Phương vị từ tiếng Hán hiện đại và những biểu hiện từ vựng, ngữ pháp tương đương trong tiếng Việt - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TRẦN MINH TÂN
HỆ THỐNG SỐ ĐIỆN TỬ VÀ HỆ THỐNG DNS
TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC ỨNG DỤNG
HỘI TỤ MẠNG VIỄN THÔNG VÀ INTERNET

Ngành: Công nghệ thông tin
Mã số: 1.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS Vũ Duy Lợi

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DNS VÀ HỆ THỐNG SỐ ĐIỆN TỬ . 10
1.1. Hệ thống DNS và hệ thống số điện tử 10
1.1.1. Giới thiệu về hệ thống DNS 10
1.1.2. Hệ thống số điện tử (ENUM) 15
1.2. Các ứng dụng sử dụng ENUM 16
1.2.1. Hệ thống PSTN và VoIP 16
1.2.2. Các dịch vụ tích hợp trong Internet 19
1.2.3. Tích hợp các hệ thống viễn thông và Internet 20
1.3. Phát triển ENUM ở một số nƣớc trên thế giới 23
1.3.1. Tại Châu Âu 23
1.3.2. Tại Châu Mỹ 24
1.3.3. Tại các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 25
CHƢƠNG 2: THIẾT KẾ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍCH HỢP DNS VÀ ENUM
TRONG CÁC ỨNG DỤNG HỘI TỤ MẠNG VIỄN THÔNG VÀ INTERNET 27
2.1. Nguyên tắc thiết kế 27
2.1.1. Chuẩn đánh số điện thoại E.164 27
2.1.2. Tích hợp DNS và ENUM 29
2.2. Nguyên tắc hoạt động của hệ thống tích hợp DNS và ENUM 30
2.2.1. Định dạng truy vấn ENUM 30
2.2.2. Nguyên tắc xử lý các yêu cầu chuyển đổi số ENUM 32
2.2.3. Hệ thống DDDS 33
2.2.4. Cập nhật các bản ghi DNS cho ENUM 42
2.3. Nguyên tắc đăng ký, cấp phát và quản lý ENUM 45
2.4. Đánh giá 50
CHƢƠNG 3: THIẾT KẾ THỰC HIỆN MÔ HÌNH THỬ NGHIỆM ỨNG DỤNG
HỆ THỐNG TÍCH HỢP ENUM VÀ DNS 52
3.1. Lựa chọn giải pháp xây dựng hệ thống thử nghiệm 52
3.1.1. Yêu cầu 52

3
CÁC HÌNH VẼ SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Hình 1. Cấu trúc phân tầng quản lý hệ thống DNS 12
Hình 2. Các máy chủ tên miền cấp cao nhất (root server) và phân bố địa lý của chúng 14
Hình 3. Các dạng dữ liệu được ánh xạ từ 1 số ENUM 15
Hình 4. ENUM được sử dụng để kết nối mạng PSTN truyền thống 16
Hình 5. Sử dụng gateway để tùy biến lựa chọn dịch vụ viễn thông thích hợp 21
Hình 6. Mạng dịch vụ PSTN với IP backbone, routing với ENUM 22
Hình 7. Cấu trúc số theo vùng địa lý 28
Hình 8. Cấu trúc số theo dịch vụ toàn cầu 28
Hình 9. Cấu trúc số theo mạng 28
Hình 10. Cấu trúc phân cấp tên miền e164.arpa dành riêng cho ENUM 31
Hình 11. Thuật toán DDDS 34
Hình 12. Định dạng gói tin NAPTR 37
Hình 13. Mô hình phân cấp quản lý cấp phát, đăng ký ENUM 45
Hình 14. Mô hình chuyển giao toàn bộ 3 cấp 47
Hình 15. Mô hình phân cấp hoàn toàn không duy trì Tier2 47
Hình 16. Mô hình có Tier2 chỉ đóng vai trò hosting 48
Hình 17. Đầu cuối gọi quyết định trong quá trình thiết lập cuộc gọi qua truy vấn ENUM 53
Hình 18. Đầu cuối bị gọi quyết định qua cập nhật luật vào proxy/gateway địa phương 54
Hình 19. Cuộc gọi SIP thông thường 56
Hình 20. Cuộc gọi sử dụng ENUM do đầu cuối gọi truy vấn ENUM 57
Hình 21. Cuộc gọi qua chuyển mạch mềm hỗ trợ ENUM 58
Hình 22. Kiến trúc hệ thống sử dụng chương trình nhúng để triển khai ENUM 59

hiện các tài nguyên gắn kết với số ENUM. DDDS được sử dụng để tạo ra các
chuỗi ký tự của bản ghi ENUM.
BIND. Bekerley Internet Name Daemon - Phần mềm của hệ thống máy chủ tên
miền, là phần mềm miễn phí mã nguồn mở, được sử dụng nhiều nhất hiện tại.
IETF. Internet Engineering Task Force - Tổ chức các kỹ sư Internet, chuyên về
chuẩn hóa các công nghệ sử dụng trên Internet.
RFC. Request For Comment - Tài liệu của IETF, thường được coi là chuẩn kỹ
thuật sử dụng cho Internet
ITU. International Telecommunication Union - Liên minh viễn thông quốc tế, tổ
chức chuyên về chuẩn hóa trong lĩnh vực viễn thông.

5
E.164. Chuẩn của ITU quy định các phương pháp đánh số trong các dịch vụ viễn
thông quốc tế (số điện thoại).
VoIP. Voice over IP - Điện thoại sử dụng công nghệ IP, còn gọi là điện thoại
Internet.
SIP. Session Initiation Protocol - Một thủ tục thiết lập phiên làm việc do IETF
đề xuất, thường được sử dụng cho dịch vụ VoIP. Hiện được coi là chiếm ưu thế
hơn các chuẩn khác (H323, MGCP, SCCP ) trong việc phát triển VoIP.
HTTP. HyperText Transfer Protocol - Dịch vụ truy cập siêu văn bản, hay dịch
vụ web. Được coi là dịch vụ Internet thông dụng nhất.
LDAP. Lightweight Directory Access Protocol - Dịch vụ truy vấn thư mục.
URL. Unified Resource Locator - Địa chỉ tài nguyên thống nhất - Là các chuỗi
thể hiện đường dẫn tới tài nguyên ứng với thủ tục nào đó.
PSTN. Public Switch Telephone Network - Mạng điện thoại công cộng.
Softswitch. Chuyển mạch mềm - Công nghệ sử dụng phần mềm để thực hiện
các chuyển mạch cuộc gọi trong các tổng đài đa dịch vụ thế hệ mới.

Trong quá trình hội tụ này, vấn đề đánh số, địa chỉ tạo ra khả năng tương
thích thuận nghịch giữa hai hệ thống là một vấn đề then chốt mà trong nhiều
thập kỷ vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để và hiệu quả cho tới khi Hệ
thống đánh số điện tử ra đời.
Hệ thống số điện tử (ENUM) là hệ thống chuyển đổi địa chỉ điện tử từ số
điện thoại truyền thống sang các dạng định danh thân thiện với dịch vụ Internet,
có thể được quản lý, lưu trữ, truy vấn, mở rộng theo phương thức của các dịch
vụ Internet vốn được coi là rất đơn giản, hiệu quả và dễ phát triển.
Việc hình thành xây dựng Hệ thống số điện tử xuất phát từ ý tưởng xây
dựng một hệ thống thông tin truy vấn giống như hệ thống trang vàng điện tử,
qua đó từ một yếu tố có sẵn duy nhất với từng cá thể tham gia hoạt động mạng
(ở đây chọn là số điện thoại, theo chuẩn do ITU quy định và đã được tất cả các
quốc gia trên thế giới ứng dụng từ nhiều thập kỷ) có thể truy vấn ra các địa chỉ
dịch vụ mà cá thể đó cung cấp, hoặc sử dụng được. Thực tế trước đây với các
hệ thống thư mục (Directory), hệ thống trang vàng, hệ thống tìm kiếm thông tin
trên Internet, người ta đã xây dựng nhiều công cụ truy vấn thông tin như vậy.
Thông thường các hệ thống trên thường sử dụng tên cá nhân, địa chỉ email, hay
thậm chí số giấy chứng minh nhân dân, làm chỉ mục. Các thông tin trên mặc
dù có thể là duy nhất, nhưng không có tính chất toàn cầu và khó có thể mở rộng

8
ra toàn cầu cũng như mở rộng cho các ứng dụng trừu tượng chưa có tại thời
điểm hiện tại, khó có thể cung cấp cho các môi trường ngôn ngữ, môi trường
thông tin tích hợp khác nhau. Hệ thống số điện tử (hay công nghệ chuyển đổi
số điện thoại) ra đời, bằng việc gắn các hoạt động lưu trữ và truy vấn với hệ
thống máy chủ dịch vụ tên miền DNS đã giải quyết được các khiếm khuyết nói
trên.


9
- Chương 1: Tổng quan về Hệ thống DNS và Hệ thống số điện tử.
Chương này giới thiệu tổng quan về hệ thống máy chủ tên miền DNS, các
chuẩn đánh số điện thoại và hệ thống số điện tử (ENUM), sự liên quan giữa hệ
thống số điện tử và hệ thống máy chủ tên miền (DNS). Tại đây cũng trình bày
sự cần thiết và xu thế phát triển của hệ thống tích hợp ENUM và DNS cũng
như giới thiệu về các ứng dụng sử dụng ENUM và báo cáo về tình hình phát
triển ENUM ở một số quốc gia.
- Chương 2: Thiết kế xây dựng hệ thống tích hợp DNS và ENUM trong
các ứng dụng hội tụ mạng viễn thông và Internet.
Chương này đi vào giới thiệu chi tiết về các kiến trúc và nguyên tắc hoạt
động của các hệ thống số điện tử và hệ thống DNS, các thành phần hệ thống,
việc tương tác, kết hợp giữa các bản ghi dịch vụ tên miền thuần túy và các loại
bản ghi sử dụng cho hệ thống tích hợp ENUM cùng việc đánh giá khả năng áp
dụng thực tiễn của các loại hình dịch vụ hội tụ này.
- Chương 3: Thiết kế thực hiện mô hình thử nghiệm ứng dụng hệ thống
tích hợp ENUM và DNS.
Chương này tập trung trình bày việc xây dựng, triển khai các hệ thống
tích hợp DNS và ENUM để cung cấp dịch vụ điện thoại trên nền giao thức IP,
phát triển chương trình nhúng thường trú vào một trình duyệt Web sẵn có để có
thể truy nhập Website thông qua số ENUM nhằm kiểm tra tính khả thi và đánh
giá khả năng áp dụng hệ thống tích hợp hội tụ ENUM và DNS tại Việt Nam.
- Phần kết luận: Tóm tắt nội dung luận văn, các hướng đề xuất nghiên
cứu tiếp theo cho luận văn.
nhiều hơn do các liên kết trong các bản tin HTML có rất nhiều tham chiếu tới
các địa chỉ Web khác.
Tại sao lại cần sử dụng hệ thống DNS?
Như chúng ta đã biết Internet là một mạng máy tính toàn cầu, do hàng nghìn
mạng máy tính từ khắp mọi nơi nối lại tạo nên. Khác với cách tổ chức theo các
cấp: nội hạt, liên tỉnh, quốc tế của một mạng viễn thông (như mạng điện thoại
chẳng hạn), mạng Internet tổ chức chỉ có một cấp, các mạng máy tính dù nhỏ, dù

1
RFC2916: E.164 number and DNS

11
lớn khi nối vào Internet đều bình đẳng với nhau. Do cách tổ chức như vậy nên
trên Internet có cấu trúc địa chỉ, cách đánh địa chỉ đặc biệt và rất khác với cách
tổ chức địa chỉ của mạng viễn thông. Ví dụ như một địa chỉ IPv4
203.162.057.101 được biểu hiện ở dạng thập phân đầy đủ là 12 chữ số và được
chia thành 4 octet (tổng cộng 32 bít), mỗi octet được tách biệt nhau bằng dấu
chấm (.); địa chỉ IPv6 thì còn dài hơn bao gồm tổng cộng 128 bít - dài gấp 4 lần
địa chỉ IPv4 và các octet bao gồm cả những chữ số và chữ cái biểu diễn dưới
dạng số HEX.
Thực tế mọi yêu cầu truy nhập một máy chủ bất kỳ đều có thể được thực hiện
thông qua địa chỉ IP của máy chủ đó. Tuy nhiên để người sử dụng nhớ được dãy
địa chỉ dạng số dài như vậy khi truy nhập, kết nối mạng là hết sức khó khǎn.
Chính vì thế, cạnh địa chỉ IP bao giờ cũng có thêm một cái tên đi kèm mang một
ý nghĩa nào đó, dễ nhớ cho người sử dụng mà trên Internet gọi là tên miền
(Domain Name), ví dụ như www.google.com. Nhờ vậy, người sử dụng không
cần biết đến địa chỉ IP mà chỉ cần nhớ tên miền là truy nhập máy chủ được. Thực

(e.g., .com, .net, .org, .gov, .mil)
Third Level Domain
(e.g., www.itu.int)
Second Level Domain
(e.g., itu.int)
Top Level Domain
(e.g., .int)
Fourth Level Domain
(e.g., www.ntt.co.jp)
Third Level Domain
(e.g., ntt.co.jp)
Third Level Domain
(e.g., toyota.co.jp)
Second Level Domain
(e.g., co.jp)
Top Level Domain
(e.g., Country Codes
.be, .cn, .fr, .jp, .us)
Root Node
""

Hình 1. Cấu trúc phân tầng quản lý hệ thống DNS
Để có thể phân tán hệ thống DNS toàn cầu đồng thời đảm bảo được các công tác
phân cấp quản lý và sử dụng hệ thống DNS, cơ sở dữ liệu hệ thống DNS được
phân tầng quản lý như biểu đồ cấu trúc ở trên. Trong đó các tổ chức khác nhau
được phân cấp (hay còn gọi là chuyển giao) các tên miền ở một cấp nhất định và
có thể phân cấp (chuyển giao) lại các tên miền cấp dưới của mình cho tổ chức
khác
Về cơ bản từ mức thấp nhất cho đến mức cao nhất, mỗi một mức tên miền đều
có các dns quản lý tên, địa chỉ trong mức ấy, trong khu vực ấy. Một thông tin về

"!^.*$!sip:!".

Có thể thấy, các cấu trúc dữ liệu là rất khác nhau và được định nghĩa tùy theo các
yêu cầu cụ thể của thủ tục, ứng dụng sử dụng. Yếu tố quyết định ở đây là trường
kiểu dữ liệu (record type) trong các bản ghi (như A, MX, NAPTR trong các ví
dụ trên). Ứng dụng cũng có thể lựa chọn để nhận được dữ liệu ứng với 1 kiểu bất
kỳ, hoặc cũng có thể lựa chọn để nhận tất cả các dạng bản ghi. Hệ thống DNS
cũng có thể chỉ thị các tham chiếu để ứng dụng truy vấn các miền khác, hoặc các
máy chủ khác nếu cần (cơ chế chuyển giao - delegation).
Để tăng cường độ sẵn sàng của dịch vụ và phân bố tới mọi nơi trên thế giới một
cách hiệu quả nhất, các máy chủ DNS cho toàn mạng được phân tán rộng khắp
một cách mềm dẻo. Hệ thống 13 máy chủ tên miền cấp cao nhất (root servers)
được phân bố toàn cầu như hình vẽ sau:

14

e.root-servers.net
NASA (Ames)
Mt. View, CA, USA
f.root-servers.net
ISC
Palo Alto, CA, USA
b.root-servers.net
USC-ISI
Los Angeles, CA, USA
i.root-servers.net
NORDUNET/KTH

Các máy chủ tên miền root này lại chuyển giao các tên miền cấp dưới cho các
máy chủ tên miền khác trên toàn thế giới, tạo thành một hệ thống máy chủ tên
miền rộng khắp và bền vững nhất trong số các loại dịch vụ Internet thông dụng.
Trong khoảng thời gian hơn 30 năm phát triển của mình, thủ tục DNS đã được
hoàn chỉnh và bổ sung tương đối nhiều. Điều đó có được là do các mô tả ban đầu
của thủ tục có rất nhiều điểm mở, cho phép định nghĩa thêm các loại hình dữ
liệu, các loại tham số, độ ưu tiên, trọng số, cấu trúc trường dữ liệu, kiểu dữ liệu
mới một cách rất thuận tiện. DNS được đánh giá là có khả năng mở rộng không
giới hạn, có khả năng lưu trữ gần như mọi loại dữ liệu, gần giống với hệ thống
thư mục directory được phát triển gần đây. Thực tế, trong một số hệ thống như
hệ thống Active Directory

của Microsoft
®
ứng dụng trong các phiên bản
Windows 2000 trở lên, Microsoft đã sử dụng DNS như một cơ sở dữ liệu phân
tán các thuộc tính trên diện rộng và đã tạo ra một trào lưu mới trong việc đưa
thêm các ứng dụng bổ sung khác vào DNS. Hiện tại, ngoài việc được sử dụng
như cơ sở dữ liệu tên miền - địa chỉ, DNS còn được dùng để truy vấn ngược từ
địa chỉ ra tên miền (reverse lookup), tìm kiếm các máy chủ dịch vụ (như truy vấn
bản ghi SRV được sử dụng trong SIP), LDAP schema

15
Ngoài ra, DNS còn có nhiều công nghệ quan trọng bổ trợ khiến cho nó có khả
năng đáp ứng được nhiều yêu cầu khác nhau của các loại dịch vụ mà đặc biệt là
do tính linh hoạt trong cấu trúc dữ liệu của các bản ghi DNS.
1.1.2. Hệ thống số điện tử (ENUM)

Internet. Với ENUM, một ứng dụng viễn thông (như điện thoại, fax) có thể làm
việc với một ứng dụng Internet (như softphone, voice over IP, fax over IP,

16
instant messenger ) mà không cần phải sinh ra các số điện thoại ảo (như đang
làm trong các hệ thống VoIP hiện tại) và ngược lại. Sở dĩ như vậy là vì ENUM
có thể ứng dụng ở đầu cuối hay ở tổng đài, hoặc qua các thiết bị chuyển đổi
trung gian như sẽ trình bày ở phần sau. Qua đó, từ số điện thoại, qua truy vấn
ENUM, ứng dụng sẽ biết được thủ tục giao tiếp cần sử dụng, địa chỉ tài nguyên
đích được truy vấn và các thông số khác để thực hiện các kết nối.
PSTN
INTERNET
DNS
ENUM
Gateway
Người sử dụng

Hình 4. ENUM đƣợc sử dụng để kết nối mạng PSTN truyền thống
với mạng Internet.

1.2. Các ứng dụng sử dụng ENUM
Khả năng ứng dụng của ENUM trong các hệ thống viễn thông, Internet rất
rộng rãi. Các mô hình ứng dụng ENUM có khả năng thực hiện ngay tại thời
điểm hiện tại có thể kể đến là:
1.2.1. Hệ thống PSTN và VoIP
Hệ thống điện thoại công cộng và điện thoại IP được xem xét do đây chính là các
dịch vụ mấu chốt khiến cho ENUM được quan tâm đến. ENUM có thể mang lại

trên mạng PSTN truyền thống. Địa chỉ được sử dụng trong SIP có dạng gần
giống với địa chỉ thư điện tử, ví dụ như "sip:" có thể được
dùng làm địa chỉ bị gọi bởi SIP. Về đặc điểm, chuẩn SIP có nhiều nét tương
đồng với chuẩn H.323, một giao thức được ra đời trước, cả hai đều có khả năng
thiết lập và truyền tín hiệu các cuộc gọi trong mạng Internet. Tuy nhiên khác với
H.323, SIP là một giao thức ngang hàng nên nó có thể xử lý được thông tin trong

18
cấu trúc mạng phức tạp, điều này không thể có được ở các mạng ứng dụng chuẩn
H.323.
Một vấn đề tồn tại tại thời điểm này là sự tương tác giữa các đầu cuối điện thoại
truyền thống và điện thoại IP có nhiều khó khăn. Trong khi các đầu cuối điện
thoại IP có thể dễ dàng gọi tới đầu cuối PSTN thông qua các gateway chuyển đổi
sử dụng phần mềm thì các đầu cuối thoại truyền thống, thông qua các chuyển
mạch kênh kiểu cũ thường không thể hiểu được các đích định tuyến cần truyền
tải và do đó bắt buộc phải có một Gateway cục bộ được định sẵn trong cùng
mạng PSTN đó để kết cuối các cuộc gọi. Đó là chưa kể các đầu cuối truyền
thống thường chỉ có các phím số, không thể sử dụng cùng loại địa chỉ với các
đầu cuối VoIP (có thể có địa chỉ dạng SIP) Đây chính là điểm ENUM được
thiết kế để giải quyết.
Trên thực tế triển khai các hệ thống VoIP, một vấn đề kỹ thuật nảy sinh chưa
được giải quyết triệt để là việc chuyển mạch các cuộc gọi từ mạng viễn thông
vào mạng VoIP. Trong khi việc gọi từ 1 đầu cuối VoIP ra một điện thoại thông
thường rất dễ dàng thì chiều ngược lại thường không xử lý được. Thông thường,
cuộc gọi được kết thúc trên mạng PSTN và người được gọi phải kết nối
Terminal của mình với mạng PSTN cụ thể đó. Điều này dẫn đến cần phải phát
triển một kiểu đánh số công cộng toàn cầu nào đó hỗ trợ việc đánh số cho các

URL là "mailto:" và hệ thống email tương ứng sẽ có
được địa chỉ email cần để sử dụng).
- Nhắn tin tức thời (Instant Messaging) thông qua địa chỉ ENUM.
- Gọi điện thoại IP dùng số ENUM: Ví dụ có thể dùng ENUM để truy vấn
địa chỉ sip phone của người bị gọi và do đó biến dịch vụ sip phone thành
dịch vụ tương đương với dịch vụ điện thoại.
- Gọi từ mạng viễn thông vào dịch vụ Internet: Ví dụ có thể gọi tới 1 tổng
đài gateway chuyển mạch mềm (softswitch) có hỗ trợ ENUM, tại gateway
này, truy vấn ENUM với số điện thoại đích sẽ cho về các URL cuối có thể
sử dụng. Địa chỉ cuối có thể là 1 số VoIP sử dụng H323, MGCP, SCCP,
hay 1 softphone sử dụng SIP và gateway lúc đó sẽ làm vai trò trung gian
chuyển đổi. Lợi ích là ở chỗ các thuê bao của gateway này có thể sử dụng
được số điện thoại công cộng thông thường và có khả năng hoán chuyển
giữa các dạng dịch vụ được cung cấp. Quan trọng nhất là ở đây các đầu
cuối viễn thông truyền thống không cần phải thay đổi để có thể sử dụng
được dịch vụ mới.

20
- Gọi từ mạng Internet ra mạng viễn thông: Truy vấn ENUM từ đầu cuối,
hoặc từ proxy, gateway cho phép lấy được địa chỉ URL của gateway cuối
kết nối ra mạng viễn thông và do đó các hệ thống VoIP toàn cầu có thể
làm việc được với nhau trên nền cơ sở hạ tầng chung. Đây là vấn đề chưa
giải quyết được đối với VoIP hiện nay, càng không giải quyết được với
dịch vụ SIP.
- Sử dụng các dịch vụ kết hợp: Ví dụ gateway có thể cung cấp các dịch vụ
viễn thông thông thường như thoại, fax, voicemail và các dịch vụ ứng
dụng Internet như voice to mail, voice to web, voice to IM, SMS to IM

nội bộ sẽ là hệ thống điện thoại IP. Truy vấn ENUM cho phép chuyển đổi cuộc
gọi ra ngoài thông qua các gateway VoIP như vậy sẽ bỏ qua hoàn toàn hệ thống
PSTN. Tương tự với trường hợp doanh nghiệp, các thuê bao cá nhân cũng có thể
có nhu cầu sử dụng các hệ thống thông tin cá nhân hay gia đình có khả năng tùy
biến cao. Các hệ thống này có khả năng kết nối từ Internet tới Internet song song
với khả năng sử dụng các dịch vụ VoIP và thoại truyền thống. Với các thiết bị
gia dụng hỗ trợ ENUM, việc tích hợp là hoàn toàn có thể. Hiện tại cũng đã có
các thiết bị gia dụng với chức năng chuyển toàn bộ các dạng dữ liệu truyền thông
tới 1 gateway thiết kế sẵn, nhưng hệ thống này không có khả năng tùy biến cao,
không có khả năng tự lựa chọn phương thức truyền thông và nhà cung cấp dịch
vụ một cách trực tuyến.

Internet
PSTN
IP
Telephone
Gateway
DNS
Wireless
IP phone
Softphone
SIP PDA

Hình 5. Sử dụng gateway để tùy biến lựa chọn dịch vụ viễn thông thích hợp
Khả năng chuyển mạch cuộc gọi trong một mạng dịch vụ điện thoại

22

23
1.3. Phát triển ENUM ở một số nƣớc trên thế giới
Trong khoảng 3-4 năm gần đây, ENUM đang trở thành một vấn đề nóng trên
phạm vi toàn cầu. Từ khi RFC2916 được IETF công bố vào tháng 9 năm 2000,
ENUM đã được coi là một phần của các chiến lược hội tụ viễn thông và Internet,
của chuyển mạch kênh và chuyển mạch gói và là cơ hội để phát triển các loại
hình dịch vụ mới cho một thị trường cỡ lớn một cách dễ dàng. Có thể nói, nghiên
cứu phát triển ENUM đang là một trào lưu thu hút được sự tham gia của hầu hết
các tổ chức viễn thông và công nghệ truyền thông Internet trên thế giới, các quốc
gia phát triển và cả những quốc gia đang phát triển bởi khả năng mang lại lợi ích
thương mại dịch vụ của nó cũng như những vấn đề phức tạp nảy sinh trong quản
lý và kiểm soát chủ quyền.
1.3.1. Tại Châu Âu
Châu Âu hiện nay là khu vực có nhiều quốc gia nhất được ITU chấp nhận
chuyển giao cho quyền quản lý tên miền ENUM tương ứng mã viễn thông quốc
gia. Rất nhiều quốc gia Châu Âu đã xây dựng hệ thống thử nghiệm ENUM.
Trong đó có những quốc gia đang tiến gần đến giai đoạn cung cấp dịch vụ
ENUM thương mại mà điển hình là Áo, một trong những quốc gia Châu Âu đầu
tiên thử nghiệm ENUM.
Việc thử nghiệm ENUM tại Áo được giám sát bởi tổ chức quản lý viễn thông Áo
(Austrian Regulatory Authority for Telecommunications and Broadcasting –
RTR GmbH). Hiện tại, Áo đã thực hiện thành công một hệ thống quản lý đăng
ký ENUM hoàn chỉnh gồm các Registry Tier1, Tier2, Registrar, hệ thống đăng
ký hỗ trợ thủ tục EPP, công bố các chính sách về quá trình đăng ký, kế hoạch
đánh số và phân bổ cho ENUM,VoIP (ENUM and VoIP Numbering Plan) và
đang bước sang giai đoạn cung cấp dịch vụ. Tổ chức quản lý ccTLD (NIC.at)
được chỉ định là Tier 1.
Để thực hiện giai đoạn thương mại, Tổ chức quản lý viễn thông Áo đã ký kết
hợp tác với NIC.at để hệ thống hoá toàn bộ:
- Các khung chính sách quốc gia cho ENUM;

- Sẽ duy trì duy nhất một nhà quản lý Tier 1 hay duy trì một số nhà quản lý
cấp Tier 1. (Trong trường hợp nhiều tổ chức Tier 1 thì thực hiện phân chia
phạm vi quản lý và thực hiện đồng nhất trong chính sách giữa các nhà
quản lý Tier1 như thế nào).

25
1.3.3. Tại các nƣớc trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng
Trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, ENUM đang được thử nghiệm ở
phạm vi quốc gia tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Singapore,
Úc. Trong đó Trung Quốc và Singapore đã được ITU và RIPE NCC chuyển giao
quản lý tên miền ENUM tương ứng mã quốc gia.
Mới đây, CNNIC, JPRS (quản lý ccTLD .jp của Nhật), KRNIC, SGNIC,
TWNIC đã thành lập ra một tổ chức lấy tên là APEET (Asian Pacific Enum
Engineering Team), giới hạn thành viên là các tổ chức quản lý ccTLD tại khu
vực Châu Á – Thái Bình Dương với mục đích chia sẻ kinh nghiệm trong triển
khai thử nghiệm ENUM, trao đổi phần mềm và Source code về ENUM.
APETF đã tổ chức một track về ENUM/SIP tại APRICOT 2005 và cung cấp
dịch vụ điện thoại ENUM/SIP phone tại APRICOT 2005.
* Trung Quốc
Tổ chức đầu tiên thử nghiệm ENUM tại Trung Quốc là CNNIC (tổ chức quản lý
tên miền ccTLD của Trung Quốc). CNNIC hoạt động dưới sự quản lý của Bộ
Công nghiệp thông tin Trung Quốc (Ministry of Information Industry of China –
MII ).
Tháng 2/2002 MII đã quyết định thử nghiệm ENUM và thành lập China MII-
ENUM study group dưới sự quản lý của MII, trong đó CNNIC là thành viên chủ
chốt. Nhóm nghiên cứu có các thành phần: Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông,
các học viện, ISP…lập thành các nhóm làm việc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status