Rèn luyện thao tác lập luận so sánh cho học sinh lớp 11 theo quan điểm tích hợp và tích cực - Pdf 83


Đại học Thái Nguyên
TRNG Đại học S phạm
-------------------------------
đOàN THị THUỳ DƯƠNG

RèN LUYệN THAO TáC LậP LUậN SO SáNH
CHO HọC SINH LớP 11 THEO QUAN ĐIểM TíCH HợP
Và TíCH CựC

l
l
u
u


n
nv
v
h
h


c
cg
g
i
i
á
á
o
od
d


c
c




n
nv
v
ă
ă
n
nt
t
h
h


c
cs
s
ĩ
ĩ


c
c
Ngi hng dn khoa hc: GS.TS. lÊ A Thái Nguyên - 2008

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết đưa ra những lí lẽ, dẫn
chứng về một vấn đề nào đấy và thông qua cách thức bàn luận mà làm cho
người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo
những gì mình đề xuất. Chính vì thế, văn nghị luận Việt Nam đã hình thành
từ xa xưa cùng với sự phát triển của tư tưởng và văn hoá giáo dục của dân tộc.
Nó là phương tiện đắc lực giúp vào quá trình phát triển ấy.
Trong nhà trường, việc rèn luyện viết văn nghị luận là yêu cầu rất trọng
yếu trong quá trình học tập. Văn nghị luận giúp cho học sinh tập vận dụng

này với mong muốn phần nào giúp cho người giáo viên bớt đi những khó
khăn, lúng túng khi rèn luyện cho học sinh: “Thao tác lập luận so sánh” trong
SGK (sách giáo khoa) Ngữ văn 11.
Với những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Rèn luyện thao tác lập
luận so sánh cho học sinh lớp 11 theo quan điểm tích hợp và tích cực”.
2. Lịch sử vấn đề
So sánh là một thao tác của hoạt động tư duy lôgíc nhằm giúp con
người tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt khi đưa đối tượng này ra
đối chiếu với đối tượng khác dựa trên một tiêu chí nào đó, từ đó nhận thức
sâu sắc và làm nổi bật đối tượng.
Cuốn “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê (chủ biên) đã đưa ra cách
hiểu về so sánh là:“nhìn vào cái này để thấy cái kia, để thấy sự giống và
khác nhau hoặc sự hơn kém” [30, tr.861]. Cuốn “Phong cách học Tiếng Việt
hiện đại” của tác giả Hữu Đạt cũng đưa ra khái niệm so sánh là việc “đặt hai
hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra sự
giống và khác nhau giữa chúng”[13, tr.294]. Cuốn “Giáo trình tâm lí học đại

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
cương”, tác giả Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên) đã đưa ra cách hiểu về so sánh
“là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng
nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối
tượng nhận thức (sự vật, hiện tượng)”[49, tr.116]. Như vậy, cách hiểu về so
sánh của “Từ điển Tiếng Việt”, của tác giả Hữu Đạt và của giáo trình tâm lí
học đại cương đều có quan điểm chung về so sánh là để thấy sự giống và khác
nhau của các sự vật, hiện tượng, từ đó thấy rõ đặc điểm và giá trị của mỗi sự
vật, hiện tượng.
Cuốn “Lôgic học” của tác giả Phan Trọng Hoà tuy không trực tiếp bàn
về so sánh, nhưng đã bàn đến việc đem so sánh các sự vật, hiện tượng với
nhau mà hình thành các phán đoán, nhận xét. Chẳng hạn, để hình thành khái

một trong những cách thức vận dụng kĩ năng thuyết lí là “phương pháp lấy
vật làm sáng tỏ lí bằng so sánh”, “phương pháp minh hoạ hình tượng bằng
so sánh”. Từ đó tác giả khẳng định rằng việc so sánh các đối tượng không
phải tuỳ tiện mà phải tuân theo một nguyên tắc: lấy những đặc tính này của
một hiện tượng để so với một đặc trưng cùng loại của một hiện tượng khác.
Bằng cách này để trình bày lí lẽ làm cho cái lí trình bày được sáng sủa, sinh
động và giàu hình ảnh [46,tr.221].
Cùng quan điểm với tác giả Nguyễn Quốc Siêu, tác giả Bảo Quyến
trong cuốn “Rèn kĩ năng làm văn nghị luận” cũng cho rằng nói tới so sánh là
nói tới“thao tác đối chiếu nhằm tìm ra cái chung và sự khác biệt giữa các đối
tượng, các vấn đề” [32,tr.14]. Như vậy, tác giả đã diễn giải một cách tường
minh bản chất của so sánh là thao tác đối chiếu các sự vật, hiện tượng. Đem
đối chiếu để từ đó thấy được chân lí của luận điểm hoặc làm nổi bật luận điểm
trong quá trình lập luận. Và tác giả cũng chỉ ra rõ nét tác dụng to lớn của lập
luận so sánh là: “nhấn mạnh những nét độc đáo, đặc sắc trong ý kiến của
mình để tăng thêm sức hấp dẫn, thuyết phục của bài văn” [32, tr.14].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Trong cuốn “Luyện tập cách lập luận trong đoạn văn nghị luận” tác
giả Nguyễn Quang Ninh (chủ biên), Trần Hữu Phong, Nguyễn Thị Ban lại
cho rằng lập luận bằng “so sánh tương đồng là đi từ cái đã biết để suy ra cái
chưa biết, để từ đó thừa nhận cái chưa biết và cái đã biết có những nét tương
tự nhau” [28, tr.66]. Ngược lại, lập luận bằng cách “so sánh tương phản là
cách lập luận theo kiểu đối chiếu đối tượng này với đối tượng khác trong sự
tương phản lẫn nhau nhằm khẳng định một trong hai đối tượng cần hướng
tới”[29, tr.67]. Cách hiểu như vậy về lập luận so sánh của các tác giả có phần
cụ thể hơn về so sánh trong văn nghị luận.
Cũng cách hiểu về so sánh, Sách giáo khoa Làm Văn 12 do Trần Đình
Sử(chủ biên) chương trình CCGD, cũng đưa ra cách luận chứng trong văn

Theo các tác giả, việc chia các kiểu bài chỉ dựa vào các thao tác nghị luận chủ
yếu là chưa thoả đáng. Sự phân chia này giúp học sinh dễ nhận biết bản chất
từng thao tác cụ thể, nhưng lại khiến cho các em có cách hiểu bó hẹp, khiên
cưỡng khi làm văn nghị luận. Bởi trong thực tế không có bài làm văn nghị
luận nào chỉ đơn thuần sử dụng một thao tác lập luận mà nó là sự kết hợp
nhiều thao tác lập luận.
Hiện nay, các tác giả sách giáo khoa Ngữ văn biên soạn đã tách các
thao tác lập luận thành từng bài riêng với mục đích giúp học sinh nắm bản
chất từng thao tác lập luận, từ đó có cách hiểu rộng hơn, sâu hơn về mỗi thao
tác, đồng thời giúp các em vận dụng linh hoạt các thao tác này vào quá trình
viết bài làm văn nghị luận.
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tác giả Lê A- chủ biên phần Làm
văn (bộ cơ bản), Đỗ Ngọc Thống- chủ biên phần Làm văn (bộ nâng cao), đã
thống nhất quan điểm không dựa vào các thao tác lập luận để chia nhỏ văn
bản nghị luận thành nhiều loại: chứng minh, phân tích, bình giảng, bình
luận… và khẳng định mỗi thao tác lập luận có thể sử dụng ở nhiều kiểu bài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
nghị luận khác nhau, và ở một bài nghị luận có thể sử dụng nhiều thao tác lập
luận khác nhau. Thao tác lập luận so sánh không chỉ có mặt trong các kiểu bài
mà thao tác này còn có mối liên hệ mật thiết với các thao tác khác: phân tích,
bác bỏ, bình luận… Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với thực tế viết văn lại
vừa tạo điều kiện để luyện tập cho học sinh biết cách sử dụng thao tác lập
luận trong suốt quá trình học văn nghị luận từ THCS đến THPT và ứng dụng
vào việc học tập cũng như cuộc sống sau này.
Cho đến nay, thao tác lập luận so sánh mới chỉ được đề cập mang tính
định hướng chung trong các sách giáo viên (bộ cơ bản và bộ nâng cao) và
trong tài liệu bồi dưỡng giáo viên lớp 11- môn Ngữ văn, chưa có một công
trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về vấn đề này. Và cũng chưa

luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh, bài làm
văn số 2, 3.. Giới hạn chủ yếu nghiên cứu dạy học thao tác lập luận so sánh
theo sách giáo khoa lớp 11- chương trình chuẩn, có liên hệ với chương trình
sách giáo khoa 11- nâng cao.
5. Các phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài: “Rèn luyện thao tác lập luận so sánh cho học sinh
lớp 11 theo quan điểm tích hợp và tích cực” chúng tôi sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp thống kê
Đây là một trong những phương pháp của toán học. Chúng tôi sử dụng
phương pháp này để xử lí các số liệu thu thập được trong quá trình điều tra
thực nghiệm.
5.2. Phương pháp điều tra khảo sát
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để tìm hiểu việc giảng dạy và học
tập, rèn luyện kĩ năng so sánh trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11. Qua
đó nắm được thực trạng dạy- học Làm văn ở trường THPT. Từ đó nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
đề tài một cách tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Làm văn ở nhà
trường THPT.
5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được thực hiện ở một số phương diện sau:
- Xây dựng cơ sở thực nghiệm sư phạm thông qua các bài thiết kế nội
dung dạy học. Cơ sở thực nghiệm được xác định dựa vào các tri thức về giáo
dục, tâm lý, về trình độ nhận thức của từng đối tượng và căn cứ vào hệ thống
tri thức về thao tác lập luận so sánh trong chương trình Ngữ văn lớp 11.
- Tổ chức thực hiện giảng dạy ở trường phổ thông.
- Thông qua quá trình thực hiện giảng dạy, đánh giá nhận thức của học
sinh từ đó đưa ra một số đề xuất về việc giảng dạy các thao tác lập luận

em tạo lập văn bản nghị luận.
Tiếp nối phần nội dung là phần kết luận của luận văn. Đây chính là nội
dung cuối cùng của luận văn. Trong phần này, chúng tôi khái quát lại hệ
thống vấn đề đã được triển khai trong các phần trên và qua đó chúng tôi trình
bày một số đề xuất cho việc dạy thao tác lập luận so sánh ở sách giáo khoa
Ngữ văn lớp 11. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
SO SÁNH VÀ THAO TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH
TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1.1. SO SÁNH VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT THAO TÁC CỦA TƯ DUY
1.1.1. Khái niệm về thao tác
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì thao tác
được định nghĩa như sau:“thực hiện những động tác nhất định để làm một
việc gì đó trong sản xuất” [30, tr.917].
Trong tâm lí học, thao tác được xem là hệ thống những hành động
trong tư duy. Thao tác chính là cốt lõi của các cách thức hành động bị quy

giai đoạn của một quá trình tư duy bằng sơ đồ dưới đây:
Nhận thức vấn đề
Xuât hiện các liên tưởng

Sàng lọc liên tưởng và hình thành giả thuyết

Kiểm tra giả thuyết

Chính xác hoá Khẳng định Phủ định

Giải quyết vấn đề Hành động tư duy mới
Đây chính là logic của tư duy. Số lượng các giai đoạn có thể không cần
đầy đủ trong những trường hợp nhất định, nhưng thứ tự các giai đoạn phải
tuân thủ theo sơ đồ trên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Tính giai đoạn của tư duy chỉ phản ánh được mặt bên ngoài, cấu trúc
bên ngoài của tư duy, còn nội dung bên trong mỗi giai đoạn của quá trình tư
duy lại là một quá trình phức tạp, diễn ra trên cơ sở của các thao tác tư duy
đặc biệt.
Xét về bản chất, tư duy là một quá trình cá nhân thực hiện các thao tác
trí tuệ để giải quyết vấn đề hay nhiệm vụ được đặt ra. Cá nhân có tư duy hay
không chính là ở chỗ họ có tiến hành các thao tác tư duy trong đầu mình hay
không. Các thao tác tư duy cơ bản để nhận thức thế giới là: phân tích- tổng
hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hoá. Trong đó, các thao tác tư duy
có mối liên hệ mật thiết với nhau, thống nhất với nhau theo một hướng nhất
định, do nhiệm vụ tư duy quy định.
1.1.3. Quan niệm về so sánh trong tư duy lôgic
So sánh vốn là một thao tác cơ bản của tư duy logic. Để tìm hiểu về đối

tách các đối tượng, đặt chúng song song, nghiên cứu kĩ chúng, trên cơ sở dấu
hiệu đặc trưng đã biết của sự vật, hiện tượng, tìm dấu hiệu tương tự với nó ở
sự vật, hiện tượng khác, từ đó tìm ra cái chung, cái riêng của các sự vật, hiện
tượng được so sánh.
Như vậy, cấu trúc của so sánh theo so sánh lôgic thường có hai vế “cái
so sánh” và “cái được so sánh”, có “từ” chỉ quan hệ so sánh. Ngoài ra, trong
so sánh lôgic còn có các tiêu chí so sánh.
Trong so sánh lôgic “cái so sánh” là sự vật, hiện tượng nào đấy có
những dấu hiệu đặc trưng đã biết được đưa ra để làm chuẩn, “cái được so
sánh” là sự vật, hiện tượng chưa biết được đem ra để đối chiếu với những sự
vật, hiện tượng đã biết có những dấu hiệu đó, từ đó tìm ra điểm chung và
điểm riêng, “từ” dùng để so sánh thể hiện quan hệ so sánh thường được diễn
đạt bằng các từ: như, giống như, bằng, hơn, kém…

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Ví dụ câu: “Mặt con tròn giống như mặt mẹ”. Ở ví dụ này so sánh theo
lôgic có “sự vật được so sánh” là “mặt con”, “sự vật so sánh” là “mặt mẹ”,
“từ chỉ quan hệ so sánh”: “như”, tiêu chí được đem ra so sánh là hình dáng
khuôn mặt “tròn”. Cách so sánh như thế giúp người ta hình dung dễ dàng
khuôn mặt con “tròn” giống với khuôn mặt của mẹ.
Theo lôgic học, muốn so sánh được chính xác và tránh khập khiễng thì
trong quá trình so sánh phải dựa trên cùng một tiêu chí, chung một bình diện
thì so sánh mới cụ thể và mới rút ra kết luận được. Ví dụ, trong hóa học khi so
sánh hai loại khí phải lấy tiêu chí phản ứng với chất nào, tác dụng của nó ra
sao, trong sinh học so sánh cây một lá mầm với cây hai lá mầm phải dựa trên
tiêu chí sự sinh trưởng phát triển trong một môi trường nhất định, sự hấp thu
ánh sáng mặt trời…
Như vậy, so sánh trong lôgic có tác động rất lớn tới nhận thức của con
người, nó giúp người ta hình dung ra sự vật một cách dễ dàng hơn bằng việc

niệm, phán đoán, suy lí và hệ thống dẫn chứng nhằm đạt được mục đích khiến
người đọc tin theo. Vậy thao tác lập luận chính là thao tác được sử dụng để
thực hiện một hành động lập luận. Nói cách khác, thao tác lập luận là những
động tác được thực hiện theo trình tự và yêu cầu kĩ thuật được quy định trong
hoạt động lập luận.
Khi lập luận người ta có thể dùng nhiều thao tác: chứng minh, giải
thích, phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận. Các thao tác này học sinh được
học cặn kẽ trong nhà trường từ cấp THCS đến cấp THPT.
1.2.2. Thao tác lập luận so sánh
Trong viết văn nghị luận, người ta thường hay sử dụng thao tác lập luận
so sánh để làm sáng rõ, vững chắc thêm luận điểm của mình. Để hướng tới
kết luận (tức là một luận điểm nào đấy trong bài văn nghị luận: một ý kiến,
một nhận định về đối tượng nghị luận), người ta thường so sánh với một hoặc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
nhiều đối tượng khác trên cơ sở một nét tương đồng nào đấy. Thông qua so
sánh, những đặc điểm tương đồng hoặc khác biệt của đối tượng nghị luận với
đối tượng so sánh được thể hiện bằng sự phân tích, lí giải. Kết quả là, người
đọc, người nghe nắm được, hiểu và công nhận tính đúng đắn của ý kiến, nhận
định ( kết luận của lập luận) mà người viết, người nói hướng tới.
Trong văn nghị luận thường có hai cách lập luận so sánh là: so sánh
tương đồng và so sánh tương phản.
Lập luận bằng cách so sánh tương đồng là cách lập trình bày hệ thống lí
lẽ chặt chẽ, rành mạch bằng cách đối chiếu đối tượng đem ra bàn luận này bên
đối tượng khác, vấn đề này bên vấn đề khác trên cơ sở có chung một số nét
đồng nhất hay tương tự mà người đọc đã hoặc dễ chấp nhận để làm nổi bật
vấn đề cần lập luận, làm cho ý nghĩa của nó thêm bộc lộ rõ nét. Lập luận bằng
so sánh tương đồng không có sự đối lập giữa các ý, trái lại các ý nâng đỡ
nhau, thuyết minh làm sáng rõ nghĩa cho nhau. Ví dụ: “Nếu ví dư luận của

giàu sức thuyết phục.
Thao tác lập luận so sánh trong văn nghị luận về cơ bản gần giống với
thao tác so sánh trong lôgic, tức là đem đối chiếu trong tư tưởng hai hay nhiều
sự vật, hiện tượng hoặc các mặt trong cùng một sự vật hiện tượng để thấy
được sự giống nhau và khác nhau giữa chúng. Và như vậy thao tác lập luận so
sánh cũng có “cái được đem ra so sánh”, “cái so sánh”, tiêu chí so sánh, quan
trọng hơn đó là sự tác động vào nhận thức của con người. Song thao tác lập
luận so sánh thiên về mặt lập luận nhằm làm cho người đọc, người nghe hiểu
sâu sắc hơn về đối tượng bàn luận, dẫn đến một kết luận, một nhận định nào
đấy, tin và tán đồng với kết luận đưa ra. Nói cách khác so sánh trong lập luận
cần phải đi đôi với nhận xét, đánh giá thì sự so sánh đó mới trở nên sâu sắc.
Ngược lại, nhận xét, đánh giá phải dựa trên sự so sánh thì nhận xét đó mới có
cơ sở, có sức thuyết phục.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Ví dụ: “Yêu người, đó là một truyền thống cũ. “Chinh phụ ngâm”,
“Cung oán ngâm khúc” đã nói đến con người. Nhưng dù sao cũng mới bàn
đến một hạng người. Với “Kiều”, Nguyễn Du đã nói đến cả xã hội loài người.
Với “Chiêu hồn” thì cả loài người được bàn đến […]. “Chiêu hồn” con
người trong cái chết. “Chiêu hồn” con người trong từng giới, từng loài, “mười
loài là những loài nào” với những nét cộng đồng phổ biến, điển hình của từng
loài một”[…].
Tôi muốn nói đến bài văn “Chiêu hồn”, một tác phẩm có một không hai
trong nền văn học chúng ta. (Nghĩ mà xem, trước “Chiêu hồn” chưa hề có bài
văn nào đem cái “run rẩy mới” ấy vào văn học. Sau “Chiêu hồn” lại càng
không.) Nếu “Truyện Kiều” nâng cao lịch sử thơ ca thì “Chiêu hồn” đã mở
rộng địa dư của nó qua một vùng xưa nay ít ai động tới: cõi chết [37, tr.79].
Trong ví dụ trên, để thực hiện thao tác lập luận so sánh, tác giả dựa
trên tiêu chí chung về lòng yêu thương người trong văn học Việt Nam, nhưng

nhiều sự vật, hiện tượng hoặc là các mặt trong cùng một sự vật nhưng không
cốt tìm ra cái đồng nhất và khác biệt mà làm sáng tỏ đặc điểm và giá trị của
một sự vật, hiện tượng, ý kiến được đem ra bàn luận. Như vậy so sánh với tư
cách là một thao tác lập luận có giá trị lập luận, tác động vào ý chí của người
đọc người nghe làm cho người đọc, người nghe hiểu, tin, tán đồng với những
ý kiến được đem ra bàn luận. Ví dụ: “Bài ca của Nguyễn Đình Chiểu làm
chúng ta nhớ tới bài Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi. Hai bài văn: hai
cảnh ngộ, hai thời buổi, nhưng một dân tộc. Bài cáo của Nguyễn Trãi là khúc
ca khải hoàn, ca ngợi chiến công oanh liệt chưa từng thấy, biểu dương chiến
thắng làm rạng rỡ nước nhà. Bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca những
người anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang: “Sống đánh giặc, thác cũng
đánh giặc…muôn kiếp nguyện được trả thù kia”. Lập luận so sánh chỉ ra sự

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
khác nhau: một bên là khúc ca khải hoàn, ca ngợi chiến công oanh liệt, biểu
dương chiến thắng; một bên là khúc ca của những người anh hùng thất thế
nhưng vẫn hiên ngang. Lập luận này nhằm làm nổi bật luận điểm đánh giá giá
trị của hai bài văn: hai cảnh ngộ, hai thời buổi nhưng một dân tộc.
1.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA THAO TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH VỚI CÁC
THAO TÁC LẬP LUẬN KHÁC
Trong quá trình làm văn nghị luận, thao tác lập luận so sánh không bao
giờ đứng độc lập, tách biệt mà luôn có sự kết hợp với các thao tác lập luận
khác như: chứng minh, giải thích, phân tích, bác bỏ, bình luận.
1.3.1. Quan hệ với thao tác lập luận chứng minh, giải thích
Để chứng minh một vấn đề ta cần dùng đến lí lẽ và dẫn chứng để minh
hoạ, xác nhận, khẳng định, bênh vực chắc chắn sự đúng đắn của một ý kiến,
một nhận định, một vấn đề. Để làm nổi bật vấn đề trong chứng minh đôi khi
người ta lấy dẫn chứng giống như vấn đề rồi dùng cách so sánh nó với nhau
để dễ nhận biết vấn đề hơn. Tương tự, khi giải thích một vấn đề, người ta

nhân vật làm nổi bật vấn đề cần lập luận: Nguyễn Du đã biến Từ Hải trở
thành một bậc anh hùng xuất chúng.
1.3.2. Quan hệ với thao tác lập luận phân tích
Trong thực tế làm văn hiếm có bài làm văn nào sử dụng một thao tác
lập luận trọn vẹn. Trong một bài văn thường có sự kết hợp các thao tác lập
luận với nhau để bài văn sinh động. Thao tác lập luận phân tích thường kết
hợp với thao tác lập luận so sánh khi làm sáng tỏ vấn đề nào đó bằng lập
luận.Trong quá trình nhận thức của con người, để tìm được sự giống nhau và
khác nhau giữa các đối tượng cần phải tiến hành phân tích đối tượng đó ra
thành từng yếu tố, từng bộ phận rồi mới có thể đem chúng ra để so sánh, để
đánh giá, nhận xét. So sánh giúp cho sự phân tích thêm sáng rõ, dễ tiếp nhận

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
hơn. Phân tích đến lượt mình, lại khiến những nét chung và riêng của các đối
tượng so sánh hiện lên rõ ràng, đầy đủ và rành mạch, nhờ đó bản chất và đặc
điểm của đối tượng trở nên nổi bật hơn.
Ví dụ: “Có những cán bộ, những đảng viên cũ làm được việc, có kinh
nghiệm […]. Nhưng họ lại mắc bệnh khinh lí luận. […]. Có kinh nghiệm mà
không có lí luận, cũng như có một mắt sáng và một mắt mờ. Những anh em
cần phải nghiên cứu thêm lí luận, mới thành cán bộ hoàn toàn. Có những
người xem được sách, xem nhiều sách. Siêng xem sách và xem nhiều sách là
một công việc đáng quý. Như thế khong phải là đã biết lí luận. Lí luận cốt là
để áp dụng vào thực tế. Lí luận mà không được áp dụng vào thực tế là lí luận
suông. Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lí luận, nếu không biết đem
ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách.[…]. Nói tóm lại, mỗi cán
bộ, mỗi đảng viên phải học lí luận, phải đem lí luận áp dụng vào công việc
thực tế. Phải chữa bệnh kém lí luận, khinh lí luận và lí luận suông.[5, tr.384].
Đoạn trích trên đã sử dụng thành công sự kết hợp thao tác lập luận phân
tích và thao tác lập luận so sánh. Tác giả nêu ra căn bệnh “khinh lí luận” của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status