Đề tài Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ cảm xúc, thái độ trong sáng tác của Nguyễn Quang Sáng - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN ĐÌNH MỸ GIANG

TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA
CHỈ CẢM XÚC, THÁI ĐỘ TRONG SÁNG TÁC
CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

HÀ NỘI, NĂM 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN ĐÌNH MỸ GIANG

TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA
CHỈ CẢM XÚC, THÁI ĐỘ TRONG SÁNG TÁC
CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG

Chuyên ngành:

LÍ LUẬN NGÔN NGỮ

Mã số:

60.22.02.40


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................................. 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 5
5. Ý nghĩa của đề tài .............................................................................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................... 5
7. Bố cục................................................................................................................................ 5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ............................................................................................. 6
1.1 Một số quan niệm về từ ................................................................................................... 6
1.2 Nghĩa của từ ..................................................................................................................... 8
1.3 Sự kết hợp từ .................................................................................................................. 12
1.4 Nét nghĩa ........................................................................................................................ 16
1.5 Trường nghĩa ................................................................................................................. 18
1.5.1 Một số quan niệm về trường nghĩa ........................................................................ 18
1.5.2 Phân loại trường nghĩa ........................................................................................... 21
1.5.2.1 Trường nghĩa ngang ....................................................................................... 22
1.5.2.2 Trường nghĩa biểu vật .................................................................................... 22
1.5.2.3 Trường nghĩa biểu niệm ................................................................................. 24
1.5.2.4 Trường nghĩa liên tưởng ................................................................................. 25
1.6 Phân bổ các từ ngữ trong trường nghĩa và hoạt động của chúng ................................... 26
1.6.1 Phân bổ các từ ngữ trong trường nghĩa ................................................................. 26
1.6.2 Hoạt động của từ ngữ theo quan hệ trường nghĩa .................................................. 27
1.7 Đặc điểm của nhóm từ chỉ tình cảm, cảm xúc trong tiếng Việt..................................... 27
1.7.1 Khái niệm ............................................................................................................... 27
1.7.2 Đặc điểm ngữ pháp ................................................................................................. 29
1.7.3 Đặc điểm ngữ nghĩa................................................................................................ 31
1.8 Vài nét về tác giả Nguyễn Quang Sáng ......................................................................... 33
1.8.1 Cuộc đời ................................................................................................................. 33
1.8.2 Sự nghiệp sáng tác .................................................................................................. 34
Chƣơng 2: TRƢỜNG TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA THUỘC NHÓM TỪ ĐỊNH DANH
CHỈ CẢM XÚC TRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG ........... 36

3.1.2.1 Thán từ gần nguyên dạng ............................................................................... 95
3.1.2.2 Thán từ không nguyên dạng ........................................................................... 95
3.1.2.3 Từ gọi – đáp ................................................................................................... 96
3.1.3 Vị trí ....................................................................................................................... 96
3.2 Gía trị biểu đạt của trường từ vựng – ngữ nghĩa thuộc nhóm từ phi định danh trong
truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng ........................................................................................ 97
3.3 Đặc điểm phong cách ngôn ngữ Nguyễn Quang Sáng ................................................ 102
3.4 Tiểu kết ........................................................................................................................ 107
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 110


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mỗi một ngôn ngữ trên thế giới đều có một khối lượng từ vựng riêng.
Dựa vào hệ thống từ vựng đó, con người tham gia hoạt động giao tiếp và một
số hoạt động khác trong đời sống, trong đó có quá trình sáng tác văn chương.
Một trong những mối quan hệ được các nhà nghiên cứu quan tâm là quan hệ
về nghĩa giữa các đơn vị từ vựng. Việc xác lập và phân tích trường từ vựng
giữ một vai trò quan trọng trong quá trình giao tiếp cũng như một số loại hình
nghệ thuật khác. Đặc biệt, việc xác lập trường nghĩa ở các tác phẩm văn học
có ý nghĩa quan trọng đối với việc tìm hiểu đề tài, nội dung được nói đến
trong tác phẩm. Trường từ vựng – ngữ nghĩa là một vấn đề thu hút được sự
quan tâm của nhiều nhà Ngôn ngữ học trên thế giới và trong nước như
F.Saussare, M. Pokrovxkij, J. Trier, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Bùi
Minh Toán…Song, chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu trường từ
vựng ngữ nghĩa trong các sáng tác văn chương để làm rõ tư tưởng chủ đạo mà
tác giả muốn hướng đến người đọc.
Nguyễn Quang Sáng là tác giả Nam Bộ đặt nhiều tâm huyết vào các sáng
tác diễn tả cuộc sống của con người với những tâm trạng, cảm xúc đời

Các nhà nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết này để nghiên cứu tiếng Việt.
Đặc biệt, trường nghĩa liên tưởng được áp dụng nhiều khi nghiên cứu tác
phẩm văn học. Ví dụ một số công trình tiêu biểu như:
- Năm 1988, Nguyễn Đức Tồn có luận án Trường từ vựng bộ phận cơ
thể người.
- Năm 1974, Đỗ Hữu Châu có bài viết "Trường từ vựng ngữ nghĩa và
việc dùng từ trong tác phẩm hệ thống".

2


- Năm 2002, Nguyễn Đức Tồn xuất bản công trình Tìm hiểu đặc trưng
văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt. Ở chương thứ 8 đã
chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa của trường gọi thực vật.
- Năm 2007, GS. TS. Đỗ Thị Kim Liên có bài báo Trường ngữ nghĩa
biểu hiện quan niệm về nữ giới trong tục ngữ Việt (Đăng trên Tạp chí Ngôn
ngữ và đời sống, số 6 (140) - 2007).
- Năm 2007, Phan Thị Thúy Hằng bảo vệ luận văn Thạc sĩ Trường từ
vựng tên gọi các loại cây trong ca dao của người Việt.
- Năm 2008, Lê Thị Thanh Nga bảo vệ luận văn Thạc sĩ Đặc điểm lớp từ
ngữ thuộc trường nghĩa chỉ vật dụng - biểu tượng tình yêu trong ca dao tình
yêu lứa đôi.
- Năm 2009, TS. Hoàng Anh, Nguyễn Thị Yến có bài báo Trường nghĩa
ẩm thực trong các bài báo viết về bóng đá (Đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời
sống, số 7 (165) - 2009).
- Năm 2010, Trần Thị Mai có bài báo Trường từ vựng chỉ không gian
trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận (Đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời
sống, số 1+2 (171+172) - 2010)

Ở các công trình trên lý thuyết trường được vận dụng vào nghiên cứu với

- Sưu tầm, nghiên cứu, tổng hợp các công trình nghiên cứu, các đề tài,
bài viết của những nhà nghiên cứu đi trước để xây dựng phần cơ sở lý thuyết
cho đề tài của chúng tôi.
- Tổng hợp các sáng tác của Nguyễn Quang Sáng, thống kê các đơn vị từ
vựng thuộc trường nghĩa chỉ cảm xúc trong các sáng tác đó.
- Phân tích, miêu tả để thấy được tần số xuất hiện của các đơn vị từ
vựng, cảm xúc chủ đạo của tác phẩm.

4


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các từ ngữ chỉ cảm xúc, tình cảm, tâm trạng được sử dụng trong các
sáng tác của Nguyễn Quang Sáng.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trường từ vựng chỉ cảm xúc trong sáng tác của Nguyễn Quang Sáng, giá
trị của chúng về mặt ngữ nghĩa và biểu hiện.
5. Ý nghĩa của đề tài
5.1 Ý nghĩa lí luận
Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo phục vụ cho quá trình nghiên cứu của các nhà
Ngôn ngữ học và những người quan tâm đến vấn đề trường từ vựng – ngữ nghĩa.
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng phục vụ cho giáo viên trong
việc giảng dạy tác phẩm văn học. Đồng thời, học sinh cũng có thể dựa vào đề
tài để có được những kiến thức cơ bản trong việc xác lập trường từ vựng phục
vụ cho quá trình giao tiếp, làm văn và lĩnh hội tác phẩm văn học. Từ đó, hiểu
được cảm xúc chủ đạo, tư tưởng, tình cảm tác giả gửi gắm qua các sáng tác.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả đồng đại và

dàng trong việc biểu hiện nhận thức và tình cảm của con người. Với vai trò
quan trọng trên, từ được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm.
Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ, đơn vị trung tâm
của toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, là chất liệu cơ bản dùng để tạo ra các thông
điệp. Trong hệ thống ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng không tách biệt rời nhau
mà luôn có những mối quan hệ nhất định về hình thức và cả về ý nghĩa.
Trong lịch sử phát triển, nhiều nhà Ngôn ngữ học đã có những quan
niệm khác nhau về từ tiếng Việt. Họ đều khẳng định sự tồn tại hiển nhiên của
từ, đều thừa nhận tính chất trung tâm cơ bản của từ trong ngôn ngữ. Thế

6


nhưng để đi đến một định nghĩa thoả đáng về từ thì đa số các nhà nghiên cứu
vẫn cảm thấy khó khăn.
Có nhiều lý do dẫn đến việc khó có thể tìm một định nghĩa về từ có tính
chất phổ quát cho tất cả các ngôn ngữ. Trước hết là tính chất thoạt nhìn không
thể thầy ngay được của từ đã khiến cho việc nhận diện từ thật sự gặp rất nhiều
khó khăn. Việc nhận diện từ khó khăn kéo theo việc định nghĩa về từ cũng
không thể đi đến thống nhất. Lý do thứ hai, từ vựng là một hệ thống lớn và
phức tạp. Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới bắt buộc phải có tên gọi ngắn
gọn, cố định, mang tính quy ước chung của cộng đồng. Chúng đã trở thành
đơn vị tinh thần được nhận thức và được sử dụng trong giao tiếp và tư duy.
Bên cạnh đó, từ trong mỗi ngôn ngữ sẽ khác nhau về loại hình, nguồn gốc,
đặc trưng nên việc đưa ra một định nghĩa sẽ không dễ dàng.
Theo Nguyễn Thiện Giáp, hiện nay có trên 300 định nghĩa về từ nhưng
không có định nghĩa nào phản ánh bao quát hết được bản chất của từ trong
mỗi ngôn ngữ.
Từ điển do Asher chủ biên đã định nghĩa: “Từ là một trong hai đơn vị cơ
bản của ngữ pháp kết hợp với nhau để tạo nên các cụm từ, mệnh đề hay tiểu

nhỏ nhất để tạo câu.
1.2 Nghĩa của từ
Nghĩa của từ thuộc về bình diện tinh thần nên là một khái niệm khó có
được định nghĩa chính xác. Xung quanh vấn đề nghĩa của từ, có nhiều khái
niệm được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nước ngoài và trong nước đưa ra.
A.I.Smirniski quan niệm: Nghĩa của từ là sự phản ánh hiển nhiên của sự
vật, hiện tượng hay quan hệ trong ý thức (hay là sự cấu tạo tâm lý tương tự về
tính chất hình thành trên sự phản ánh những yếu tố riêng lẻ của thực tế) nằm
trong cấu trúc của từ với tư cách là mặt bên trong của từ.
Trong ngôn ngữ học hiện đại, quan điểm coi nghĩa của từ là chính cái sự
vật, hiện tượng… mà từ biểu thị đã bị phản bác. P.H. Nowell – Smith đã chỉ

8


ra: “Nói rằng từ có ý nghĩa không phải chính là nói từ biểu thị một cái gì đó,
còn nói ý nghĩa là gì thì không phải là nói nó biểu thị cái gì”. Còn L.
Wittgenstein khẳng định: “Gọi vật tương ứng với từ là ý nghĩa thì cách dùng
này của từ ý nghĩa mâu thuẫn với các quy tắc ngôn ngữ. Điều này có nghĩa là
lẫn lộn ý nghĩa của tên gọi với cái mang tên gọi; khi nói ngài NN chết thì
người ta có ý nói người mang tên này đã chết chứ không phải ý nghĩa của tên
gọi đã chết. Mặt khác, trong vốn từ của một ngôn ngữ có nhiều kiểu loại từ
khác nhau và nghĩa của chúng cũng khác nhau. Cách định nghĩa về nghĩa của
từ như nêu trên chỉ mới có thể có vẻ phù hợp với các thực từ (chủ yếu gồm
danh từ, động từ và tính từ…) có nghĩa cụ thể. Còn những từ loại khác như:
đại từ (này, kia, ấy, nọ, sao…), cảm từ (ôi, ối, á…), hư từ (nếu, thì, tuy,
nhưng, với…) thì nghĩa của chúng không lọt vào các định nghĩa như thế”.
Quan niệm nghĩa của từ như một quá trình nhận thức thực tại được nhiều
nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tán thành. Tuy nhiên, bên cạnh các yếu tố
liên quan đến nhận thức, các nhà khoa học còn bổ sung các yếu tố liên quan

Từ những phân tích trên, chúng tôi quan niệm nghĩa của từ không chỉ ở
phần nội dung ổn định, chung cho cộng đồng (gọi là nghĩa hạt nhân) mà còn
cả những phần nội dung xuất hiện trong suy nghĩ của người sử dụng hoặc
người tiếp nhận (phần nghĩa liên hội). Theo quan niệm này, tồn tại từ điển
giải thích nghĩa của từ chung cho cả cộng đồng giải thích phần nghĩa hạt nhân
của từ, nhưng cũng tồn tại những từ điển của cá nhân mỗi người sử dụng, liên
quan đến nghĩa liên hội của từ.
Việc nắm được và phân tích được ý nghĩa liên hội của từ giúp ta tìm ra
những quan niệm, nhận thức của cộng đồng, của thời đại và của chủ thể sáng
tác. Chẳng hạn hình ảnh trầu cau trong tư duy người Việt tượng trưng cho sự
hoà quyện, gắn bó và đi vào văn hoá Việt với ý nghĩa tình duyên. Chính vì
vậy, ta thấy trong lời ăn tiếng nói hàng ngày và trong văn học, hình ảnh trầu
cau xuất hiện với những ý nghĩa liên quan đến hoàn cảnh giao tiếp, văn hoá
cộng đồng và cả cảm quan nghệ thuật của cá nhân sáng tác:

10


Miếng trầu là đầu câu chuyện
Trầu cau trở thành nét văn hoá giao tiếp, trở thành một nghi thức không
thể thiếu trong sinh hoạt của người Việt:
Có trầu thì giở giầu ra
Trước là đãi bạn, sau ta với mình
Trầu cau thể hiện khát vọng, mong muốn về tình yêu đôi lứa và kết tóc
se duyên:
Anh về cuốc đất trồng cau
Cho em vun ké dây trầu một bên
Chừng nào trầu nọ bén lên
Cau kia sai trái lập nên cửa nhà
Trầu cau trở thành đối tượng để nhân vật nói bóng gió về tình cảm của mình:

thông báo”. [19, tr. 192]
Như chúng ta đã biết tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, khác
với các ngôn ngữ Ấn – Âu. Do đó, đơn vị cơ sở của ngữ pháp là tiếng. Từ
trong tiếng Việt không thể đồng thời xuất hiện mà phải được sắp xếp theo trật
tự tuyến tính, tức có từ đi trước, có từ đi sau. Đối với ngôn ngữ viết, các từ sẽ
được tách biệt bằng các khoảng trống không gian. Đối với ngôn ngữ nói, từ sẽ
được tách biệt bởi thời gian. Ngoài ra, hư từ và ngữ điệu cũng là các phương
tiện để biểu hiện sự kết hợp của từ.
Trong từ có hai loại ý nghĩa lớn là ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp.
Ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa của riêng từng từ, ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa
mang tính đồng loạt, chung cho nhiều từ. Ý nghĩa ngữ pháp liên quan đến khả
năng kết hợp của từ với những từ khác, cũng như khả năng đảm nhiệm các
chức năng ngữ pháp trong câu.
Tuy có sự phân biệt ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp của từ nhưng
chúng có mối quan hệ rất chặt chẽ. Chỉ có thể biết được khả năng hoạt động
ngữ pháp của từ khi biết được ý nghĩa từ vựng của từ và ngược lại, nhờ vào

12


hoạt động ngữ pháp của từ trong câu cụ thể, ta có thể xác định được đặc điểm
ý nghĩa ngữ pháp của từ. [8, tr.198]
Khi kết hợp các từ với nhau để tạo nên cụm từ và câu thì giữa chúng
hình thành các mối quan hệ ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp. Vì vậy, khi kết hợp
các từ lại với nhau ta cần thiết lập được quan hệ ý nghĩa hợp lý và quan hệ
ngữ pháp chuẩn của tiếng Việt. [8 , tr.192]
Muốn kết hợp được với nhau, các từ cần phải có sự tương hợp về ý
nghĩa. Sự tương hợp này có thể ở mức độ rất chặt chẽ, lúc đó gần như mỗi từ
chỉ có khả năng kết hợp với một từ duy nhất trong vốn từ vựng chung của
ngôn ngữ. Nếu kết hợp với các từ khác thì giữa chúng không thể hình thành

vật, các đối tượng hay hoạt động, trạng thái, tính chất mà từ gọi tên. Cho nên
khi các từ kết hợp với nhau không phản ánh đúng mối quan hệ thì sự kết hợp
đó là sai và không thể chấp nhận.
Ví dụ:
Trung Quốc hiên ngang đặt giàn khoan Hải Dương 981 lên vùng lãnh
thổ đặc quyền kinh tế của Việt Nam
Sở dĩ sự kết hợp trên là không thể chấp nhận vì theo Từ điển tiếng Việt
do Hoàng Phê chủ biên thì hiên ngang có nghĩa là: đường hoàng, tự tin, không
chịu cúi đầu khuất phục trước những sự đe doạ. Mặt khác, với nội dung của
câu, việc dùng từ hiên ngang cho Trung Quốc là hoàn toàn không hợp lý.
Trong trường hợp này, cần thay từ “hiên ngang” bằng từ “ngang nhiên” thì
mới phản ánh đúng, khách quan vấn đề.
Với sự phân tích trên, có thể khẳng định rằng sự kết hợp từ có quan hệ
chặt chẽ với sự lựa chọn từ: nếu lựa chọn từ đúng thì sự kết hợp từ được chấp
nhận, nếu chọn không đúng thì kết hợp sai. Tuy nhiên từ trong ngôn ngữ có
thể có nhiều nghĩa, và nghĩa của từ còn có sự chuyển hoá ngay trong quá trình
giao tiếp. Như chúng ta đã khẳng định nghĩa của từ luôn được xét ở hai trạng

14


thái là từ ở trạng thái tĩnh (bình diện hệ thống) và từ ở trạng thái động (hoạt
động). Do đó, có nhiều trường hợp nếu xét theo nghĩa gốc và tách rời khỏi
hoàn cảnh giao tiếp thì sự kết hợp từ đó là sai. Nhưng nếu xét theo nghĩa
chuyển hoá hay đặt trong hoàn cảnh diễn ra giao tiếp thì sự kết hợp đó là có
thể chấp nhận được.
Ví dụ:
Anh ấy tốn bao nhiêu tiền để chạy việc mà vẫn không được
Cậu cưa cô ấy lâu thế mà cô ấy không đổ à?
Nếu chỉ xét nghĩa của từ chạy và cưa ở trạng thái tĩnh thì ta có các định

dùng”. Tuy nhiên, sự vật tồn tại với nhiều đặc điểm khác nhau. Vậy, đặc điểm
nào là nét nghĩa, đặc điểm nào không phải là nét nghĩa? Chẳng hạn tính chất
chuyển hoá thành hơi của nước ở một nhiệt độ nhất định có phải là nét nghĩa
của từ nước hay không? Định nghĩa về nét nghĩa của V.G. Gak khó có thể trả
lời được những câu hỏi như vậy.
Khi bàn về nét nghĩa, Hoàng Phê cho rằng nét nghĩa là những yếu tố ngữ
nghĩa chung cho nghĩa của các từ thuộc cùng một nhóm từ hoặc riêng cho
nghĩa của một từ, đối lập với nghĩa của những từ khác trong cùng một nhóm.
Nét nghĩa được diễn đạt bằng từ (hoặc tổ hợp từ). Bản thân mỗi nét nghĩa lại
cũng có thể coi như là nghĩa và cũng có thể phân tích thành những nét nghĩa.
Sự phân tích có thể tiếp tục cho đến khi đạt đến những yếu tố ngữ nghĩa cơ
bản, không còn có thể phân tích được nữa (gọi là những nghĩa vị). Tuy nhiên
tác giả cũng lưu ý rằng: Đó là nói trên lý thuyết chứ trong thực tế, sự phân
tích này vô cùng khó khăn, phức tạp.
Đỗ Hữu Châu trong các công trình nghiên cứu về từ vựng – ngữ nghĩa
tiếng Việt cho rằng: “Chỉ những thuộc tính nào tạo nên sự đồng nhất và đối lập
về mặt ngữ nghĩa giữa các từ thì thuộc tính đó mới trở thành nét nghĩa trong cấu
trúc nghĩa biểu niệm. Do đó, để phát hiện ra nét nghĩa, cần phải tìm ra những nét
nghĩa chung, đồng nhất trong nhiều từ rồi lại đối lập những từ có nét nghĩa

16


chung đó với nhau để tìm ra những nét nghĩa cụ thể hơn, cứ như vậy cho đến khi
chúng ta gặp những nét nghĩa chỉ có riêng trong một từ”. [2, tr. 117]
Quan niệm của Đỗ Hữu Châu rõ hơn so với quan niệm của V. G. Gak.
Nhờ đó, chúng ta có thể dễ dàng tìm được những nét nghĩa của từ.
Theo Đỗ Việt Hùng, ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp. Một trong
những đặc điểm thể hiện sự phức tạp của ngôn ngữ là tính phân đoạn hai bậc.
Kết quả phân đoạn ở bậc một cho các đơn vị có tính hai mặt (vừa có mặt hình

Xe đạp là xe người đi, có hai hoặc ba bánh, tay lái nối với bánh trước,
dùng sức người đạp cho quay bánh (hoặc hai bánh) sau.
Ngoài đặc trưng bản chất, nét nghĩa còn có đặc trưng vị trí. Mỗi nét
nghĩa phải chiếm một vị trí xác định trong cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ.
Trật tự của các nét nghĩa thay đổi có thể làm thay đổi nghĩa của từ. Vị trí của
nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu niệm quy định giá trị, tính chất của nét
nghĩa. Nét nghĩa càng cao thì giá trị hệ thống càng lớn, nét nghĩa càng thấp
thì giá trị chức năng càng cao.
1.5 Trƣờng nghĩa
1.5.1 Một số quan niệm về trường nghĩa
Theo “Nhập môn ngôn ngữ học”, từ vựng là tập hợp các từ và đơn vị
tương đương với từ của một ngôn ngữ. Song, từ vựng không phải là một tập
hợp ngẫu nhiên các đơn vị này. Từ vựng là một hệ thống. Do đó, giữa các đơn
vị của hệ thống từ vựng tồn tại những mối quan hệ nhất định. Một trong
những mối quan hệ cơ bản giữa các đơn vị từ vựng là quan hệ về nghĩa. Các
đơn vị từ vựng đồng nhất với nhau về nghĩa tập hợp thành trường nghĩa.
Hoạt động giao tiếp của con người gồm hai quá trình cơ bản là quá trình
tạo lập (sản sinh) và quá trình tiếp nhận (lĩnh hội) diễn ngôn. Để tạp lập diễn
ngôn, người giao tiếp phải biết huy động vốn từ ngữ có liên quan đến hiện
thực được nói tới, trên cơ sở đó, lựa chọn các từ ngữ phản ánh chính xác nhất

18


nội dung cần diễn đạt. Qúa trình huy động từ ngữ để tạo lập diễn ngôn chính
là quá trình xác lập trường nghĩa.
Trong cuốn “Ngữ nghĩa học từ bình diện hệ thống đến hoạt động”, Đỗ
Việt Hùng đã trình bày rõ các quan niệm khác nhau của các nhà Ngôn ngữ
học nước ngoài và trong nước.
Ju. X. Xtepanov là một trong những tác giả người Nga quan tâm đến mối

xung quanh một khái niệm trung tâm. Mỗi trường khái niệm được các từ phủ
lên trên, mỗi từ tương ứng với một khái niệm. Ông cho rằng: “Trong ngôn
ngữ, mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ
khác trong trường quyết định, rằng trường là những hiện thực ngôn ngữ nằm
giữa từ (riêng lẻ) với toàn bộ từ vựng, trường quan hệ với toàn bộ từ vựng
cũng như quan hệ với trường của mình”. Mặc dù còn có những điểm cần
tranh luận như vấn đề phân biệt giữa ý nghĩa của từ với khái niệm nhưng
những đề xuất của J. Trier thực sự là nền móng quan trọng cho những nghiên
cứu về trường từ vựng – ngữ nghĩa sau này.
L. Weisgerber là một tác giả quan tâm nhiều đến mối quan hệ trường
nghĩa giữa các đơn vị từ vựng. Theo ông, cần phải tính đến các góc nhìn khác
nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hoá một lĩnh vực
nào đó trong cuộc sống.
Các quan niệm của J. Trier và L. Weisgerber đều có những hạn chế nhất
định. Khắc phục những hạn chế dó, W. Porzig đã phân chia trường thành
những nguyên tắc khác. Từ năm 1934, W. Porzig đã đề nghị nguyên tắc liên
tưởng. Theo quan niệm của ông, một từ nào đó xuất hiên thể nào cũng gợi đến
sự tồn tại của những từ khác. Chẳng hạn từ “ăn uống” sẽ gợi đến sự tồn tại
của từ “miệng”, nhưng quan hệ ngược không xảy ra vì miệng không nhất thiết
là phải ăn – uống mà còn thực hiện rất nhiều hoạt động khác như nói,
cười…Dựa trên cơ sở này, từ vựng được chia ra thành các trường nghĩa cơ

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status