tiếp nhận: “Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à ?
Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ. Mày chết rồi thì không ai làm
nương ngô giả được nợ người ta, tao thì ốm yếu quá rồi. Không được con ơi !” [4; tr.6].
Đặc biệt thông qua tác phẩm người đọc có thể hiểu thêm về phong tục, tập quán của
dân tộc Mông: Phạt vạ, trình ma,cho vay nặng lãi, cưới hỏi, nối dây, gọi bạn tình, chơi
xuân,… “Tôi đã cướp được con gái bố về làm vợ, tôi đem về cúng trình ma nhà tôi rồi,
bây giờ tôi đến trình cho bố biết. Tiền bạc để cưới thì bố tôi bảo đã đưa cả cho bố rồi”
[21; tr.5]. Tô Hoài đã sử dụng những từ ngữ đậm chất miền núi nhờ đó đã làm cho tác
phẩm có sức hấp dẫn đặc biệt và sức sống với thời gian với những nét văn hóa dân tộc.

Ngoại hình và nội tâm là nhân tố không thể thiếu để thể hiện nhân vật. Bởi nhân
vật cần sự thống nhất giữa bên trong và bên ngoài. Để Mị xuất hiện ngay những dòng đầu
tiên của truyện Tô Hoài đã gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc khi khắc họa lên hình
ảnh của một cô gái lẻ loi, một cô con dâu nhà thống lí giàu sang mà mặt lúc nào cũng cúi
xuống và buồn rười rượi: “Cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu
ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước
dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi” [2; tr.4]. Nếu trước đây Mị là
một cô gái yêu đời, luôn vui vẻ thì bây giờ khi đã về làm dâu nhà thống lí Mị trở lặng lẻ
và mất hết sức sống lùi lũi. Bằng cách miêu tả rõ nét khuôn mặt của Mị, Tô Hoài đã khiến
ta phải suy ngẫm và cảm thấy mâu thuẫn. Một cô con dâu nhà giàu mà lúc nào cũng lùi
lũi, cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Mâu thuẫn ấy dường như muốn hé mở cho ta về cuộc đời
của Mị, báo hiệu một cuộc sống lắm chông gai và nghiệt ngã mà Mị sắp gánh chịu.
Nhân vật A Phủ là nhân vật được Tô Hoài nhắc đến là một con người khỏe mạnh và
có vẻ bề ngoài ưa nhìn: “A Phủ khỏe mạnh, chạy nhanh như ngựa, con gái trong làng
nhiều người mê, nhiều người nói rằng: Đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt
trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu” [29; tr.12]. Tô Hoài không miêu tả một cách trực tiếp
mà ông miêu tả gián tiếp ngoại hình của A Phủ thông qua việc làm, cử chỉ và hành động.
A Phủ một người gan dạ, siêng năng và cá tính.
Nhân vật Thống lí Pá Tra không xuất hiện nhiều trong tác phẩm nhưng đây là nhân
vật điển hình cho tầng lớp thống trị miền núi. Tô Hoài không miêu tả nhiều về ngoại hình
của thống lí mà chỉ phát họa sơ lượt, vài nét. Ta thấy, thống lí Pá Tra có cái đầu trọc và
đuôi tóc dài: “Lúc một loạt người hút xong, Pá Tra ngồi dậy, vuốt ngược cái đầu trọc dài,
kéo đuôi tóc ra đằng trước, cất giọng lè nhè” [3; tr.11]. Ngoại hình của thống lí Pá Tra
mang đậm chất miền núi.
Nhân vật A Sử với ngoại hình của một công tử giàu sang, con nhà quan chức: “A Sử
vừa ở đâu về, lại đang sửa soạn đi chơi. A Sử thay áo mới, khoác thêm hai vòng bạc ở cổ
rồi bịt cái khăn trắng lên đầu . Có khi nó đi mấy ngày mấy đêm. Nó còn muốn rình bắt
mấy người con gái nữa về làm vợ” [7; tr8].
Ngoại hình là một trong những yếu tố không thể thiếu khi xây dựng hình tượng
nhân vật. Ngoại hình giúp ta hiểu thêm phần nào về nhân vật. Trong truyện ngắn vợ

Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở
người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiến “Đi ngay…””
[6; tr .14]. Bao nhiêu u uất, dồn nén để rồi Mị cất tiếng. Mị bắt đầu sợ cái chết bởi lúc này
đây Mị đã nhận thức được tất cả. Sức sống trong Mị đã thực sự trở về. Cũng từ đây, Mị đã
được tự do bắt đầu một cuộc sống mới, ở vùng đất mới.
A Phủ là một người mạnh mẽ và gan dạ: “Về đến nhà, A Phủ lẳng vai ném nửa con
bò xuống gốc đào trước cửa. Pá Tra bước ra hỏi: Mất mấy con bò? A Phủ trả lời tự
nhiên: Tôi về lấy súng. Thế nào cũng bắn được. Con hổ này to lắm” đứng trước thế lực
thống trị A Phủ không hề sợ sệt bởi A Phủ là người không sợ cường quyền, là một người
gan góc, táo bạo. Qua câu nói của A Phủ ta còn nhận thấy anh là người có trách nhiệm, A
Phủ nhận thức được đâu là người vừa cứu mình, là ân nhân của mình vì vậy mà anh đã
dẫn Mị cùng đi, chạy trốn khỏi nhà thống lí Pá Tra.
Thống lí Pá Tra là người giàu có nhưng cậy quyền thế, không giúp đỡ người dân mà
ngược lại còn áp bức người nghèo khổ, ép Mị về làm dâu gạt nợ: “ Cho tao đứa con gái
này về làm dâu thì tao xóa hết nợ cho” [3; tr.5]. Lợi dụng cơ hội ép A Phủ trở thành
người ở: “Mày không có trăm bạc thì tao cho mày vay để mày ở nợ. Bao giờ có tiền giả
thì tao cho mày về, chưa có tiền giả thì tao bắt mày ở làm con trâu, con ngựa cho nhà
19


tao. Đời mày, đời con đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi”
[6; tr.12]. Thống lí Pá Tra là đại diện cho tầng lớp áp bức thống trị, thần quyền miền núi.
A Sử là một công tử nhà giàu, con trai thống lí Pá Tra tính tình ngang ngược và có
tính cậy quyền như cha, ỷ thế mạnh ăn hiếp kẻ yếu: “A Sử đang sắp bước ra, bỗng quay
lại, lấy làm lạ. Nó nhìn quanh, thấy Mị rút thêm cái áo. A Sử hỏi: Mày muốn đi chơi à?”
[14; tr.8]. Một câu nói cứ ngỡ là câu hỏi nhưng không, đây không phải là câu hỏi mà là
câu nói như có ý không cho Mị đi chơi, như một lời răn đe trước của A Sử.
Qua tác phẩm ta thấy, Tô Hoài đã sử dụng những từ ngữ sinh động, có chọn lọc. Đặc
biệt là sử dụng từ ngữ đậm chất miền núi làm nổi bật lên nhân vật. Nhà văn đã dùng
những ngôn ngữ bình dân trong lời nói của nhân vật. Từ đó giúp cho người đọc dễ dàng

20


[11; tr.8]. Tiếng sáo thúc giục sức sống tiềm tàng của Mị, tiếng sáo làm nền tảng để sức
sống ấy có thể trổi dậy mạnh mẽ.
Trong lòng Mị giờ đây chẳng cảm nhận được gì ngoài tiếng sáo: “Trong bóng tối,
Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe
tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi” [22; tr.8]. Trong tiềm thức,
Mị nghe thấy có tiếng hát của những đôi trai gái. Mị nhớ lắm ngày trước, cái ngày chưa
về làm dâu nhà thống lí. Mị đã từng hát như thế, vui vẻ như thế nhưng những ngày tháng
ấy đã kết thúc. Mị giờ đây chỉ là một người ở không hơn, không kém những giây phút ấy
giờ đây chỉ còn trong hồi tưởng, kí ức. Để rồi trong dòng suy nghĩ Mị bước đi, đi theo
tiếng gọi của lòng mình.
Nhà văn Tô Hoài đã miêu tả thành công nội tâm của nhân vật Mị khi cho Mị chứng
kiến cảnh A Phủ bị trói đứng rồi thấy những giọt nước mắt của A Phủ rơi xuống hai hõm
má. Để từ đó lòng thương mình, thương người trong Mị trổi dậy. Mị nhớ lại đêm năm
trước: “Nhìn thấy tình cảnh như thế. Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị
cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng xuống cổ,
không biết lau đi được” [23; tr.13]. Mị bắt đầu nhận ra sự độc ác của cha con thống lí.
Một khi đã nhận ra sự độc ác của bọn cường quyền chắc chắn con người sẽ đứng lên để
phản kháng và Mị cũng không ngoại lệ. Mị nhớ lại đời mình,nhớ số phận nghiệt ngã của
mình. Mị cảm thấy không sợ nữa, mạnh dạn cắt dây cởi trói cho A Phủ sau đó cùng A
Phủ trốn khỏi Hồng Ngài.
Tô Hoài đã rất thành công khi dùng bút pháp miêu tả nội tâm qua ngoại hình: “Có
việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên
tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải,
chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cuối mặt, mặt buồn rười rượi”
[1; tr.4]. Dáng vẻ buồn rầu như chứa đựng nhiều u uất trong lòng Mị.
Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ nhà văn không miêu tả về nội tâm của nhân vật
A Phủ, A Sử và thống lí Pá Tra mà chỉ miêu tả nhiều về hành động, qua những hành động

ngoại lệ: “Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ
thêm vào đĩa đèn cho sáng” [11; tr.8]. Mị thắp sáng lên cuộc đời tăm tối của mình, thắp
lên ngọn lửa lòng của Mị. Mị bắt đầu hàng loạt những hành động: Quấn lại tóc, với tay
lấy cái váy hoa. Mị muốn đi chơi, sắp đi chơi và đang chuẩn bị cho việc đi chơi của mình.
Chuẩn bị cho sự trở về con người thật của Mị.
Dường như không biết mình đang bị trói đứng, Mị đã bước đi, đi trong vô thức như
người mộng du trong đêm tối: “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình
đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc
chơi, những đám chơi. “Em không yêu, quả phao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt phao
nào…”. Mị vùng bước đi” [22; tr.8]. Mị muốn đi theo tiếng gọi của lòng mình. Nhưng sự
đau đớn ở tay, chân đã đưa Mị về với hiện tại đau khổ.
Trong suốt đêm tình mùa xuân, Mị đã đấu tranh dữ dội để tìm lại chính mình. Hành
động của Mị ngày càng quyết liệt hơn như báo trước rồi sẽ có những cuộc phản kháng
tiếp theo còn hơn thế nữa. Đến đây, ta đã thấy được sự thành công của Tô Hoài khi miêu
tả nhân vật Mị, từ một cô gái bị tê liệt về cảm xúc thì giờ đây Mị đã có những hành động
phản kháng mạnh mẽ.
Sau cái ngày bị trói đứng, Mị trở nên thờ ơ với tất cả. Mị thản nhiên khi thấy A
Phủ bị trói đứng Mị trở lại với cuộc sống lầm lũi. Khi bắt gặp những giọt nước mắt của A
Phủ: “Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa
mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” [21; tr.13]. Lòng
thương mình, thương người của Mị bừng tỉnh, Mị nhận ra được bản chất tàn độc của cha
con thống lí. Sau đó, Mị đã có một quyết định hết sức táo bạo đó là cắt dây cởi trói cho A
Phủ: “Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng
Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại… Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút
dây mây” [5; tr.14]. Mị đã cởi trói và cứu sống A Phủ đồng thời cũng cứu sống bản thân.
Cắt bỏ sợi dây trói buộc đời mình với nhà thống lí. Mị vụt chạy trong đêm tối, Mị chạy
theo A Phủ dù Mị không biết rồi sẽ đi đâu về đâu. Nhưng Mị biết một điều đi theo A Phủ
Mị sẽ không phải chịu cảnh khổ cực như ở nhà thống lí. Mị chạy theo A Phủ để tìm một
cuộc sống mới, một cuộc sống tươi đẹp hơn.
22

nợ tao mới thôi. A Phủ ! Lại đây nhận tiền quan cho vay” [6; tr.12]. Thống lí Pá Tra là
nhân vật tiêu biểu cho những tên địa chủ ác độc, áp bức và ức hiếp kẻ yếu, là đại diện cho
ách thống trị miền núi.
Tô Hoài đã xem những hành động như là một điểm nhấn để thu hút ánh nhìn của
độc giả đối với nhân vật của mình. Qua đó, nhà văn còn tố cáo tội ác của bọn chúa đất,
thực dân cảm thông cho số phận cực khổ, bị áp bức giam hãm trong cuộc sống tăm tối.
Đồng thời, nói lên sự phản kháng của những người lao động để đi tìm cuộc sống tự do.

3.3. Nghệ thuật xây dựng kết cấu
Qua truyện ngắn Vợ chồng A Phủ ta thấy Tô Hoài đã xây dựng kết cấu thời gian
rất chặt chẽ: Đan xen giữa hiện tại và quá khứ. Đầu tiên Mị xuất hiện ở hiện tại với hình
ảnh một cô gái lùi lũi, mặt buồn rười rượi: “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra
thường trông thấy có một người con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh
23


tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước
dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi” [1; tr.4]. Dáng vẻ của Mị đã
phản ánh được số phận của cô, số phận của người dân lao động bị áp bức.
Sau đó, Tô Hoài đưa Mị trở về với quá khứ tươi đẹp, một cô Mị trẻ trung yêu đời
và có tài thổi sáo: “Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo.
Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê,
ngày đêm thổi sáo đi theo Mị” [21; tr.7]. Quá khứ qua đi hiện tại nghiệt ngã lại trở về A
Sử đã trói đứng Mị khi Mị đang chuẩn bị đi chơi nhưng dù trói được thể xác của Mị
nhưng A Sử cũng không thể trói được tâm hồn Mị, Mị vẫn đi theo những cuộc chơi, đám
chơi. Một lần nữa tiếng chân ngựa đạp vào vách đã làm Mị thức tỉnh Mị trở về hiện tại
trong hoàn cảnh bị trói đứng.
Đêm mùa đông đến, khi Mị nhìn thấy những giọt nước mắt của A Phủ thì một lần
nữa Mị hồi tưởng về quá khứ: “Nhìn thấy tình cảnh như thế. Mị chợt nhớ lại đêm năm
trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống


bên là tầng lớp thống trị, cái ác. Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, Thống lí Pá Tra và
A Sử là đại diện cho tầng lớp thống trị, áp bức còn Mị và A Phủ là đại diện cho tầng lớp
nông dân nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột. Ngoài ra lối kết cấu này còn đối lập trong cả các
sự kiện, hình ảnh, âm thanh, tình tiết,… Chứ không riêng gì nhân vật. Trong truyện còn
có sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại: “Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa
được. Mị không nghe tiếng sáo nữa chỉ nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn
đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa” [25; tr8],
tiếng sáo trong quá khứ thật hay, hữu tình còn hiện tại là tiếng chân ngựa đạp vào vách
thô bạo. Hiện thực và quá khứ là hai mặt trái nhau, để soi sáng và tương phản lẫn nhau
giữa một cô Mị vui vẻ, yêu đời và một cô Mị vô cảm, thiếu sức sống.
Kết cấu đối lập là thủ pháp được sử dụng nhiều trong văn học. Tô Hoài đã sử dụng
sự đối lập này làm nổi bật lên hai tuyến nhân vật, bộc lộ hết tính cách, nhân phẩm và tâm
hồn nhân vật. Phản ánh rõ nét bộ mặt thật của xã hội.

KẾT LUẬN
Qua quá trình nghiên cứu hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ
của Tô Hoài, ta thấy được cuộc sống cơ cực, khổ sở của người dân miền núi Tây Bắc
dưới ách thông trị cường quyền và sự tàn ác, bóc lột của bọn địa chủ thực dân.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status