Dạy học các bài ngữ cảnh và nghĩa của câu cho học sinh lớp 11 theo quan điểm tích hợp - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ THU

DẠY HỌC CÁC BÀI „„NGỮ CẢNH” VÀ „„NGHĨA CỦA CÂU‟‟
CHO HỌC SINH LỚP 11 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. Đỗ Việt Hùng


HÀ NỘI – 2015


LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt
tới GS. TS Đỗ Việt Hùng – người thầy đáng kính, đã tận tình hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐH Giáo Dục – Đại
học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường THPT
Yên Phong số 1, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã tạo mọi điều kiện giúp
đỡ tôi trong thời gian làm luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn người thân trong gia đình, bạn bè
đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Dù đã rất cố gắng và nghiêm túc trong quá trình thực hiện đề tài song
không khỏi có những ngộ nhận, thiếu sót do hạn chế về thời gian nghiên cứu.

: Phương pháp dạy học

THCS

: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

VH

: Văn học

ii


MỤC LỤC
Lời cảm ơn ......................................................................................................... i
Danh mu ̣c chữ viế t tắ t ....................................................................................... ii
Mục lục............................................................................................................. iii
Danh mu ̣c bảng.................................................................................................. v
Danh mu ̣c biể u đồ ............................................................................................ vi
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN..................................... 12
1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................. 12
1.1.1. Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp ............................................... 12
1.1.2. Các cách dạy học tích hợp .................................................................... 15
1.1.3. Sự cần thiết của dạy học tích hợp ......................................................... 17
1.1.4. Tích hợp trong chương trình Ngữ Văn lớp 11 THPT ........................... 17

3.3.1. Nội dung thực nghiệm ........................................................................... 74
3.3.2. Cách thức tiến hành ............................................................................... 74
3.3.3. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 85
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 93
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 95

iv


DANH MỤC BẢNG
Bảng: 1.1. Đánh giá của giáo viên Ng ữ văn THPT về m ức đô ̣ cầ n thiế t của
viê ̣c vâ ̣n du ̣ng quan điể m tić h hợp vào da ̣y ho ̣c ............................................. 22
Bảng: 1.2. Mức đô ̣ th ường xuyên vâ ̣n du ̣ng quan điể m tić h h ợp vào da ̣y ho ̣c
Ngữ văn của GV THPT .................................................................................. 24
Bảng: 1.3. Nguồ n cung cấ p tri thức về tích hợp cho GV THPT.................... 25
Bảng: 1.4. Ứng du ̣ng quan điể m tích h ợp trong sáng kiế n kinh nghiê ̣m của
GV Ngữ văn THPT ........................................................................................ 26
Bảng: 1.5. Mức độ vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học các bài
“Ngữ cảnh” và “Nghĩa của câu” .................................................................... 29
Bảng: 1.6. Mức độ cần thiết của việc vận dụng tích hợp vào dạy học các bài
“Ngữ cảnh” và “Nghĩa của câu” .................................................................... 30
Bảng: 2.1. Mục tiêu dạy học các bài Ngữ cảnh và Nghĩa của câu ................ 39
Bảng: 2.2. Kĩ năng cần rèn luyện qua hệ thống bài tập của bài “Ngữ cảnh” 49
Bảng 2.3. Hệ thống bài tập về ngữ cảnh ........................................................ 51
Bảng: 2.4. Hệ thống bài tập về Nghĩa của câu ............................................... 53
Bảng: 2.5. Ví dụ về chương trình ngoại khoá sau bài học Nghĩa của câu trong
chương trình Tiếng Việt lớp 11 ...................................................................... 61
Bảng: 2.6. Một số nội dung tích hợp trong bài "Ngữ cảnh" và "Nghĩa của câu

luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến
thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn, tạo niềm tin,
niềm vui hứng thú trong học tập. Chương trình THPT môn Ngữ văn năm
2002 do Bộ giáo dục và Đào tạo dự thảo đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp
làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo
khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy (Bộ GD và ĐT), “nguyên tắc
tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học từ Đọc văn, Tiếng Việt
đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt
trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích cực trong chương trình; tích hợp
trong sách giáo khoa; tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và
tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trong các sách đọc
thêm, sách tham khảo” (Bộ GD và ĐT). Thực hiện đổi mới giáo dục, đặc biệt
là đổi mới về phương pháp dạy học theo hướng tích hợp nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục. Tích hợp trong dạy học Tiếng Việt là một phương pháp góp
phần đổi mới phương pháp dạy học nói chung và nâng cao chất lượng dạy học
Ngữ văn nói riêng.

1


1.2. Xuất phát từ vai trò của phân môn Tiếng Việt trong nhà trường
Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp quan trọng, vừa là công cụ để
con người nhận thức tư duy. Trong nhà trường, việc giáo dục ngôn ngữ là hết
sức cần thiết. Tiếng Việt trở thành môn học có vị trí đặc biệt: Nó không chỉ
cung cấp những kiến thức và kĩ năng cơ bản về tiếng Việt để phát triển khả
năng giao tiếp cho học sinh, mà còn trang bị cho các em một công cụ thiết yếu
để học tốt các môn khoa học khác. Tiếng Việt còn là phương tiện để lưu trữ
và bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc. Qua môn tiếng Việt các thế hệ thanh
niên, học sinh sẽ hiểu được văn hóa của người Việt, thiên hướng tư duy của
người Việt, lịch sử của tiếng Việt trong mối quan hệ chiều sâu với văn hóa…

Để dạy và học đọc văn, không chỉ dựa vào những kiến thức lịch sử với lí luận
văn học mà còn phải trang bị cho HS các kiến thức Việt ngữ với tất cả các
đơn vị và cấp độ ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, đoạn văn, văn
bản. Chính những đơn vị ngôn ngữ này tạo nên thế giới hình tượng của tác
phẩm văn học” [23, Tr. 24].
Như vậy việc dạy tiếng Việt theo chương trình và quan điểm mới của
Bộ giáo dục và Đào tạo không chỉ góp phần quan trọng trong việc hướng dẫn
học sinh đọc tìm hiểu các tác phẩm văn học mà hơn thế nó còn có ý nghĩa
quan trọng trong quá trình giao tiếp, phát triển ngôn ngữ của các em.
1.3. Xuất phát từ vai trò của Ngữ cảnh và nghĩa trong học tập, đời sống
Trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ, điều kiện mang tính tiên
quyết nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp là người phát phải sử dụng ngôn ngữ
để truyền tải đầy đủ nội dung giao tiếp, người nhận phải lĩnh hội trọn vẹn nội
dung mà người phát đã phát. Muốn như thế, cả người phát và người nhận
đồng thời phải nắm chắc, hiểu rõ, hiểu đầy đủ về ngữ cảnh cũng như nghĩa
của văn bản, phát ngôn được phát ra.
Trong phân tích văn bản, diễn ngôn, ngữ cảnh quy định đến việc xác
định cái được nói ra. Song nghĩa của phát ngôn lại vượt ra ngoài những gì
thực tế được nói ra (Nó bao gồm cả nghĩa tường minh và nghĩa hàm ý). Vì
3


vậy Ngữ cảnh có vai trò rất quan trọng trong việc xác định bộ phận nghĩa này
của phát ngôn.
Trong xã hội bùng nổ thông tin như ngày nay, giáo dục không chỉ đơn
thuần còn là truyền và nhận thông tin, mà quan trọng hơn là phải biết lựa
chọn, sàng lọc, hiểu đúng, hiểu trúng nội dung thông tin được cung cấp. Quan
điểm dạy học đang thay đổi theo hướng phát triển tính tích cực chủ động của
người học. Quá trình dạy học phải tác động đến các kĩ năng mềm cho người
học, các kĩ năng góp phân hình thành và giải quyết các vấn đề ngoài cuộc

quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới.
Trên thế giới, tại “Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học” được
tổ chức năm 1968 tại Varna (Bungari), vấn đề dạy học tích hợp và vì sao phải
dạy học tích hợp được đưa ra để thảo luận, nghiên cứu. Theo đó, hội nghị đưa
ra định nghĩa dạy học tích hợp các khoa học “là cách trình bày các khái nệm
và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng
khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm giữa các lĩnh vực khoa học
khác nhau”. Định nghĩa trên cho thấy dạy học tích hợp xuất phát từ quan niệm
về quá trình học tập hình thành ở học sinh những năng lực ở trình độ cao, đáp
ứng yêu cầu của xã hội. Quá trình dạy học tích hợp bao gồm những hoạt động
tích hợp giúp học sinh biết cách phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác
một cách có hệ thống. Như vậy, có thể hiểu tích hợp bao hàm cả nội dung và
hoạt động.
Tác giả De Ketelle thì cho rằng dạy học tích hợp xoay quanh khái niệm
mục tiêu tích hợp là kết quả của toàn bộ quá trình học tập của một số năm
học. Mục tiêu tích hợp được thể nghiệm trong một tình huống tích hợp đề
xuất với học sinh.
Tại Australia, các nhà nghiên cứu đưa ra các tiêu chí quan trọng của
dạy học tích hợp, bao gồm: việc học và nghiên cứu các môn học khác nhau,
có thời khóa biểu linh động, giáo viên giảng dạy theo nhóm, quá trình học lấy
học sinh làm trung tâm, có sự tương tác về trình độ giữa học sinh với học
sinh, giữa học sinh với giáo viên và giữa giáo viên với nhau. Ở một số nước
khác như: Trung Quốc, Malaixia, Pháp, Đức, quan điểm tích hợp cũng được
5


thể hiện khá rõ. Với quan điểm này, nhìn chung cách cấu tạo một bài học
trong SGK ở nhiều nước có sự thống nhất ở chỗ: mỗi bài học đều bắt đầu
bằng việc cung cấp một văn bản theo cụm thể loại hoặc phương thức biểu đạt;
tiếp đó, phần hướng dẫn đọc và giải thích văn bản không chỉ yêu cầu học sinh

Tác giả Đoàn Thị Kim Nhung trong Phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường
THCS đã đưa ra cơ sở lý luận để áp dụng tích hợp vào dạy học Ngữ văn và
phương pháp dạy Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn theo hướng tích hợp.
Trong bộ sách Thiết kế dạy học Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp; Bài tập
rèn luyện kĩ năng tích hợp Ngữ văn THCS của Trương Dĩnh đã nêu lên những
phương diện tích hợp trong dạy học Ngữ văn, năng lực tích hợp, kiểu văn bản
tích hợp, phương pháp tích hợp, tích hợp và hiệu quả dạy học tích hợp. Ngoài
ra còn có rất nhiều bài viết của các tác giả như Trần Bá Hoành, Đỗ Chu Ngọc,
Nguyễn Khắc Phi, Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử trên các báo và tạp chí, ở
đó các tác giả đã trình bày các quan niệm về tích hợp, các hướng tích hợp
trong chương trình và SGK Ngữ văn về việc triển khai các nội dung dạy học
theo quan điểm tích hợp. Đây là những gợi ý rất tốt để triển khai những
nghiên cứu cụ thể cho các phương diện của để tài.
2.2. Những nghiên cứu về việc dạy học Tiếng Việt ở trường phổ thông
Chương trình giáo dục THPT hiện hành đã tích hợp ba phân môn: văn
học, làm văn và tiếng Việt trước đây thành bộ môn duy nhất: Ngữ văn. Trên
quan điểm dạy học tích hợp ở ba phân môn này, nhiều công trình nghiên cứu
về phương pháp dạy học tích hợp bộ môn Ngữ văn nói chung và phương pháp
dạy học tiếng Việt nói riêng ở nhà trường phổ thông đã có những thành tựu
đáng kể.
Trước tiên phải kể đến một số công trình như: Dạy học ngữ pháp ở tiểu
học của tác giả Lê Phương Nga; Phương pháp dạy học tiếng Việt (2 tập) do
nhóm tác giả Lê A, Thành Thị Yên Mĩ, Lê Phương Nga biên soạn và cuốn
Phương pháp dạy học tiếng Việt (Lê A chủ biên). Trong các công trình nghiên
cứu trên, các tác giả đã cung cấp cho chúng ta những vấn đề cơ bản của lí
luận dạy tiếng như: đối tượng, nhiệm vụ của phương pháp dạy học tiếng Việt,
các nguyên tắc dạy học tiếng Việt, cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây
7





phẩm, vận dụng một cách thành thạo để nghe hiểu, đọc hiểu, nói đúng và viết
đúng” [16;Tr.134]…
Như vậy, qua các công trình và tài liệu nghiên cứu về dạy học tích hợp
nói chung và phương pháp dạy học tiếng Việt nói riêng, có thể thấy các tác
giả đã chú ý phân tích về vai trò, nguyên tắc và phương pháp dạy học tích hợp
cũng như dạy học tiếng Việt. Nhưng vấn đề vận dụng vận dụng quan điểm
tích hợp để dạy học tiếng Việt, đặc biệt là dạy học về Ngữ cảnh và nghĩa của
câu giúp học sinh hình thành một vốn kiến thức để có thể lĩnh hội, đọc hiểu
các tác phẩm văn chương trong nhà trường và vận dụng vào thực tế cuộc sống
thì chưa có tài liệu nào chuyên sâu.
Trong luận văn này, chúng tôi kế thừa những kết quả nghiên cứu nói
trên và đưa ra một số giải pháp cho việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy
học bài “Ngữ cảnh và Nghĩa của câu” ở khối 11 trường THPT.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết tích hợp và tìm hiểu, đánh giá thực
trạng dạy học bài Ngữ cảnh, Nghĩa của câu ở khối 11 trường THPT theo quan
điểm tích hợp, luận văn đề xuất một số biện pháp dạy học bài Ngữ cảnh,
Nghĩa của câu ở khối 11 trường THPT theo quan điểm tích hợp góp phần giúp
giáo viên có được những định hướng cần thiết để triển khai giờ học có hiệu
quả, đáp ứng được những yêu cầu tích hợp của chương trình và SGK. Đồng
thời nâng cao hiệu quả học tập tiếng Việt, nâng cao năng lực giao tiếp, góp
phần hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Dạy học tích hợp
- Phạm vi nghiên cứu: Chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 (Ban cơ
bản)
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau:

quan trọng trong quy trình.
7. Giả thuyết nghiên cứu

10


Nếu vận dụng có hiệu quả quan điểm tích hợp vào dạy học các bài
“Ngữ cảnh và Nghĩa của câu” sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của
tiết học nói riêng, khả năng lĩnh hội, cảm thụ tác phẩm văn học, khả năng giao
tiếp ngoài thực tế cuộc sống của học sinh nói chung.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học các bài Ngữ
cành và Nghĩa của câu ở khối 11 trường THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

11


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp
Tích hợp là một cách tiếp cận khoa học, tích hợp ban đầu có tên gọi là:
Liên hệ (permeatition), kết hợp (Combination), phối hợp (coordination), tích
hợp (integration). Quan điểm tích hợp xuất phát từ cách nhìn nhận thế giới tự
nhiên, xã hội và con người như một chỉnh thể thống nhất, nó đối lập với cách
nhìn chia tách, rạch ròi đối với sự vật, hiện tượng trong hiện thực. Có nhiều
cách nhìn nhận và nghiên cứu vấn đề tích hợp từ góc độ khác nhau.

nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm giữa
các lĩnh vực khoa học khác nhau. Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận
khái niệm và nguyên lí khoa học chứ không phải là hợp nhất nội dung.
Quan điể m tić h hơ ̣p trong da ̣y ho ̣c thường đươ ̣c thể hiê ̣
cạnh sau:
- Tích hợp nhiều kĩ năng trong một môn học.

n ở các khiá

- Tích hợp kiến thức các môn học khác nhau qua môn học đang dạy
- Tích hợp chương trình chính khóa và ngoại khóa.
- Tích hợp kiến thức lí thuyết và thực tiễn.
- Tích hợp những kiến thức , kĩ năng, thái độ cần được dạy trong tất cả
các môn học, bao gồ m khả năng sử du ̣ng ngôn ngữ, tình cảm với gia đình, quê
hương, đấ t nước, những hiể u biế t cơ bản về môi trường , khoa ho ̣c, năng lực
suy nghi ̃ và năng lực tìm tòi, nghiên cứu…
Với những khía ca ̣nh trên , dạy học tích hợp là hoạt động dạy học đòi
hỏi nhiều sự đầu tư của GV cho mỗi bài dạy

, không chỉ về kiế n thức , về

phương pháp mà còn cả về ho ạt động tìm hiểu HS . GV cầ n biế t HS đã đươ ̣c
trang bi ̣những kiế n thức gì trước khi ho ̣c mô ̣t bài cu ̣ thể , HS cầ n đươ ̣c ho ̣c cái
gì trong bài học này, làm thế nào để HS có thể hứng thú với kiến thức mới ấy ,
PP GV đưa ra có phù hợp với đối tượng HS chưa…
Về mă ̣t nô ̣i dung , dạy học tích hợp cần bắt đầu từ việc dạy những kiến
thức cơ bản nhấ t và hữu du ̣ng nhấ t. Kiế n thức dù ở thời đa ̣i nào cũng sẽ nhanh
chóng trở nên lạc hậu nếu không đượ c thường xuyên bổ sung câ ̣p nhâ ̣t , trong

13

Như vậy, trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các đối
tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự
thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học
tốt nhất. Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc,
tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh
14


hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống. Luâ ̣n văn lấy quan điểm
này làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm.
1.1.2. Các cách dạy học tích hợp
Trong quá trình học tập, học sinh có thể được học lần lượt những môn
học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng học sinh
phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thống và
trong phạm vi từng môn học cũng như các môn học khác nhau. Thông tin
càng đa dạng, phong phú, tính hệ thống càng phải cao, có như vậy, các em
mới thật sự làm chủ được kiến thức và vận dụng được kiến thức đã học trong
những tình huống cụ thể của cuộc sống. Vì thế, cần phải thấy được vai trò của
môn học và những tương tác của môn học khác nhau. Theo d’Hainaut (1977),
có 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học:
Quan điểm đơn môn: Có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ
thống nội dung của mỗi môn học riêng biệt. Các môn học được tiếp cận một
cách riêng rẽ.
Quan điểm đa môn: Một chủ đề trong nội dung học tập có liên quan
đến kiến thức, kĩ năng thuộc một số môn học khác nhau. Các môn học tiếp tục
được tiếp cận một cách riêng rẽ, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài, nội
dung.
Quan điểm liên môn: Nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi
vấn đề, tình huống, đòi hỏi muốn giải quyết học sinh phải huy động tổng hợp
kiến thức, kĩ năng của những môn học khác nhau.

Ví dụ: bài Tập đọc tích hợp các kiến thức về lịch sử, địa lý, khoa học,
văn học, giáo dục nhân cách.
+ Cách 4: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng
các tình huống tích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm
môn, tạo thành môn học tích hợp. Cách tích hợp này được tiến hành trên cơ
sở đề xuất các mục tiêu chung cho nhiều môn học. Những mục tiêu này gọi là
mục tiêu tích hợp.
Ví dụ: Môn Khoa học tự nhiên và xã hội tích hợp các kiến thức về con
người và sức khỏe, gia đình và nhà trường với môi trường xã hội.
16


1.1.3. Sự cần thiết của dạy học tích hợp
- Dạy học tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn
học tập với cuộc sống hàng ngày, vận dụng các kiến thức học được để xử lí
các tình huống cụ thể, những tình huống có ý nghĩa, hòa nhập thế giới học
đường với cuộc sống.
- Dạy học tích hợp giúp phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn.
Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho học sinh vận dụng vào xử lí
những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống hoặc nền tảng cho những quá
trình học tập tiếp theo.
- Tạo tính liên kết, mối quan hệ hữu cơ của chương trình môn học.
- Liên kết các nội dung kiến thức có những điểm liên quan, tương đồng
với các bài đã học trong cùng phân môn.
- Xác lập mối liên hệ những nội dung kiến thức của các bộ môn khác,
phân môn khác để làm phương tiện, công cụ khai thác.
- Trong thực tế nhà trường, có nhiều điều chúng ta dạy cho học sinh
nhưng không thật sự có ích, ngược lại có những năng lực cơ bản lại không
được dành đủ thời gian. Như vậy, thay vì nhồi nhét cho học sinh nhiều kiến
thức lí thuyết, dạy học tích hợp chú trọng tập dượt cho học sinh vận dụng các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status