TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
HÀ THỊ LỆ
TRƢỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA VÀ
DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH
LỚP 4 THEO TRƢỜNG NGHĨA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI - 2017
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
HÀ THỊ LỆ
TRƢỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA VÀ
DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH
LỚP 4 THEO TRƢỜNG NGHĨA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. PHẠM THỊ HÒA
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
7. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 4
NỘI DUNG ....................................................................................................... 5
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN .......................... 5
1.1 Cơ sở lý thuyết về trƣờng nghĩa .................................................................. 5
1.1.1 Lý thuyết về trƣờng nghĩa ........................................................................ 5
1.1.2 Khái niệm trƣờng nghĩa ........................................................................... 6
1.1.3 Phân loại trƣờng nghĩa ............................................................................. 6
1.1.3.1 Trƣờng nghĩa biểu vật ........................................................................... 8
1.1.3.2 Trƣờng nghĩa biểu niệm ........................................................................ 9
1.1.3.3 Trƣờng nghĩa tuyến tính (trƣờng nghĩa ngang) .................................. 10
1.1.3.4 Trƣờng nghĩa liên tƣởng ..................................................................... 11
1.1.4 Đặc điểm của học sinh lớp 4..................................................................12
1.1.4.1 Đặc điểm sinh lý..................................................................................12
1.1.4.2 Đặc điểm tâm lý..................................................................................13
1.2 Cơ sở thực tiễn .......................................................................................... 14
1.2.1 Hoạt động dạy Tiếng Việt theo lí thuyết trƣờng nghĩa cho học sinh lớp 4
của giáo viên trƣờng tiểu học Thị Trấn A, huyện Đông Anh, Hà Nội ........... 14
1.3 Kết luận chƣơng 1 ..................................................................................... 15
CHƢƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC TẬP ĐỌC ............................... 16
VÀ TẬP LÀM VĂN THEO TRƢỜNG NGHĨA ........................................... 16
2.1 Các biện pháp dạy học Tiếng Việt theo trƣờng nghĩa trong phân môn Tập
đọc ................................................................................................................... 16
2.1.1 Hƣớng dẫn học sinh phân loại từ trong từng văn bản Tập đọc theo
trƣờng nghĩa .................................................................................................... 16
2.1.2 Hƣớng dẫn học sinh tìm hiểu bài theo trƣờng nghĩa ............................. 36
2.2 Các biện pháp dạy học Tiếng Việt theo trƣờng nghĩa trong phân môn Tập
làm văn ............................................................................................................ 38
2.2.1 Hƣớng dẫn học sinh huy động vốn từ theo trƣờng nghĩa phù hợp với các
nghĩa và các mối quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị từ vựng cho học sinh là rất
quan trọng, nó giúp các em hiểu rõ nghĩa của từ. Từ đó việc sử dụng từ của
học sinh trong giao tiếp cũng nhƣ trong văn viết đƣợc tốt hơn.
1
Hiện nay, việc hiểu nghĩa và các mối quan hệ về nghĩa của từ của học
sinh tiểu học còn rất nhiều hạn chế. Nó đƣợc thể hiện rõ trong việc sử dụng từ
trong các bài tập làm văn của các em và trong các tình huống giao tiếp hằng
ngày. Do không hiểu hết nghĩa của từ nên các câu văn, lời nói không thể hiện
đúng ý mà các em muốn trình bày làm cho ngƣời đọc, ngƣời nghe hiểu theo
một nghĩa khác. Các bài tập làm văn của các em thƣờng đi theo lối mòn từ các
bài văn mẫu sơ lƣợc. Chính vì vậy việc hiểu nghĩa và các mối quan hệ về
nghĩa của từ có thể giúp học sinh sử dụng từ ngữ trong giao tiếp tốt và lời văn
cũng trở lên hay và trau chuốt hơn. Từ đó có thể giúp học sinh tự tin hơn
trong giao tiếp, lời văn sinh động, sáng tạo và hấp dẫn hơn. Đặc biệt đối với
học sinh lớp 4 với khả năng tƣ duy, tƣởng tƣợng, phân tích và ghi nhớ của các
em đã phát triển tốt thì việc cung cấp từ và nghĩa của từ theo trƣờng nghĩa sẽ
mang lại hiểu quả cao. Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài: “Trường từ
vựng- ngữ nghĩa và dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 theo trường
nghĩa”.
2. Lịch sử vấn đề
Lý thuyết về trƣờng từ vựng - ngữ nghĩa đƣợc đƣa ra bởi hai nhà ngôn
ngữ ngƣời Đức J. Trier và L. Weisgerber.
Trƣớc đó đã có những lý thuyết khẳng định về quan hệ giữa các từ
trong ngôn ngữ của Việt Nam. Trong tạp chí Ngôn ngữ số 3 năm 1974, Đỗ
Hữu Châu có bài viết: “Trường từ vựng- ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong
tác phẩm nghệ thuật”. Trong các công trình Từ vựng - ngữ nghĩa của tiếng
Việt (NXB GD, 1999), Từ vựng học tiếng Việt (NXB ĐHSP, H, 2004) là
3. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 theo
trƣờng nghĩa.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
3
Hoạt động dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 theo trƣờng nghĩa.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Khảo sát trên đối tƣợng học sinh lớp 4 và chƣơng trình Tiếng Việt lớp 4.
- Nghiên cứu và khảo sát ở hai phân môn Tập đọc và Tập làm văn của
Tiếng Việt lớp 4.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu các kiến thức lí thuyết về trƣờng nghĩa có liên quan đến đề tài.
- Khảo sát thực tế hoạt động dạy học Tiếng Việt theo trƣờng nghĩa ở
trƣờng tiểu học.
- Đề xuất các biện pháp dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 theo
trƣờng nghĩa.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đề xuất đƣợc các biện pháp dạy học Tập đọc và Tập làm văn theo
trƣờng nghĩa phù hợp với logic dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 và khai
thác đƣợc ƣu điểm của việc dạy học theo trƣờng nghĩa, sẽ góp phần nâng cao
chất lƣợng dạy học môn Tập đọc và Tập làm văn nói riêng và dạy học Tiếng
Việt nói chung.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận.
- Phƣơng pháp quan sát.
- Phƣơng pháp khảo sát, thống kê, phân loại.
thuyết trƣờng nghĩa còn đƣợc vận dụng vào nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ.
Trong những năm gần đây, lĩnh vực này đã có nhiều công trình điều tra các hệ
thống từ vựng trong vốn từ của các ngôn ngữ khác nhau, liên quan đến các khu
vực nhƣ: hàng họ, màu sắc, trọng lƣợng, cấp bậc trong quân đội,...
5
1.1.2 Khái niệm trƣờng nghĩa
Hệ thống là tính chất hàn lâm về ngữ nghĩa của từ vựng đã đƣợc nhiều
nhà nghiên cứu khẳng định. Tuy nhiên do quá lớn và phức tạp nên những liên
hệ ngữ nghĩa trong từ vựng không thể hiện ra một cách trực tiếp giữa các từ
đƣợc lựa chọn ngẫu nhiên. Chẳng hạn với từ “thiên thể” và “quần áo” ngƣời
ta khó có thể tìm thấy mối liên hệ gì về nghĩa.
Do thế giới phản ánh vào ngôn ngữ mang tính tổng thể, liên tục nên để
hiểu đƣợc nó, chúng ta buộc phải “chia cắt” tổng thể thành những bộ phận
nhỏ hơn. Chia hệ thống từ vựng thành những bộ phận nhỏ hơn dựa trên ngữ
nghĩa của nó, ta sẽ thu đƣợc những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ
vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ ngữ nghĩa riêng lẻ thể hiện qua quan
hệ trong tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng.
Quan hệ về trƣờng nghĩa mà chúng tôi trình bày trong luận văn này chủ
yếu dựa trên định nghĩa: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa đƣợc gọi là một trƣờng
nghĩa. Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [3, Tr 172]
và định nghĩa: “Trƣờng nghĩa là tổ chức các từ và các biến thể sử dụng từ có
quan hệ với nhau làm thành một hệ thống. Hệ thống này cho thấy mối liên
kiết của chúng dựa theo một cái gì đó” [1, Tr 9]. Dựa vào những định nghĩa
trên ta có thể hiểu, trƣờng nghĩa là một tập hợp, một nhóm hay một tổ chức,...
các từ có mối liên hệ với nhau về nghĩa. Chúng làm thành một tiểu hệ thống
trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ. Việc xác lập trƣờng nghĩa do đó
phải dựa trên những tiêu chí ngôn ngữ nhất định.
Thứ sáu: Với trƣờng nghĩa tuyến tính tiêu chí xác lập là dựa hẳn vào
ngữ nghĩa từ trung tâm. Từ này phải đáp ứng đƣợc yêu cầu về ngữ nghĩa- ngữ
pháp của các từ trong trƣờng [4, Tr 250-260].
Thứ bảy: Với trƣờng nghĩa liên tƣởng, cơ sở để xác lập trƣờng là các
nghĩa ngữ dụng của từ trung tâm. Đó là những nghĩa mới đƣợc tạo ra trong
quá trình hành chức, chƣa đi vào hệ thống. từ trung tâm khi cùng xuất hiện
7
với loạt các từ nào đấy trong nhiều ngữ cảnh trùng lặp sẽ có hiện tƣởng đẳng
cấu ngữ nghĩa. Khí đó chúng ta phải tạo một trƣờng nghĩa liên tƣởng mà ở đó,
các từ có quan hệ với nhau nhờ mối liên tƣởng ngữ nghĩa nào đó.
Theo các tiêu chí trên hệ thống từ vựng ngữ nghĩa của ngôn ngữ có thể
đƣợc phân lập ra thành các loại trƣờng nghĩa:
1.1.3.1 Trƣờng nghĩa biểu vật
Trƣờng nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa
biểu vật.
Để có những căn cứ dựa vào đó mà đƣa các nghĩa biểu vật của các từ
về trƣờng nghĩa biểu vật thích hợp, chúng ta chọn một danh từ làm gốc. Các
danh từ phải có tính khái quát cao, gần nhƣ là tên gọi của các phạm trù biểu
vật nhƣ: người, động vật, thực vật, cây cối, chất liệu,... Ví dụ với từ “mắt”
chúng ta có các trƣờng nghĩa biểu vật nhƣ sau:
1) Bộ phận của mắt: lông mày, lông mi, mí, lòng trắng, lòng đen, con ngƣơi,...
2) Đặc điểm ngoại hình: bồ câu, ốc nhồi, lợn luộc, trắng dã, tròn, lƣơn, ti
hí, dao cau,...
3) Cảm giác về mắt: chói, quáng, hoa, cộm, xót,...
4) Hoạt động của mắt: nhìn, trông, thấy, ngó, liếc, dòm, đong đƣa, nhìn
trộm, cụp mắt, trợn trừng,...
5) Bệnh của mắt: quáng gà, mắt hột, cận thị, tinh anh, mù, lòa, toét, loại,...
(tức là nét nghĩa) vì thế muốn lập trƣờng nghĩa biểu niệm phải lập cấu trúc
biểu niệm.
Cũng nhƣ trƣờng biểu vật, các trƣờng biểu niệm lớn có thể đƣợc phân
thành các trƣờng nhỏ hơn với những miền, những mật độ khác nhau. Các
trƣờng biểu niệm cũng “giao thoa”, “thẩm thấu” với nhau, cũng có lõi trung
tâm là các từ điểm hình và các lớp ngoại vi là những từ kém điểm hình.
9
Ví dụ về trƣờng nghĩa biểu niệm (vật thể nhân tạo)... (thay thế hoặc
tăng cƣờng thao tác lao động) (cầm tay):
1) Dụng cụ để chia, cắt: dao, cƣa, búa, rìu, liềm, hái,...
2) Dụng cụ để đánh bắt: lƣới, đó, đơm, câu, vó,...
3) Dụng cụ để lấy, múc: thìa, đũa, muôi, gáo, gàu,...
4) Dụng cụ mài, giũa: giũa, bào, đá mài, giấy ráp,...
5) Dung cụ để xới đất: cày, cuốc, thuổng, xẻng, cào,...
Sự phân lập từ vựng thành trƣờng nghĩa biểu vật và trƣờng nghĩa biểu
niệm, nhƣ đã nói dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ. Nó
phản ánh hai cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau. Tuy nhiên, hai loại
trƣờng dọc này có liên hệ với nhau: “nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong cấu
trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập hợp thì chúng ta có các trƣờng biểu vật.
Nhƣng khi cần phân lập một trƣờng biểu vật thành các trƣờng nhỏ thì lại phải
dựa vào các nét nghĩa khác trong cấu trúc biểu niệm” [2, Tr 187]. Trái lại, khi
phân lập các trƣờng nghĩa biểu niệm, chúng ta đƣa vào cấu trúc biểu niệm, song
khi phân nhỏ chúng ra, đến một lúc nào đó phải sử dụng đến nét nghĩa biểu vật.
Ví dụ: Để phân nhỏ trƣờng (hoạt động) (tác động đến X)... (làm X dời
chỗ), chúng ta phải dùng đến các nét nghĩa biểu vật nhƣ (ngƣời) (động vật),
(phƣơng tiện vận tải)... để phân biệt các từ vác, khiêng, đẩy... với tha, quắp...
với tải, chở...với cuốn,...
sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những
đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ.
1.1.3.4 Trƣờng nghĩa liên tƣởng
Sự phận lập các trƣờng nghĩa biểu vật và trƣờng nghĩa biểu niệm nhƣ
trên là cần thiết để tìm hiểu những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa- ngữ pháp,
phát hiện những đặc điểm nội tại và đặc điểm hoạt động của từ. Nhƣng đó
11
mới chỉ là sự phân tích “cấu trúc bề mặt” của ngôn ngữ, trong ngôn ngữ còn
có “cấu trúc bề sâu”. Đó là lý do xác lập trƣờng nghĩa liên tƣởng.
Nhà ngôn ngữ học Pháp Ch. Bally là tác giả đầu tiên của khái niệm
trƣờng liên tƣởng. Theo ông, mỗi từ có thể là trung tâm của một từ liên tƣởng
nhƣ từ “gió” có thể gợi ra liên tƣởng: (1) lạnh, mát, rét, ..(2) mƣa, nắng,
bão,...(3) sự nhẹ nhàng, lả lƣớt,...
Nhƣ vậy, có thể nhận thấy rằng các từ trong một trƣờng liên tƣởng là sự
thực hóa, sự cố định bằng từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm.
Các từ trong một trƣờng liên tƣởng trƣớc hết là những từ cùng nằm
trong trƣờng biểu vật, trƣờng biểu niệm và trƣờng tuyến tính, tức là những từ
có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm. Song,
trong trƣờng liên tƣởng còn có nhiều từ khác đƣợc liên tƣởng tới do xuất hiện
đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tƣơng đối đồng
nhất, lặp đi lặp lại. Điều này khiến cho các trƣờng liên tƣởng có tính dân tộc,
tính thời đại và cá nhân.
Tính không ổn định của trƣờng nghĩa liên tƣởng chính là hệ quả tất yếu
của những tính chất trên. Xuất phát từ tính không ổn định nên trƣờng nghĩa
liên tƣởng ít có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về nghĩa của các từ
và từ vựng nhƣng nó có hiệu lực lớn trong giải thích việc dùng từ, nhất là các
từ có trong các văn bản văn học. Có nhiều trƣờng hợp phải dùng điến trƣờng
mình.
Nhƣ vậy tâm lý chung của học sinh ở độ tuổi này là luôn muốn khám
phá, tìm hiểu những điều mới mẻ. Đồng thời ở độ tuổi này khả năng tƣ duy,
tƣởng tƣợng và ghi nhớ của các em đã phát triển tốt. Chính vì vậy việc dạy
học Tiếng Việt theo trƣờng nghĩa cho các em hoàn toàn có thể thực hiện tốt
và đạt hiệu quả cao.
13
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Hoạt động dạy Tiếng Việt theo lí thuyết trƣờng nghĩa cho học sinh
lớp 4 của giáo viên trƣờng tiểu học Thị Trấn A, huyện Đông Anh, Hà Nội
Trong thời gian đi thực tập tại trƣờng tiểu học, chúng tôi đã tiến hành
quan sát và khảo sát về thực trạng dạy học môn Tiếng Việt theo trƣờng nghĩa
cho học sinh lớp 4 hiện nay, cụ thể là trong hai phân môn Tập đọc và phân
môn Tập làm văn. Do điều kiện không cho phép, chúng tôi chƣa điều tra rộng
rãi đƣợc tất cả các trƣờng nhƣng có thể đánh giá sơ lƣợc về thực trạng dạy
học môn Tiếng Việt theo trƣờng nghĩa.
Bằng cách thức dự giờ lên lớp chúng tôi đã có những kết luận bƣớc đầu
về dạy học môn Tiếng Việt theo trƣờng nghĩa cho học sinh lớp 4 nhƣ sau:
Ƣu điểm: Lãnh đạo trƣờng đã có sự chỉ đạo chuyên môn rất sát sao, tổ
chức chuyên đề đổi mới phƣơng pháp dạy học giúp giáo viên thuận lợi trong
quá trình giảng dạy, bồi dƣỡng nâng cao năng lực chuyên môn. Đồng thời tất
cả giáo viên trong trƣờng đều tích cực học tập, bồi dƣỡng chuyên môn, đầu tƣ
thời gian cho việc soạn giảng nhằn nâng cao chất lƣợng giờ dạy, để giúp các
em học sinh hiểu bài, biết vận dụng lý thuyết vào làm các bài tập và trong
hoạt động giao tiếp.
Nhƣợc điểm: Do thời lƣợng một tiết học Tiếng Việt ở tiểu học còn hạn
chế nên giáo viên chƣa khắc sâu đƣợc nhiều kiến thức về trƣờng nghĩa cho học
CHƢƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC TẬP ĐỌC
VÀ TẬP LÀM VĂN THEO TRƢỜNG NGHĨA
Trong chƣơng này, chúng tôi đƣa ra các biện pháp để hƣớng dẫn học
sinh phân loại từ trong các văn bản tập đọc để từ đó có cơ sở tìm hiểu bài theo
những dấu hiệu chung, đồng nhất về ngữ nghĩa giữa các từ trong cùng trƣờng
nghĩa, đồng thời chúng tôi cũng hƣớng dẫn học sinh tập hợp từ theo trƣờng
nghĩa dựa vào các bài tập làm văn trong chƣơng trình lớp 4. Từ các trƣờng
nghĩa huy động đƣợc các em sẽ phân hóa các từ và cụ thể vào từng bài văn
của mỗi học sinh.
2.1 Các biện pháp dạy học Tiếng Việt theo trƣờng nghĩa trong phân môn
Tập đọc
2.1.1 Hƣớng dẫn học sinh phân loại từ trong từng văn bản Tập đọc theo
trƣờng nghĩa
Phân môn Tập đọc không chỉ nhằm giúp các em luyện đọc đúng, lƣu
loát, đọc hay và diễn cảm mà nó còn giúp các em hiểu đƣợc nội dung của từng
bài tập đọc và thông qua đó các em có thể rút ra đƣợc những bài học bổ ích.
Ngoài ra nó còn bổ sung thêm vốn từ cho mình qua phần tìm hiểu bài và giải
nghĩa từ. Để học sinh luyện đọc tốt và hiểu đƣợc nội dung của bài tập đọc các
em cần phải có vốn từ vô cùng sâu rộng mới có thể hiểu và đọc hay đƣợc văn
bản.
Một trong những cách giúp các em hiểu và ghi nhớ nghĩa của các từ là
ta phân các từ vào từng trƣờng nghĩa khác nhau. Mỗi trƣờng là tập hợp các từ
đồng nhất với nhau về một ý nghĩa nào đó. Tức là tập hợp các từ nằm trong
một hệ thống nào đó không phải do tính chất ngẫu nhiên mà có. Cái để tập
hợp chúng lại với nhau, xuất hiện nối tiếp nhau chính là những mối quan hệ
16
về nghĩa. Các quan hệ này đƣợc tạo ra xuất phát từ sự đồng nhất, từ những cái
Tên trƣờng nghĩa
Ví dụ
1. Dế Mèn - Trƣờng nghĩa - Chị, em, anh, mụ, cô
ngƣời nhƣ bênh vực kẻ chỉ
thể thƣơng yếu.
ngƣời
chung.
17
nói gái, lƣng, đầu, chân, cô
gái.
thân
(tuần1
tuần2)
và - Trƣờng nghĩa - Bé nhỏ, gầy yếu, ốm
chỉ
tính
thái
hoạt
thái
trạng
động, thăm, mang, tập đi,
con ngâm thơ, kể chuyện,
ngƣời.
múa ca, ăn, ngủ, đọc
sách, cấy cày.
- Trƣờng nghĩa - Mẹ, anh, con, cô,
chỉ
ngƣời
nói bác, y sĩ.
chung.
- Trƣờng nghĩa - Cuốc, cày.
chỉ vật dụng làm
ruộng.
3. Truyện cổ - Trƣờng nghĩa - Nhân hậu, hiền, công
nƣớc mình
chỉ tính chất con bằng, thông minh, độ
( tuần 2)
chỉ hoạt động của vƣợt qua, nhận, thấy,
con ngƣời.
nhìn, nghe.
5. Ngƣời ăn - Trƣờng nghĩa - Già, ông lão, cháu.
xin
chỉ con ngƣời nói
(tuần 3)
chung.
-Trƣờng nghĩa chỉ - Đôi môi, mắt, bàn
bộ
phận
con tay, đôi mắt, đôi má.
ngƣời.
- Trƣờng nghĩa - Đi, đứng, đọc, gặm,
chỉ hoạt động của tìm, đợi, nắm, cho,
con ngƣời.
nhìn, nói.
- Trƣờng nghĩa - Quần áo, đồng hồ,
chỉ đồ dùng sinh khăn tay.
hoạt.