Dạy học luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 theo quan điểm tích hợp - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới hiện nay của nước ta, mục tiêu đào tạo nguồn
nhân lực có trình độ, năng lực, sáng tạo có khả năng thích nghi với xu thế toàn
cầu hóa là một trong những mục tiêu quan trọng nhất. Đại hội Đảng khóa VIII
đã khẳng định mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn
minh của mọi quốc gia… Hướng bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Việt
Nam là: không ngừng gia tăng tính tự giác, năng động, tự chủ, phát huy sức
mạnh bên trong cuả mỗi cá nhân kết hợp với sức mạnh của cả cộng đồng; con
người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần,
trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, là mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của giáo dục trong giai đoạn mới cũng
không tách rời khỏi mục tiêu của Đảng, và sự đổi mới trong giáo dục chính là
góp phần đào tạo con người theo mục tiêu đó.
Trước tình hình nói trên, buộc phải xem xét lại chức năng truyền thống
của người giáo viên là: truyền đạt kiến thức, đặc biệt là các kiến thức của từng
môn học khoa học riêng rẽ. Giáo viên phải biết dạy học tích hợp các khoa học,
dạy cho học sinh cách thu thập, chọn lọc, xử lí các thông tin, biết vận dụng kiến
thức đã học vào các tình huống cụ thể của cuộc sống. Theo tư tưởng của định
hướng đổi mới: lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo và tổ chức nội
dung chương trình SGK và lựa chọn các phương pháp dạy học thì môn Tiếng
Việt nói chung và môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng cũng không xa rời xu thế
đổi mới chung đó.
Tiếng Việt là môn học quan trọng trong nhà trường phổ thông, nó góp
phần thực hiện những mục tiêu giáo dục đã đề ra trong việc đào tạo con người
Việt Nam phát triển toàn diện. Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có những cơ sở để
thực hiện tích hợp một cách thuận lợi bởi lẽ các phân môn của môn học này đều
là các phát ngôn hoàn chỉnh làm nên đơn vị hiểu được trong giao tiếp. Việc tích
hợp của các phân môn Tiếng Việt ở các kiến thức và các kĩ năng nhằm phát huy
các lợi thế của các phân môn, tiết kiệm thời gian học cũng như tránh bị trùng lặp

Hướng thứ nhất:bàn về vấn đề dạy học theo quan điểm tích hợp một
cách khái quát, chỉ có tính chất định hướng.
Tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống trong cuốn: “ Tìm hiểu chương trình và SGK Ngữ
văn ở THPT” (NXB Giáo dục-2006) đã đề cập đến vấn đề đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng tích hợp và phát huy tính tích cực, chủ động của HS.
- Trong tài liệu “Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo đổi mới”
NXB Giáo dục - PGS.TS Nguyễn Trí đã chỉ rõ việc dạy học theo hướng tích
hợp, hướng tích cực, hướng giao tiếp là những nhiệm vụ cấp thiết trong dạy học
Tiếng Việt hiện nay.
- Đặc biệt trong “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên”- NXB Đại học sư phạm
và trong các tài liệu “Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt” từ lớp 2 đến lớp 5 các tác
giả đã trình bày rất rõ quan điểm biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt theo quan
điểm tích hợp là như thế nào. Và cũng nêu đường hướng chỉ đạo hoạt động dạy
học theo quan điểm tích hợp cho từng phân môn.
Trần Thị Tâm - k34B GDTH

2


Khóa luận tốt nghiệp
Nhìn chung các công trình nêu trên đã đề cập đén một cách khái nhất
những yêu cầu quan trọng của hoạt động dạy học Tiếng Việt
Hướng thứ hai bàn về hoạt động dạy học tích hợp ở từng phân môn
Đó là hướng nghiên cứu của một số khóa luận tốt nghiệp đại học như:
- Đỗ Thị Kim Oanh- Đại học Sư phạm Hà Nội 2- Phương pháp dạy học theo
quan điểm tích hợp trong dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5 - khóa luận tốt
nghiệp.
-Nghiêm Thị Phượng - Đại học Sư phạm Hà Nội 2- Dạy học Tập đọc theo quan
điểm tích hợp - Khóa luận tốt nghiệp.
Như vậy có thể nói, tích hợp là quan điểm dạy học hiện đại. Nó được áp dụng

Nội.
6. Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
6.2 Phương pháp hệ thống:
6.3 Phương pháp khảo sát:
6.4 Phương pháp thực nghiệm:
7. Kết cấu của khóa luận.
Khóa luận có kết cấu ba phần
– Phần Mở đầu
– Phần Nội dung
Phần nội dung bao gồm ba chương:
Chương một: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương hai : Một số biện pháp dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
theo quan điểm tích hợp
Chương ba: Thực nghiệm
– Phần Kết luận.
Nội dung
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC LUYỆN
TỪ VÀ CÂU THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
1.Cơ sở lí luận
1.1 Quan điểm tích hợp trong dạy học Luyện từ và câu
1.1.1 Khái quát về quan điểm dạy học tích hợp
1.1.1.1 Khái niệm
Đã có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra cách hiểu của mình về quan điểm
tích hợp. Sau đây, tôi xin trích dẫn một số ý kiến của một số các nhà nghiên cứu:
“ Tích hợp trong dạy học là thống nhất liên kết giữa các phân môn trong
bộ môn, giữa các bộ môn có liên quan; giữa các bộ môn, giữa các phân môn có
Trần Thị Tâm - k34B GDTH

4

môn Tiếng Việt đã đề ra.
Tính tích hợp của SGK Tiếng Việt Tiểu học năm 2000 thể hiện ở hai
phương diện, đó là: tích hợp theo chiều ngang và tích hợp theo chiều dọc.

Trần Thị Tâm - k34B GDTH

5


Khóa luận tốt nghiệp
+ Tích hợp theo chiều ngang: là tích hợp kiến thức Tiếng Việt với các mảng
kiến thức tự nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy.
+ Tích hợp theo chiều dọc: Là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới
với những kiến thức và kĩ năng trước đó theo nguyên tắc đồng tâm.
c) Mối quan hệ giữa quan điểm dạy học tích hợp và quan điểm dạy học tích
cực
Dạy học theo quan điểm tích hợp tạo điều kiện để phát triển tri thức, kĩ
năng tốt. Theo quan điểm tích hợp, các quá trình học tập không tách rời cuộc
sống hằng ngày mà được tiến hành trong mối liên hệ với các tình huống cụ thể.
Xu hướng tích hợp nhằm rèn luyện tư duy tổng hợp cho học sinh. Đó cũng là
con đường hình thành cho học sinhmột cách nhìn nhận, khái quát vấn đề tổng
hợp nhất, giúp học sinh thấy được các kiến thức lĩnh hội được có quan hệ hữu cơ
với nhau. Từ đó tư duy của học sinh sẽ nâng lên một bước phát triển mới. Mối
liên hệ giữa các kiến thức trong môn thì tích hợp là điều kiện đảm bảo cho học
sinh khả năng tư duy có hiệu quả những kiến thức và năng lực đã có để giải
quyết có hiệu quả những tình huống có vấn đề mới xuất hiện, những khó khăn
mà các em bất ngờ gặp phải trong cuộc sống.
1.1.2 Các hình thức tích hợp được thể hiện trong sách giáo khoa Tiếng Việt
1.1.2.1.Tích hợp ngang.
Tích hợp ngang là tích hợp “trong từng thời điểm” ( một tiết học, một bài

gì?, Ai làm gì?, Ở đâu?, Như thế nào?, Vì sao?...) nhưng lại đặt yêu cầu cao hơn.
Lên lớp 4 thì HS lại được học lại các kiểu câu này dưới hình thức các bộ phận
của câu kể và được học các thành phần của các câu này như: Chủ ngữ trong câu
kể Ai là gì?, Vị ngữ trong câu kể Ai thế nào?... Ngoài ra, lớp 3 còn được học về
so sánh và nhân hóa là những điều hoàn toàn mới so với lớp 2, lớp 4 được học
sâu hơn về từ, câu…
Về kĩ năng, HS lớp 2 học những nghi thức giao tiếp thông thường ( chào
hỏi, cảm ơn, xin lỗi, mời, nhờ, yêu cầu…), trong khi đó ở lớp 3 được dạy một số
kĩ năng giao tiếp chính thức, cần thiết như: giới thiệu hoạt động của tổ, của lớp,
tổ chức cuộc họp và phát biểu trong cuộc họp, làm đơn, điền vào giấy tờ in
sẵn…, sang đến lớp 4, quan điểm dạy giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương
diện nội dung và phương pháp dạy học. Về nội dung, chủ yếu thông qua các bài
Mở rộng vốn từ theo đinh hương mà hoàn thiện thêm về kĩ năng giao tiếp. Về
phương pháp, các kĩ năng giao tiếp được xây dựng thông qua nhiều bài tập
mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên.
1.1.3. Mục đích của việc biên soạn SGK theo quan điểm tích hợp.
Quan điểm tích hợp được các nhà biên soạn SGK lựa chọn thông qua việc
biên soạn sách theo các chủ điểm - đây là một giải pháp thực hiện mục tiêu rèn
luyện kĩ năng và trang bị kiến thức toàn diện cho học sinh, đồng thời dựa trên
quan điểm tích hợp, sẽ tiết kiệm thời gian học tập cho người học và tăng cường
hiệu quả giáo dục.
1.1.4. Mục đích của việc dạy học theo quan điểm tích hợp.
Trần Thị Tâm - k34B GDTH

7


Khóa luận tốt nghiệp
Quan điểm dạy học tích hợp được đề xướng nhằm mục đích:
Thứ nhất: giải quyết một mâu thuẫn lớn trong giáo dục hiện nay là mâu

Trần Thị Tâm - k34B GDTH

8


Khóa luận tốt nghiệp
Đây là giai đoạn cuối Tiểu học, ở giai đoạn này tư duy trực quan hình tượng
chiếm ưu thế.
1.2.1.5 Tưởng tượng của học sinh Tiểu học.
Tưởng tượng của học sinh Tiểu học được chia thành hai giai đoạn: giai
đoạn đầu Tiểu học: hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ
thay đổi. Giai đoạn cuối Tiểu học: tưởng tượng tái tạo bắt đầu hoàn thiện, từ
những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo
phát triển tương đối hoàn thiện ở giai đoạn này.
1.2.1.6. Ý chí của học sinh Tiểu học
Ở đầu tuổi Tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu
cầu của người lớn. Khi đó sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các
em còn yếu. Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã
đề ra nếu gặp khó khăn.Đến cuối tuổi Tiểu học, các em đã có khả năng biến yêu
cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí
còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em.
1.7 Tình cảm của học sinh Tiểu học
Tình cảm của học sinh Tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn
liền với các sự vật, hiện tượng sinh động, rực rỡ… Khả năng kiềm chế tình cảm
của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và dễ nổi giận, biểu hiện của trẻ là dễ khóc
mà cũng nhanh cười, rất vô tư hồn nhiên… Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ
kém bền vững, rất dễ thay đổi.
1.2.2 Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học
Hầu hết học sinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1
bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và

Lớp 3: Học sinh học thêm khoảng 400- 450 từ ngữ ( kể cả một số thành ngữ ,
tục ngữ quen thuộc và nghĩa của một số yếu tố gốc Hán thông dụng và một số từ
địa phương ) theo các chủ đề: thiếu nhi; gia đình; trường học; cộng đồng; quê
hương; từ địa phương; các dân tộc; thành thị, nông thôn, Tổ quốc, sáng tạo, nghệ
thuật, lễ hội, thể thao, các nước, thiên nhiên. Ngoài ra, vốn từ còn được mở rộng
trong các bài ôn tập về từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, trạng thái, từ chỉ đặc
điểm, tính chất.
Lớp 4: Học sinh học thêm khoảng 500- 550 từ ngữ ( kể cả thành ngữ, tục ngữ và
một số yếu tố gốc Hán thông dụng) theo các chủ đề: nhân hậu, đoàn kết, trung
thực, tự trọng; ước mơ, ý chí nghị lực; trò chơi, đồ chơi; tài năng, sức khỏe, cái
đẹp, dũng cảm, khám phá, phát minh; du lịch, thám hiểm; lạc quan.
Lớp 5: Học sinh học thêm khoảng 600- 650 từ ngữ ( kể cả thành ngữ, tục ngữ và
một số yếu tố gốc Hán thông dụng) theo các chủ đề: Tổ quốc, nhân dân; hòa
bình, hữu nghị, hợp tác; thiên nhiên; bảo vệ môi trường; hạnh phúc; công dân;
trật tự, an ninh; truyền thống; nam và nữ; trẻ em, quyền và bổn phận.
b) Các mạch kiến thức và kĩ năng về từ và câu
Trần Thị Tâm - k34B GDTH

10


Khóa luận tốt nghiệp
Lớp 2: Từ và câu, các lớp từ, từ loại, các kiểu câu, cấu tạo câu, dấu câu, ngữ âm
– chính tả.
Lớp 3: Từ loại, biện pháp tu từ (so sánh, nhân hóa), các kiểu câu, cấu tạo của
câu, dấu câu.
Lớp 4: Cấu tạo từ, từ loại, các kiểu câu, cấu tạo câu ( thành phần câu ), dấu câu,
ngữ âm - chính tả.
Lớp 5: Các lớp từ, cấu tạo từ, kiểu câu Liên kết câu.
2.1.2. Chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 4.

này, giáo viên đã sử dụng dạy học tích hợp ở hầu hết các hoạt động dạy.Ở hoạt
động 1(bài tập 1): dựa vào hai khổ thơ ngắn, giáo viên đưa ra hai câu hỏi. Câu
hỏi 1: Con đom đóm được gọi là gì? ở câu hỏi này hầu hết học sinh đã trả lời
đúng (được gọi là anh) bởi lẽ các em đã được biết qua tiết học Tập đọc “Anh
đom đóm” tuần 17. Câu hỏi 2: Tính nết và hoạt động của đom đóm được tả bằng
những từ ngữ nào?- ở câu hỏi này còn một số ít các em chưa trả lời đúng do đã
quên ở bài tập đọc trước. Mục đích của việc đưa ra hệ thống các câu hỏi là để ôn
tập lại kiến thức cũ đã học trong giờ Tập đọc.
Lớp 4: tiết dạy Luyện từ và câu: Chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì?- giáo viên
dạy: Nguyễn Thị Khuyên, lớp 4A.Trong tiết dạy này, để đưa ra được các kiến
thức mới trong phần ghi nhớ, giáo viên phải giúp học sinh nhớ lại các kiến thức
về biện pháp nhân hóa đã học ở lớp 3 và từ đó vận dụng tìm ra được chủ ngữ
của câu kể Ai làm gì? Ví dụ: ở bài tập 1,2,3 giáo viên lần lượt đưa ra các câu hỏi
nhằm mục đích lấy kiến thức của bài này làm ngữ liệu cho bài kia.Tìm chủ ngữ
của câu, nêu ý nghĩa của chủ ngữ:

Một đàn ngỗng / vươn dài cổ, chúi mỏ về phía trước, định đớp bọn trẻ.
Chủ ngữ
Hùng / đút vội khẩu súng gỗ vào túi quần, chạy biến.
Chủ ngữ
Học sinh trả lời: Chủ ngữ trong 2 câu trên lần lượt chỉ con vật và chỉ người.
Lớp 5: tiết dạy Luyện từ và câu: Câu ghép- giáo viên dạy: Nguyễn Thị Oanh,
lớp 5C. Ở bài này, giáo viên tích hợp kiến thức về Chủ ngữ đã học ở các tiêt
Luyện từ và câu lớp 4. Trong bài 1 phần nhận xét, giáo viên đưa ra câu hỏi : “
đoạn văn có mấy câu? Xác định chủ ngữ, vị ngữ của mỗi câu?”; các em nhớ lại
kiến thức đã học, vận dụng vào xác định câu. Như vậy, theo đề nghị của giáo
sinh thực tập, giáo viên ở trường phổ thông đã vận dụng linh hoạt quan điểm
tích hợp dọc vào giảng dạy theo mạch kiến thức: kiến thức của bài học này là
tiền đề cho bài học sau. Đó cũng là con đường hình thành cho học sinhmột cách
nhìn nhận, khái quát vấn đề tổng hợp nhất, giúp học sinh thấy được các kiến

CHƯƠNG 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU THEO QUAN
ĐIỂM TÍCH HỢP
1. Dạy học Luyện từ và câu trong mối quan hệ hàng ngang.
1.1 Mối quan hệ giữa dạy học Luyện từ và câu với dạy học Tập đọc.
Sự tích hợp trong hai phân môn này cũng được thể hiện rõ trong mối
quan hệ hai chiều:

Trần Thị Tâm - k34B GDTH

13


Khóa luận tốt nghiệp
Phân môn Luyện từ và câu tạo điều kiện cho học sinh học tốt phân môn
Tập đọc nhờ đặc trưng của phân môn này là cung cấp cho học sinh các kiến thức
về từ, câu. Chính những kiến thức đó là tiền đề cho học sinh có thể học giờ Tập
đọc được tốt hơn.
Chẳng hạn như các ngữ liệu ở phần nhận xét của phân môn Luyện từ và
câu thường được rút ra từ những bài Tập đọc mà học sinh đã học. Cụ thể trong
bài Dấu hai chấm (trang 22 SGK, Tiếng Việt 4, tập 1) ở phần nhận xét đã lấy hai
câu trong bài Tập đọc “ Dế Mèn bênh vực kẻ yếu ” làm ngữ liệu để học sinh
phân tích:
“Tôi xòe cả hai càng ra bảo Nhà Trò:
- Em đừng sợ hãy trở về cùng với tôi đây”.
Ngược lại khi dạy Tập đọc giáo viên cũng cần tận dụng những kiến thức
mà học sinh đã được cung cấp trong phân môn Luyện từ và câu.
Ví dụ: dạy bài Tập đọc “ Tre Việt Nam” Tiếng Việt 4, tuần 4, có câu hỏi
1: “ hình ảnh nào của tre gợi lên những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt
Nam? (cần cù, đoàn kết, ngay thẳng). Để học sinh trả lời được câu hỏi này thì

thống, phân loại, hình thành giúp các em có thêm công cụ để tư duy, để khám
phá những giá trị mới mẻ của vốn từ Tiếng Việt, tự nhân vốn từ của mình lên
thông qua các hoạt động giao tiếp và vận dụng vào giờ Kể chuyện hiệu quả.
Tuy nhiên để định hướng nhận thức cho học sinh, giáo viên có thể trong
giờ Luyện từ và câu gợi ý cho học sinh lựa chọn từ ngữ khi kể chuyện sao cho
phù hợp với tính cách từng nhân vật. Ví dụ trong tiết Luyện từ và câu tuần 2 kì
2 lớp 4 bài Mở rộng vốn từ: Nhân hậu – đoàn kết có các từ ngữ cần cung cấp
cho học sinh là: nhân hậu, yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ, nhân đức, nhân từ,
nhân ái… Giáo viên có thể lấy ngữ cảnh trong truyện kể Nàng tiên Ốc mà học
sinh được học ngay trong tuần đó rồi yêu cầu học sinh tìm các từ có thể nói về
phẩm chất của bà lão, của nàng tiên Ốc. Thao tác này sẽ giúp học sinh biết cách
lựa chọn từ ngữ để kể về bà lão nhân hậu , về nàng tiên Ốc xinh đẹp cần cù, biết
yêu thương và giúp đỡ người khác.
Ngược lại, Kể chuyện rèn kĩ năng sản sinh văn bản nói cho học sinh
thông qua việc tiếp nhận và sử dụng kết quả học tập của Luyện từ và câu. Đối
với việc học từ, Kể chuyện là nơi để học sinh luyện tập các kĩ năng sử dụng và
vận dụng những kiến thức về Tiếng Việt vào thực tiễn. Chẳng hạn, trong chủ
điểm : “ Những người quả cảm ”, sau khi các em đã được học tiết Luyện từ và
câu “ Mở rộng vốn từ: Dũng cảm” , các em có thêm vốn từ thuộc chủ điểm
Dũng cảm, từ đó các em có đủ vốn từ để học tiết Kể chuyện, như: “ kể lại một
câu chuyện về lòng dũng cảm mà em đã được chứng kiến hoặc tham gia”. Hay
khi học bài kể chuyện Đôi cánh của con ngựa trắng, giáo viên lưu ý học sinh
mưốn đóng vai con ngựa để kể thì có nghĩa là em đã sử dụng biện pháp nhân
hóa mà ở đây hình ảnh con ngựa được nhân hóa như của con người (hoạt động,
lời nói, cử chỉ…). Như vậy, thông qua việc kể chuyện, giáo viên đã giúp học
sinh liên hệ lại với vốn kiến thức đã học làm cho giờ kể chuyện thêm hay và hấp
dẫn hơn.

Trần Thị Tâm - k34B GDTH


viết đúng bài chính tả này, khi dạy, giáo viên hướng dẫn các em ôn tập lại kiến
thức như: dấu chấm, dấu phảy, dấu hai chấm và quy tắc viết các danh từ chỉ tên
riêng nước ngoài bằng cách đặt ra các câu hỏi về cách sử dụng các dấu câu : sau
dấu phảy, dấu hai chấm các em có viết hoa hay không?; khi viết tên riêng nước
ngoài các em cần chú ý điiều gì?...tất cả các câu hỏi đó giúp các em nhớ lại kiến
thức đã học trong các tiết Luyện từ và câu. Và ngược lại, khi viết thành thạo các
quy tắc chính tả, học sinh nhớ lâu hơn các kiến thức về Luyện từ và câu.

Trần Thị Tâm - k34B GDTH

16


Khóa luận tốt nghiệp
Như vậy, quan điểm tích hợp được áp dụng vào dạy học sẽ tạo ra nhiều ưu
điểm như làm cho giờ học sôi nổi hơn, kiến thức truyền thụ được sâu, rộng hơn,
học sinh rèn luyện được tính tích cực, tự lực, sáng tạo.
2. Dạy học Luyện từ và câu trong mối quan hệ hàng dọc
Tích hợp dọc là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới những
kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm. Như vậy giữa
các kiến thức, kĩ năng có những mối liên hệ, quan hệ hệ thống nhất định.
2.1.1 Khái niệm hệ thống .
Theo cách hiểu chung, hệ thống là một thể thống nhất bao gồm các yếu tố có
quan hệ và liên hệ lẫn nhau. Mỗi đối tượng trọn vẹn là một hệ thống, chẳng hạn:
một cái cây, một con vật, một gia đình... Nói đến hệ thống, cần phải có hai điều
kiện:
a) Tập hợp các yếu tố.
b) Những mối quan hệ và liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố đó.
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo “tính hệ thống” của từ, câu trong dạy học Luyện từ
và câu.

Ví dụ: Khi dạy bài Luyện từ và câu Cấu tạo của tiếng , tiết 1– Tiếng Việt
4, tập 2, tuần 1. Giáo viên hình thành cho học sinh kiến thức về cấu tạo tiếng
(bao gồm những bộ phận nào? Nhận xét về thanh và vần của tiếng?); để làm
được điều đó, thông qua các bài tập 1, 2, 3, 4 phần nhận xét giáo viên giúp học
sinh nắm chắc cách nhận diện tiếng, cách đánh vần, cách phân tích cấu tạo của
tiếng và qua đó rút ra bài học cần thiết như trong phần ghi nhớ. Đến tiết dạy
Luyện từ và câu thứ hai trong tuần “Luyện tập về cấu tạo của tiếng” , giáo viên
yêu cầu học sinh nhắc lại xem “tiếng có cấu tạo như thế nào?”, dựa vào kiến
thức bài Luyện từ và câu trước, học sinh dễ dàng trả lời được là do ba bộ phận (
âm đầu, vần và thanh). Hay giáo viên đưa ra hệ thống các câu hỏi dẫn dắt, gợi
mở để học sinh nhớ lại kiến thức bài học trước từ đó các em vận dụng làm đúng
các bài tập phần luyện tập (bài tập 2,3,4) , và tiếp tục mạch kiến thức đã học, các
em biết vận dụng chúng vào cuộc sống hằng ngày( bài tập 5: giải câu đố).
2.2.2 Tích hợp dọc trong cùng một phân môn Luyện từ và câu nhưng khác
khối (lớp).
Đây là kiểu tích hợp theo chiều dọc từ dưới lên : giảng dạy theo quan
điểm tích hợp này giúp học sinh củng cố, hệ thống lại kiến thức có liên quan với
Trần Thị Tâm - k34B GDTH

18


Khóa luận tốt nghiệp
nhau từ các lớp dưới lên, nhằm khắc sâu, mở rộng, cung cấp thêm kiến thức cao
hơn dựa trên những kiến thức đã học ở lớp dưới.
Ví dụ: Ở lớp 3 tuần 2 có bài Mở rộng vốn từ Thiếu nhi thuộc chủ đề Măng
non, bài học cung cấp cho học sinh vốn từ về đức tính tốt đẹp của thiếu nhi như:
ngoan ngoãn, lễ phép… Tiếp tục chủ đề này thì tới chủ đề Măng mọc thẳng lớp
4 tuần 5 và 6 có bài Mở rộng vốn từ Trung thực – Tự trọng, bài cung cấp cho
học sinh vốn từ về các đức tính, phẩm chất tốt đẹp của con người như: tính thật

bài 15 – Thành phố Hà Nội, bài 16 – Thành phố Hải Phòng, bài 21 – Thành phố
Hồ Chí Minh, bài 22 – Thành phố Cần Thơ ) . Ở câu b) học sinh cũng chỉ có thể
đưa ra một đáp án đúng đó là : Bắc Ninh là quê hương của làn điệu quan họ, vì
các em đã được biết đến điều này qua bài 12 Địa lí 4 : “Người dân ở đồng bằng
Bắc Bộ” .
CHƯƠNG 3
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
1. Mục đích thực nghiệm.
Trên cơ sở những nội dung đã đề xuất ở trên,chúng tôi đã tiến hành thực
nghiệm sư phạm nhằm mục đích: đánh giá khả năng học tập của học sinh thông
qua bài học Luyện từ và câu được giảng dạy theo quan điểm tích hợp, đồng thời
khẳng định vai trò của quan điểm dạy học này đối với học sinh Tiểu học, từ đó
tìm ra cách thức vận dụng nó trong dạy học Luyện từ và câu sao cho hiệu quả
nhất và đánh giá đúng đắn giả thiết khoa học của khóa luận.
2. Đối tượng và cách thức thực nghiệm
2.1.Đối tượng thực nghiệm: học sinh 2 lớp: 4Avà 4B trường Tiểu học Uy Nỗ,
thị trấn Đông Anh, Hà Nội.
2.2.Cách thức thực nghiệm gồm 2 bước : khảo sát thực nghiệm và thực nghiệm
kiểm chứng.
2.2.1.Khảo sát thực nghiệm.
Chương trình khảo sát được thực hiện thông qua phần kiểm tra bài cũ, ôn tập,
củng cố lại kiến thức cũ để tiếp thu kiến thức mới.
2.2.2.Thực nghiệm kiểm chứng.
Chuẩn bị giáo án 2 tiết dạy Luyện từ và câu nhờ sự giúp đỡ giảng dạy của
2 cô giáo Nguyễn Thị Khuyên – chủ nhiệm lớp 4A và cô Nguyễn Anh Thư –
chủ nhiệm lớp 4B, mỗi cô dạy một tiết thực nghiệm và một tiết đối chứng. Sau
đó nhận xét và tổng kết những mặt đạt và chưa đạt khi vận dụng giảng dạy quan
điểm này.
Trần Thị Tâm - k34B GDTH


các bài tập trong SGK chứ chưa quan tâm đúng mức tới việc bổ sung các câu hỏi
gợi ý, các bài tập dẫn dắt nên học sinh lúng túng khi thực hiện các bài tập trong
SGK.

Trần Thị Tâm - k34B GDTH

21


Khóa luận tốt nghiệp

Kết luận
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Do
đó việc cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về từ, câu một cách khoa
học, có hệ thống là đặc biệt quan trọng. Phân môn Luyện từ và câu chú trọng
đến tính thực hành giao tiếp, dạy từ và câu thông qua các tình huống giao tiếp.
Chính vì vậy để nâng cao chất lượng dạy học Luyện từ và câu thì việc vận dụng
các phương pháp dạy học tích cực là thực sự cần thiết.
Nghiên cứu đề tài : “Dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 theo
quan điểm tích hợp” tôi nhận thấy nghiên cứu đề tài này thực sự cần thiết. Đề tài
của tôi đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của quan điểm dạy học tích hợp nói
chung và dạy Luyện từ và câu nói riêng. Qua quá trình nghiên cứu đề tài, đi vào
tìm hiểu thực tế việc dạy và học tại trường Tiểu học, tôi nhận thấy phương pháp
dạy học theo quan điểm tích hợp không chỉ đơn thuần áp dụng vào giảng dạy
Luyện từ và câu mà còn có thể áp dụng vào tất cả các phân môn Tiếng Việt cũng
như các bộ môn khoa học nói chung. Nếu như giáo viên tổ chức thành công hình
thức dạy học này cho học sinh trong giờ học Luyện từ và câu, thì học sinh không
chỉ tìm ra kiến thức của bài học một cách chủ động mà các em còn nắm vững ,
hiểu sâu, nhớ lâu những tri thức đã lĩnh hội được. Thông qua đó, các em được
rèn luyện khả năng tư duy, trí nhớ và biết vận dụng linh hoạt tri thức vào các

5. Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga- Phương pháp dạy và học Tiếng Việt ở
Tiểu học- NXB GD, NXB ĐHSP.
6. Đỗ Thị Kim Oanh - Phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp trong
dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5- khóa luận tốt nghiệp- Đại học sư phạm
Hà Nội2, 2010.
7. Nghiêm Thị Phượng - Dạy học Tập đọc theo quan điểm tích hợp- Khóa
luận tốt nghiệp - Đại học sư phạm Hà Nội 2, 2010.
8. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)- Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 2,3,4,5NXB GD.
9. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) - Tiếng Việt 2, 3, 4, 5, SGK, SGV, VBT,
NXB GD, 2006.
10. PGS.TS Nguyễn Trí - Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo
chương trình mới - NXB GD.
12. Tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống - Tìm hiểu chương trình và SGK Ngữ văn ở
THPT– NXB Giáo dục, 2006.
13. Xavier roegiers - Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển
các năng lực ở nhà trường, NXB GD, 1996.

Trần Thị Tâm - k34B GDTH

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status