Trường từ vựng ngữ nghĩa về hoa và mẹ trong thơ dương kiều minh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THANH HƯỜNG

TR¦êNG Tõ VùNG NG÷ NGHÜA VÒ HOA Vµ MÑ
TRONG TH¥ D¦¥NG KIÒU MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THANH HƯỜNG
TR¦êNG Tõ VùNG NG÷ NGHÜA VÒ HOA Vµ MÑ
TRONG TH¥ D¦¥NG KIÒU MINH
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS. TRỊNH THỊ MAI
NGHỆ AN - 2014
4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3. Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4. Phương pháp nghiên cứu 13
5. Đóng góp của luận văn 13
6. Cấu trúc của luận văn 13

Chương 3
TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA VỀ MẸ
TRONG THƠ DƯƠNG KIỀU MINH 95
3.1. Các tiểu trường từ vựng ngữ nghĩa về mẹ trong thơ Dương Kiều Minh 95
3.1.1. Dẫn nhập 95
3.1.2. Các tiểu trường từ vựng về mẹ 97
3.2. Vai trò của trường từ vựng về mẹ trong thơ Dương Kiều Minh 121
3.2.1. Trường từ vựng về mẹ góp phần thể hiện tình cảm của tác giả dành cho mẹ 121
3.2.2. Trường từ vựng về mẹ góp phần khắc họa hình ảnh người phụ nữ Việt Nam 126
3.3. Tiểu kết chương 3 131
KẾT LUẬN 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tác phẩm văn học là một hệ thống ký hiệu có tổ chức riêng. Trong đó
các đơn vị từ, ngữ, câu đều là những phương tiện quan trọng mang giá trị thẩm
mỹ. Từ ngữ chính là nguyên liệu cơ sở giữ vai trò cơ bản trong việc xây đắp
nên hình tượng nghệ thuật, yếu tố quyết định sự tồn tại của tác phẩm văn học.
Mỗi nhà thơ có một cách dùng từ riêng. Mỗi tác phẩm có một hệ thống lớp từ
ngữ mang đặc trưng riêng. Từ ngữ là một trong những thành tố tạo nên dấu ấn
của tác phẩm và cũng là một trong những thành tố góp phần làm nên phong
cách của tác giả.
1.2. Nền văn học Việt Nam đương đại đang xuất hiện khá nhiều nhà
thơ với nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau, thu hút sự chú ý của dư
luận. Trong số đó phải kể đến nhà thơ Dương Kiều Minh, một trong những
hiện tượng thi ca tiêu biểu của thi đàn văn học Việt Nam thời kì đổi mới.
Với bảy tập thơ Củi lửa, Dâng mẹ, Những thời đại thanh xuân, Ngày xuống
núi, Tựa cửa, Tôi ngắm mãi những ngày thu tận, Khúc chuyển mùa cùng
nhiều tùy đàm văn chương, Dương Kiều Minh đã tạo nên một gương mặt

Luận án Phó tiến sĩ của Nguyễn Đức Tồn “Trường từ vựng bộ phận cơ thể
người” (1988) đã đi sâu nghiên cứu một trường từ vựng, cụ thể là trường từ
vựng bộ phận cơ thể người, qua các tiểu trường từ vựng bộ phận cơ thể người,
tác giả đã phân tích, lý giải mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa rất lý thú.
Năm 1996, Nguyễn Thúy Khanh với luận án Phó tiến sĩ cũng nghiên cứu
một trường từ vựng tiêu biểu đó là “Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên
gọi động vật”. Từ các tên gọi động vật, tác giả cũng đã lý giải mối quan hệ
ngôn ngữ và văn học và có nhiều nhận xét mới mẻ về tên gọi động vật.
8
Nguyễn Ngọc Trâm là tác giả đã có một số công trình nghiên cứu các
trường từ vựng ngữ nghĩa cụ thể, chẳng hạn như “Tìm hiểu nhóm từ biểu thị
phản ứng tâm lý tình cảm” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, 1975).
Chu Bích Thu cũng đi vào một số nhóm từ cụ thể như “một vài suy nghĩ
về nghĩa những từ thuộc nhóm “tròn - méo” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 2, 1975).
Tác giả Hoàng Trọng Canh là người có nhiều công trình nghiên cứu về
trường từ vựng ngữ nghĩa như “Văn hóa người Nghệ Tĩnh qua vốn từ vựng
nghề cá” (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1, 1996), “từ chỉ nghề nghiệp
trong phương ngữ Nghệ Tĩnh” (Đề tài cấp Bộ, 2005).v.v…
Giáo sư Đỗ Thị Kim Liên cũng có nhiều công trình nghiên cứu về trường
từ vựng như: “Trường ngữ nghĩa về cây lúa và các sản phẩm từ lúa phản ánh
đặc trưng văn hóa lúa nước trong tục ngữ Việt” (Tạp chí Văn hóa dân gian,
số 4, 2006), “Trường ngữ nghĩa biểu hiện quan niệm về nữ giới trong tục ngữ
Việt” (Ngôn ngữ đời sống, số 6, 2007).v.v…
Những năm gần đây có rất nhiều công trình là bài báo, luận văn thạc sĩ
nghiên cứu về các trường từ vựng cụ thể trong tác phẩm văn học như Trịnh
Thị Mai với “Tiếp cận bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận qua các trường
từ vựng ngữ nghĩa” (Kỷ yếu Ngữ học trẻ, 2008). Trần Thị Mai với “Trường
từ vựng chỉ không gian trong tập thơ lửa thiêng của Huy Cận ” (Tạp chí
Ngôn ngữ và đời sống, số 1 + 2, 2010). Đỗ Thị Hòa với “Một số đặc điểm
tâm lý văn hóa Việt qua nhóm từ ngữ thuộc trường nghĩa loài thú trong ca

Hoàng Kim Ngọc có bài viết “thi pháp ngôn ngữ thơ Dương Kiều Minh”
đăng tải trên trang vietvan.vn. Và đặc biệt hơn tại cuộc hội thảo văn học với
chủ đề “ Dương Kiều Minh trong diễn trình đổi mới thơ ca đương đại” diễn
ra vào ngày 16/5/2012, tại khoa Viết văn - Báo chí, trường Đại học Văn hóa
Hà Nội. Tại hội thảo, nhiều ý kiến tham luận và phát biểu của các nhà văn,
10
nhà thơ tên tuổi như Bằng Việt, Nguyễn Quang Thiều, Chu Văn Sơn, Lưu
Khánh thơ, Nguyễn Đăng Điệp, Văn Giá, Đỗ Ngọc Yên, Văn Chinh đã
đánh giá cao những đóng góp của Dương Kiều Minh trong nền thơ Việt
Nam hiện đại. Hội thảo còn thu hút nhiều bạn đọc, sinh viên và những người
yêu mến, quan tâm đến nhà thơ xứ Đoài này.
Bình Nguyên Trang trong bài viết “Thơ Dương Kiều Minh - Bài học
quý cho nhiều nhà thơ trẻ” có nhận định: “Những tập thơ “Củi lửa”, “Dâng
mẹ”, “Những thời đại thanh xuân”, “Ngày xuống núi”, “Tựa cửa”, “Tôi
ngắm mãi những ngày thu tận”, “Khúc chuyển mùa”… đã tạo nên tầm vóc
Dương Kiều Minh - một nhà thơ khắc khoải với cuộc đời, không ngừng tìm
kiếm những giá trị mới trên nền tảng của truyền thống phương Đông, 29 tuổi,
đã vẽ lên được một diện mạo Thơ rõ ràng, ngay từ tập thơ đầu tiên, không
phải nhà thơ nào cũng làm được”.
Phần lớn những bài thơ của Dương Kiều Minh đều hiển lộ những hình
ảnh được soi chiếu từ ký ức. Dường như đối với ông, mọi biểu đạt về vẻ đẹp
của đời sống đều được khơi gợi từ ký ức. Đó là hình ảnh người mẹ, cánh đồng
lúa rộ vàng, khu vườn tuổi thơ, ngôi nhà có bậc thềm “giàn giụa ánh trăng
mỗi tối”, những bụi hoa cúc dại, những đồi núi lô xô của vùng đất nơi ông
sinh ra và lớn lên, những tiếng thầm thì của ngày xưa…
PGS.TS Nguyễn Bích Thu đã trình bày những cảm nhận khái quát của
mình về thơ Dương Kiều Minh. Tác giả bài viết khẳng định: “Hành trình thơ
Dương Kiều Minh là hành trình đau đáu tìm đường đi và trải nghiệm, trong
đó nổi bật là những ưu tư đậm chất thế tục về thân phận con người. Điều đó
tạo nên trong thơ ông cảm thức về thời gian rất rõ nét (được ý thức như một

trường từ vựng về hoa và trường từ vựng về mẹ trong thơ Dương Kiều Minh
12
- Phân tích miêu tả các trường từ vựng về hoa và mẹ.
- Phân tích vai trò của hai trường hoa và mẹ trong tác phẩm thơ Dương
Kiều Minh.
- Rút ra nét đặc sắc trong phong cách ngôn ngữ Dương Kiều Minh qua
hai trường từ vựng về hoa và mẹ.
4. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê phân loại: Thống kê các từ thuộc hai chủ đề hoa
và mẹ sau đó phân loại các tiểu trường.
- Phương pháp phân tích miêu tả: Phân tích miêu tả từng trường cụ thể.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: so sánh hai trường với nhau về số từ,
số lần xuất hiện về vai trò.
5. Đóng góp của luận văn
Đây là công trình đầu tiên đi sâu tìm hiểu trường từ vựng - ngữ nghĩa về
hoa và mẹ trong thơ Dương Kiều Minh. Các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần
làm sáng tỏ thêm nhận định cái tên Dương Kiều Minh là “một hiện tượng văn
học”. Hiện tượng văn học này không phải là người tìm tòi hình thức mà đó là
sự tìm về vẻ đẹp thuần khiết, trong sáng giản dị. Công trình cũng là những tư
liệu bổ ích phục vụ cho việc dạy học tác phẩm văn học trong nhà trường.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
Chương 2: Trường từ vựng - ngữ nghĩa về hoa trong thơ Dương Kiều
Minh
Chương 3: Trường từ vựng - ngữ nghĩa về mẹ trong thơ Dương Kiều Minh
13
NỘI DUNG

Lý, Phan Khôi, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Kim Thản,
Hoàng Tuệ, Đỗ Hữu Châu… Các định nghĩa về từ tiếng Việt có thể chia làm
hai hướng quan niệm. Quan niệm coi tiếng là từ như hai tác giả Nguyễn Tài
Cẩn, Nguyễn Thiện Giáp. Quan niệm thừa nhận từ với ba đặc điểm: hoàn
chỉnh về âm và nghĩa, có tính độc lập, chức năng ngữ pháp. Các tác giả tiêu
biểu cho quan niệm này là Nguyễn Kim Thản, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Tuệ, Đỗ
Thị Kim Liên,v.v…
Nguyễn Kim Thản cho: từ là đơn vị của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các
đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn
chỉnh về âm và nghĩa, có chức năng ngữ pháp.
Đỗ Hữu Châu cho: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố
định bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức cấu tạo
nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong
tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu [6; 336].
Luận văn của chúng tôi lấy định nghĩa từ theo hướng quan niệm thứ hai
làm cơ sở để khảo sát trường từ vựng.
1.1.1.2. Phân loại từ
Vốn từ của một ngôn ngữ được phân thành các lớp khác nhau dựa vào các
cơ sở phân loại khác nhau như về cấu tạo, về nguồn ngốc, về phạm vi sử dụng.
a. Các lớp từ xét về mặt cấu tạo
Xét về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt được phân loại thành từ đơn, từ láy, từ
ghép. Sự phân loại này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện ra cơ chế
ngữ nghĩa thống nhất trong những từ cùng thuộc một kiểu loại.
15
- Từ đơn: là những từ do một hình vị tạo nên. Đặc điểm về mặt ngữ
pháp của chúng là có thể dùng độc lập (độc lập về vị trí và độc lập về ngữ
pháp). Từ đơn có hai loại là từ đơn nguyên gốc và từ đơn suy phỏng. Xét về
mặt ý nghĩa, các từ đơn đại bộ phận đều có ý nghĩa hết sức khái quát. “Không
kể các trường hợp đồng âm, tính khái quát của các từ đơn thể hiện ở hai
phương diện: thứ nhất, có ý nghĩa loại lớn (génerique), ngoại diên (extension)

chọn những cặp nguyên tố dị biệt trong đó có một yếu tố biểu thị ý nghĩa
phạm trù, còn yếu tố còn lại biểu thị đặc trưng khu biệt được lựa chọn như xe
đạp, xe ủi, xe lam, xe rùa, xe lăn,…
Quy tắc về cách tạo lập nên các đơn vị định danh phái sinh. Đó chính là
quy tắc ghép. Có hai kiểu ghép: ghép đẳng lập và ghép chính phụ. Tuy nhiên
để làm rõ quy tắc này thì chúng ta phải nói đến quy tắc tổ hợp và chuyển di
ngữ nghĩa. Đây là quy tắc cơ bản để tạo ra nghĩa phái sinh trong từ ghép.
a + b = AB
Ví dụ: áo + quần = áo quần
đồ mặc che phần trên đồ mặc che phần dưới trang phục - đồ mặc
Sự tổ chức này được tiến hành theo nguyên tắc: Bước một là tổ hợp
ngữ nghĩa, đó là hợp nhất nét đồng nhất lược bỏ nét dị biệt trong cơ cấu nghĩa
của các thành tố. Bước hai chuyển di ngữ nghĩa theo hướng biểu trưng hóa,
khái quát hóa.
b. Các lớp từ xét về nguồn gốc
- Từ thuần Việt: là bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt. Chúng biểu thị
những sự vật hiện tượng cơ bản nhất, tồn tại từ rất lâu đời.
- Từ vay mượn: từ vạy mượn trong tiếng Việt chủ yếu là vay từ ngôn
ngữ Hán và từ ngôn ngữ Châu Âu. c. Các lớp từ xét về phạm vi sử dụng
17
- Từ toàn dân: là những từ toàn dân hiểu và sử dụng, nó là vốn từ chung
cho tất cả những người nói tiếng Việt thuộc các địa phương khác nhau trên
toàn lãnh thổ.
- Từ địa phương: là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày ở một
địa phương nào đó.
Trên đây là những khái quát về từ và từ tiếng Việt. Có thể nói lý
thuyết về từ rất phong phú đây chỉ là những hiểu biết sơ bộ để phục vụ cho
luận văn này.
1.1.2. Nghĩa của từ
1.1.2.1. Quan điểm về nghĩa của từ

Từ tam giác nghĩa này, có nhiều tác giả cho rằng ý nghĩa của từ được
tạo thành từ ba nhân tố giống quan niệm của Ogden, Richard và Stern. Tuy
nhiên, sau đó nhiều thiếu sót của tam giác nghĩa này đã bị chỉ ra. Cụ thể là ba
nhân tố nghĩa tác giả đưa vào chưa thực sự cụ thể và đúng trong mọi trường
hợp. Như ở nhân tố từ ngữ âm, chỉ đưa mỗi nemyx, trong khi ở một số ngôn
19
ngữ mỗi từ có thể có rất nhiều hình thức ngữ âm. Thiếu sót thứ hai ở chỗ tác
giả chỉ đưa từ - ngữ âm mà không đưa các hình thức khác cũng liên hệ trực
tiếp đến nghĩa như từ - ngữ pháp, từ - cấu tạo. Cuối cùng, tam giác nghĩa này
không thể giải thích được tất cả các kiểu loại từ, nó chỉ có thể giải thích được
thực từ mà không thể giải thích các tiểu từ, quan hệ từ. Mặt khác, có thể nhận
thấy Stern đã trình bày từ như là những sự kiện riêng rẽ. Zveginxhev đã chỉ ra
thiếu sót này và sửa đổi tam giác nghĩa như sau:
Hình 1.3
Nhưng sự thay đổi này cũng không đem lại nhiều kết quả, bởi dù thay
đổi hay không thì tam giác nghĩa đó cũng tồn tại một nhược điểm nữa là
không chỉ ra được quan hệ giữa những thực thể đặt ở mỗi đỉnh với nhau và
quan hệ giữa mỗi thực thể đó với những nhân tố bên ngoài.
Khắc phục hầu hết những hạn chế đó, Giáo sư Đỗ Hữu Châu đã đưa ra
hình tháp nghĩa hình học không gian dưới đây. Với những ưu điểm của nó có
thể nói đây là cách hiểu khá hoàn hảo cho thuật ngữ “nghĩa của từ”.
20
Hình 1.4
Ở đỉnh cao nhất của hình tháp là từ (trừu tượng) với hai thành phần
hình thức và ý nghĩa. Ở mỗi đỉnh của đáy là những nhân tố góp phần làm
thành ý nghĩa, lần lượt là sự vật, hiện tượng, những hiểu biết của tư duy (khái
niệm), nhân tố người sử dụng (nhân tố lịch sử - xã hội), các chức năng tín
hiệu học, cấu trúc của ngôn ngữ.
Ưu điểm của hình tháp nhọn này là một mặt tách được những thực thể
đang xem xét (từ, các nhân tố) ra khỏi nhau, đồng thời vạch ra được những

b. Ý nghĩa biểu niệm
Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan có các thuộc tính, các
thuộc tính đó phản ánh vào tư duy hình thành các khái niệm. Hay nói cách
khác, khái niệm là một phạm trù của tư duy, được hình thành từ những hiểu
biết trong thực tế. Ðấy là những dấu hiệu bản chất về sự vật, hiện tượng. Các
thuộc tính đó phản ánh vào ngôn ngữ hình thành các nét nghĩa. Tập hợp của
các nét nghĩa đó trong ngôn ngữ, hình thành ý nghĩa biểu niệm. Như vậy, ý
22
nghĩa biểu niệm một mặt thông qua các ý nghĩa biểu vật mà liên hệ với hiện
thực khách quan, mặt khác, lại có quan hệ với khái niệm, qua khái niệm mà
liên hệ với hiện thực ngoài ngôn ngữ.
Các nét nghĩa bắt nguồn từ các thuộc tính của các sự vật trong thực tế,
tuy nhiên ngôn ngữ của mỗi dân tộc chỉ chọn một số thuộc tính cơ bản có tác
dụng xác lập ý nghĩa của từ trong hệ thống.
Phân loại các nét nghĩa:
- Nét nghĩa phạm trù (phạm trù vị): Là nét nghĩa lớn nhất, không thuộc
một loại nét nghĩa nào lớn hơn.
- Nét nghĩa loại (loại vị): Sự phân hóa tiếp theo của phạm trù vị là loại
vị. Ðây là nét nghĩa cũng có ở nhiều từ nhưng nhỏ hơn phạm trù vị. Hay nói
cách khác, loại vị là sự cụ thể hóa của phạm trù vị.
- Biệt vị: Tương tự sự phân hóa ở loại vị, biệt vị là sự biệt loại hóa của
loại vị. Có 2 loại biệt vị:
+ Biệt vị tận cùng: Kết quả của sự phân hóa một loại vị nào đó ở mức
thấp nhất.
+ Biệt vị đặc hữu: Những nét nghĩa thấp nhất chỉ xuất hiện ở 1 từ,
không phải là sự phân hóa của loại vị.
Vậy, ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và
riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định. Giữa các nét
nghĩa có những quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một số ý nghĩa biểu
vật của từ. Chính vì ý nghĩa biểu niệm của từ là một tập hợp có tổ chức, có

khái niệm quan hệ với ý nghĩa biểu niệm ở chỗ nó cung cấp những (vật liệu)
tinh thần để ngôn ngữ xây dựng nên ý nghĩa biểu niệm theo những quy tắc
cấu trúc của mình. Do đó, dù mọi dân tộc đều biết tư duy, nhưng hệ thống từ
vựng ngữ nghĩa của các dân tộc khác nhau.
24
c.Ý nghĩa biểu thái
Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái của từ bao gồm những nhân tố đánh
giá như to, nhỏ, mạnh, yếu, nhân tố cảm xúc như: dễ chịu, khó chịu, sợ
hãi, nhân tố thái độ như: trọng, khinh, yêu, ghét, mà từ gợi ra cho người
nói và người nghe.
1.2. Đặc điểm hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa
1.2.1. Hệ thống trong ngôn ngữ
Trước khi các lý thuyết về trường ra đời thì tư tưởng về mối quan hệ
ngữ nghĩa của các từ trong ngôn ngữ đã được phát biểu. Có thể đây là những
gợi ý bước đầu để hoàn thiện lý thuyết về trường.
M.M. Pokrovxki (1896) viết: “Từ và ý nghĩa của chúng không tồn tại
tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng của chúng ta và độc lập với
ý thức chúng ta thành những nhóm nhất định. Cơ sở để tập hợp những nhóm
như vậy là sự đồng nhất hay trái ngược trực tiếp giữa chúng về ý nghĩa.
Chúng ta đã biết một cách tiên nghiệm rằng các từ như vậy hoặc giống nhau
hoặc song hành với nhau trong sự biến đổi ý nghĩa và trong lịch sử của
chúng, chúng ảnh hưởng lẫn nhau. Chúng ta cũng biết rằng những từ này
được dùng trong những tổ hợp cú pháp giống nhau” [6; 873].
H. Osthoff (1900) cho: “Có những hệ thống nhất định ý nghĩa phụ
thuộc lẫn nhau và vị trí ngữ nghĩa của từng yếu tố chỉ có thể được hiểu rõ
nhờ vào cấu trúc của từng hệ thống đó” [6; 873].
Nhưng nguyên lý của F.de. Saussure mới là bước quyết định hình thành
nên lý thuyết về các trường: “giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu
tố ở xung quanh quy định” và “chính phải xuất phát từ cái toàn thể làm
thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng” (dẫn theo Đỗ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status