TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN
VŨ THỊ LÝ
SỬ DỤNG Sơ ĐỒ Tư DUY VÀO DẠY
HỌC BÀI THAO TÁC LẬP LUẬN so SÁNH
TRONG SGK NGỮ VAN 11
KHOÁ LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•••
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Ngưòi hướng dẫn khoa học TS. PHẠM KIỀU ANH
HÀ NỘI, 2015
Trong quá trình triển khai đề tài “Sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học bài Thao
tác lập luận so sảnh” trong SGK Ngữ văn 11, em đã thường xuyên nhận được sự
giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, các thầy cô
trong tố Phương pháp dạy học Ngữ văn, đặc biệt là cô giáo hướng dẫn trực tiếp TS. Phạm Kiều Anh.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tói cô giáo Phạm Kiều
LỜI CẲM ƠN
Anh đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tố Phương pháp dạy học Ngữ văn,
Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học
tập, nghiên cứu.
GV
Giáo viên
Nxb
Nhà xuât bản
THPT
Trung học phô thông
[1,38]
Cuôn 1, trang 38 theo tài liệu tham khảo
pp
Phương pháp
PPDH
Phương pháp dạy học
TTLLSS
Thao tác lập luận so sánh
ĐHSP
phân môn này càng được chú ý và chuyên sâu. Mục đích của việc dạy
học phân môn này là: hoàn chỉnh các tri thức về làm văn; nâng cao năng
lực sử dụng từ ngữ ở mức tự giác hơn, chủ động hơn và nâng cao năng
lực tư duy. Mặc dù được dạy ở tất cả các cấp học, bậc học song trên thực
tế, dạy học Làm văn vẫn không dành được nhiều thiện cảm từ cả GV và
5
HS. Bởi lẽ, bản chất của phân môn này là khô khan. Đe các em không
“quay lưng” lại với môn học, GV phải không ngừng sáng tạo, tìm tòi
những những biện pháp mới để tạo hứng thú cho HS.
Sơ đồ tư duy (SĐTD) được sử dụng trong quá trình dạy học là một trong
những phương tiện dạy học hiện đại, gắn liền với đặc điểm nhận thức trong tư duy
con người. Hiện nay, phương tiện dạy học này đã được sử dụng rộng rãi và cũng tạo
ra hiệu quả học tập khá cao. Bởi lẽ nó tạo ra những thuận lợi nhất định cho quá trình
nhận thức và tư duy của học sinh (HS), giúp HS ghi nhớ rất hiệu quả. Không chỉ có
vậy, việc sử dụng SĐTD có khả năng phản ánh dòng chảy tư duy tự nhiên ấy làm
cho việc tiếp thu, ghi nhớ một cách hiệu quả, giảm nhẹ áp lực học tập của người
học. Sử dụng SĐTD vào quá trình dạy học Làm văn nói chung, dạy làm văn nghị
luận nói riêng sẽ giúp cho HS không chỉ biết vận dụng những kiến thức và kỹ năng
cơ bản về hoạt động tạo lập văn bản mà trên cơ sở đó, các em biết khái quát chúng
để rèn luyện nhằm tạo ra năng lực riêng cho bản thân mỗi cá nhân HS.
1.3. “Thao tác lập ỉuận so sảnh” là một nội dung kiến thức mới trong
chương trình Làm văn. Mục đích chính của việc dạy học bài này là hình
thành kiến thức mới về khái niệm so sánh, lập luận so sánh và cách so
sánh. Đe đạt được mục đích đó, GV cần phải truyền đạt những kiến thức
này một cách hiệu quả để HS có thể tiếp nhận và vận dụng. Với kiến thức
trừu tượng về một cách tổ chức lập luận, muốn HS có thể nhận biết về so
sánh, xác định được cách thực hiện nó khi nghị luận, GV cần tìm ra
đó đã đem đến cho người đọc cái nhìn đa chiều, phong phú, sâu rộng về phương tiện
này.Tiêu biểu là các tác giả Bobide Porter với hai cuốn sách: “Phương pháp học
tập siêu tốc”, “Phương phảp tư duy siêu tốc”; Adamkho với ba cuốn sách: ‘Tơ/ tài
giỏi, bạn cũng thế”, “Làm chủ tư duy thay đối vận mệnh” và “Cơ/I cái chủng ta đều
tài giỏi” hay Yoyce Wycoff với cuốn sách “úng dụng SĐTD đế khám phả tỉnh sáng
tạo và giải quyết vấn đề”... Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã ứng dụng SĐTD
trong việc dạy học ở nhà trường và đã thu được hiệu quả nhất định cho cả hoạt động
dạy và hoạt động học. Theo Cheryl Cheal - sinh viên trường Imperial College
London tại Singapo thì: SĐTD là phương pháp học mà hầu hết HS được làm quen
7
từ 11 - 12 tuối, cô cho biết cô và các bạn rất hào hứng học tập bởi bị cuốn hút vào
màu sắc, hình ảnh rực rỡ và ghi nhớ kiến thức. Trong giờ học, các thầy cô có thế sử
dụng linh hoạt SĐTD vào từng nội dung dạy học. Còn theo Chun Song Guan, sinh
viên trường National Taiwan University thì GV có thế sử dụng SĐTD khi giới thiệu
ở đẩu hoặc cuối bài giảng, củng cố bài giảng, củng cố kiến thức, và cho bài tập về
nhà (hệ thống hóa kiến thức bằng SĐTD). Việc làm ấy hướng tới mục đích là HS
biết hệ thống và khái quát các đơn vị kiến thức, đồng thời HS cũng biết cách làm
việc theo nhóm hiệu quả thông qua hoạt động mỗi người có thể góp ý, vẽ một nhánh
của SĐTD. Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về SĐTD nhưng do mục đích
xây dựng lí thuyết SĐTD chủ yếu phục vụ cho các hoạt động trong công việc nói
chung như việc lập kế hoạch, ghi chép, quản lí cuộc họp, thuyết trình, học tập, phát
triển cá nhân nên nghiên cứu sự ứng dụng SĐTD trong hoạt động dạy học ở nhà
trường chưa có nhiều công trình khoa học.
Cho đến năm 2003, khái niệm SĐTD mới được sử dụng trên các nguồn tư
liệu được khai thác trên internet, hay dựa trên các tài liệu tiên tiến được đưa về Việt
Nam cùng một số chương trình đào tạo của các chuyên gia hàng đầu thế giới. Cũng
từ đó, việc nghiên cứu SĐTD có những bước thay đổi đáng kể ở Việt Nam. Năm
Ngọc Hồi ” của cô giáo Nguyễn Thị Anh Nguyệt (SKKN đạt giải B cấp thành phố
Hà Nội năm học 2010-2011), ‘\Siỉ* dụng bản đồ tư duy vào dạy học Ngữ văn 9 ”
của GV Vũ Thị Bình Ngọc trường THCS Yên Đức (SKKN loại B cấp tỉnh Nghệ An
năm 2011-2012)...Cùng thời điểm đó, việc ứng dụng SĐTD trong dạy học đã triển
khai thí điểm tại 355 trường trên toàn quốc với sự hồ hởi tiếp nhận của GV và HS.
Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng và tính ứng dụng cao của SĐTD trong quá trình
giáo dục. Ke thừa những thành tựu đã đạt được trong việc nghiên cứu về SĐTD và
những tác dụng của nó vào hoạt động dạy học ở trường, khóa luận này bước đầu
xem xét sự vận dụng phương tiện dạy học này vào dạy học một bài làm văn là bài
“Thao tác lập luận so sảnh ” nhằm tìm ra cách tố chức dạy học làm văn đạt hiệu
quả.
9
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cún
3.1.
Mục đích nghiên cứu
Với dụng ý tìm ra cách triển khai dạy và học kỹ năng cần thiết khi tạo lập
văn bản nghị luận một cách sáng tạo và tạo ra hứng thú học tập cho HS, khóa luận
tập trung tìm hiểu sự vận dụng và sử dụng SĐTD vào dạy học bài “Thao tác lập
luận so sánh
3.2.
-
Nhiệm vụ nghiên cún
Hệ thống hóa những cơ sở lý thuyết về SĐTD trong quá trình giáo dục.
Phương pháp phân tích - tống hợp: Khi hình thành kiến thức mới.
-
Phương pháp điều tra cơ bản: Được sử dụng khi tiến hành lấy ý kiến thăm
dò của GV và HS.
-
Phương pháp thực nghiệm: Sử dụng trong phần thực nghiệm sư phạm.
1
0
6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học bài
“Thao tác lập luận so sảnh
Chương 2: Dạy học bài “Thao tác lập luận so sánh ” trong sách giáo khoa
Ngữ văn 11 (bộ chuẩn) có sử dụng sơ đồ tư duy.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
NỘI DUNG
Chương 1
Cơ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC sử DỤNG sơ ĐÒ TƯ DUY VÀO
DẠY HỌC BÀI “THAO TÁC LẬP LUẬN so SÁNH”
1.1.
Giói thiệu chung về tư duy con người
thực hiện sự nhận thức thế giới xung quanh, định hướng cho hành vi phù họp với
môi trường sống. Tư duy là hoạt động cao cấp của hệ thần kinh và để thực hiện
được tư duy cần có những điều kiện:
Điều kiện cơ bản: thứ nhất, hệ thần kinh phải có năng lực tư duy. Đây là điều
kiện tiên quyết, điều kiện về bản thế. Thiếu điều kiện này thì không có tư duy nào
được thực hiện. Năng lực tư duy thể hiện ở ba loại hình tư duy là kinh nghiệm, sáng
tạo và trí tuệ. Ba loại hình tư duy này mang tính bấm sinh nhưng có thế bị biến đổi
trong quá trình sinh trưởng theo xu hướng giảm dần từ trí tuệ xuống kinh nghiệm,
nhưng sự bộc lộ của chúng ta theo chiều hướng ngược lại. Đây là biểu hiện của mối
quan hệ giữa năng lực bẩm sinh với môi trường sống và trực tiếp là môi trường kinh
nghiệm. Thứ hai, hệ thần kinh đã được tiếp nhận kinh nghiệm, tiếp nhận tri thức.
Đây là điều kiện quan trọng. Không có kinh nghiệm, không có tri thức thì các quá
trình tư duy không có cơ sở để vận hành. Kinh nghiệm, tri thức là tài nguyên cho
các quá trình tư duy khai thác, chế biến. Đe tư duy tốt hơn thì nguồn tài nguyên này
cũng cần nhiều hơn. Học hỏi không ngừng sẽ giúp tư duy phát triển.
Điều kiện riêng: được đặt ra nhằm giúp cho mỗi loại hình tư duy thực hiện
được và thực hiện tốt nhất. Ví dụ muốn có tư duy về lĩnh vực vật lí thì hệ thần kinh
1
2
phải có các kiến thức về vật lí. Muốn tư duy về lĩnh vực nào thì phải có kinh
nghiệm, tri thức về lĩnh vực đó. Muốn có tư duy lí luận thì phải có sự kết họp giữa
năng lực tư duy trí tuệ với tư duy triết học và tri thức về triết học...
Tư duy là kết quả của nhận thức đồng thời là sự phát triển cấp cao của nhận
thức. Xuất phát điếm của nhận thức là những cảm giác, tri giác và biếu tượng...
được phản ánh từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng, hiện
tượng bên ngoài được phản ánh một cách riêng lẻ. Giai đoạn này được gọi là tư duy
cụ thể. Ở giai đoạn sau, với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạt động tư duy tiến hành các
hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy
khái quát phát triến đủ cao. Những khó khăn trở ngại mà các em gặp thường gắn với
sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiện mới chứ không phải với sự không
muốn học như nhiều người nghĩ. Hứng thú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn
liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền
vững hơn. Cũng vì thế, thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những
chuyến biến rõ rệt. HS đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý
thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập. Thái độ có ý
thức đối với việc học tập của các em được tăng lên mạnh mẽ. Học tập mang ý nghĩa
sống còn trực tiếp vì các em đã ý thức rõ ràng được rằng: cái vốn những tri thức, kĩ
năng và kĩ xảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hình thành trong nhà
trường phố thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao
động của xã hội.
về sự phát triến trí tuệ, lứa tuối HS THPT là giai đoạn quan trọng trong việc
phát triển trí tuệ. Đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát
triển các năng lực trí tuệ. Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của
người lớn. Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ. Khả năng quan sát một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em. Tuy nhiên sự quan sát ở
các em thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi
1
4
quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện, đưa ra kết luận vội
vàng không có cơ sở thực tế.
Trí nhớ của HS THPT cũng phát tri en rõ rệt. Trí nhớ có chủ định giữ vai trò
chủ đạo trong hoạt động trí tuệ. Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một
trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học. Có nghĩa là khi học bài các em
đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quan trọng, những ý trọng
tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh. Các em cũng hiểu rất rõ trường
1.2.
Giói thiệu chung về SĐTD
1
5
1.2.1. SĐTD - một phương tiện dạy học thiết thực
•
A
o
•
•
•
•
Khi giới thiệu về SĐTD, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều cách hiểu về
SĐTD. Có người cho rằng: SĐTD (bản đồ tư duy, lược đồ tư duy...) là hình thức ghi
chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ỷ tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một
mạch kiến thức,... bang cách kết hợp sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu
sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Hay: SĐTD là một sơ đồ nhằm trình bày một
cách rõ ràng những ỷ tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cả nhân
hay nhóm về một chủ đề. SĐTD có thế được vỉêt trên giấy, trên bảng trong, trên
trạng thái “sóng alpha” hoặc nghỉ ngoi và sẵn sàng hỗ trợ. Còn vỏ não phải xử lí:
nhịp điệu, tưởng tượng, màu sắc, thơ mộng, nhận thức về không gian, Gestalt (tính
toàn thể hay có thể diễn tả là “tổng thể lớn hơn các bộ phận cộng lại”) và kích
thước.
Trên cơ sở hoạt động của não bộ, các nhà khoa học đã tìm ra bí quyết hiệu
quả của SĐTD nằm ở dạng thể linh hoạt của nó. SĐTD được vẽ dưới dạng một tế
bào não và có công dụng kích thích não làm việc nhanh chóng, hiệu quả một cách tự
nhiên. Mỗi khi quan sát những đường gân trên lá hay nhánh cây, chúng ta có thể
thấy các SĐTD của tự nhiên sao chép hình dạng của các tế bào não, phản ánh cách
chúng được tạo ra và kết nối. Thế giới tự nhiên luôn luôn thay đối, tái sinh và có cấu
trúc liên lạc tương tự như con người. SĐTD có thể xem là công cụ tư duy mang tính
tự nhiên, được phác thảo từ nguồn cảm hứng và tính hiệu quả của những cấu trúc tự
nhiên này.
Đây là nguồn gốc, cơ sở ra đời của SĐTD.
1.2.2. Cấu tạo và phân loại SĐTD
SĐTD được vẽ dưới dạng một tế bào não và các tế bào này được liên kết với
nhau bằng một mạng lưới vô cùng phức tạp gồm các sợi thần kinh, cả ở hai bên vỏ
não cũng được nối với nhau bằng mạng lưới các sợi thần kinh dày đặc, phức tạp
này. Chúng đảm nhiệm chức năng chính là xử lí mọi hoạt động tư duy khác nhau.
Bộ não người không tư duy theo lối trình tự và tuần tự mà theo cách lan tỏa như mọi
1
7
hình dạng của tự nhiên, hệ tuần hoàn, hệ thần kinh trong cơ thể con người, các
nhánh của thân cây và những đường gân trên lá. Đây chính là cách tư duy của não.
Vì nó không theo trình tự, tuần tự mà phát triển theo một mạng lưới hợp lô-gic nên
SĐTD là dạng mô phỏng cũng như vậy, nó là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi
tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí.
Ta thấy, SĐTD là cách người thực hiện dùng một phương tiện trực quan gắn
với bản chất của hoạt động tư duy đế tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của não
bộ. Nhờ các hình ảnh, người sử dụng có thể ghi nhớ chi tiết, tổng hợp hay phân tích
vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Khác so với máy tính, ngoài khả
năng ghi nhớ kiểu tuyến tính thì não bộ còn có khả năng liên hệ các dữ liệu với
nhau. SĐTD có thể khai thác tất cả hai khả năng này của não bộ.
Với cấu tạo đơn giản, gọn nhẹ như vậy, SĐTD có thể sử dụng được với bất kì
điều kiện cơ sở vật chất nào của các trường hiện nay (thiết kế trên giấy, bìa, bảng
phụ, hoặc trên phần mềm bản đồ tư duy: www.min-map.com.vn để tải miến phí
Conceptdraw mindmap 5 professional hoặc phần mem Buzan’s iMindmap 7.0...).
Tóm lại, có thể thấy cấu tạo của SĐTD mô phỏng cách tư duy của não, giúp
ta tư duy tốt hơn dựa trên sự kết hợp từ, hình ảnh, đường nét, màu sắc, tương thích
với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não. Với những đặc điểm cơ bản của
SĐTD như trên, nhà khoa học Adam Khoo xác định có ba loại SĐTD là: SĐTD
theo đề cương; SĐTD theo chương và SĐTD theo đoạn văn.
1
9
SĐTD ra đời muộn nhưng hiệu quả mà nó mang lại vô cùng to lớn. Bằng
chứng cho nhận định trên là hiện nay, hơn 250 triệu người trên thế giới đang sử
dụng nó có hiệu quả, nó được sử dụng trong các công ti lớn, phục vụ cho kinh
doanh. Trong giáo dục, SĐTD cũng đã và đang khắng định giá trị của nó. Có thể tin
rằng, đây là thứ phương tiện hiện đại, có thể đáp ứng được nhu cầu đối mới PPDH
theo hướng sáng tạo, giảm áp lực học tập cho HS bởi các tính năng sau:
Thứ nhất, SĐTD giúp bạn tiết kiệm thời gian vì nó chỉ tận dụng các từ khóa.
Hơn nữa, SĐTD giúp tận dụng được các nguyên tắc ghi nhớ siêu đẳng: sự hình
dung, sự liên tưởng làm nối bật sự kiện. Không chỉ có vậy, SĐTD sử dụng hai bán
ra được một sản phẩm SĐTD, HS sẽ ghi nhớ tốt hơn, tiết kiệm thời gian, tạo ấn
tượng thị giác tốt hơn và kích thích sự sáng tạo của HS. Dùng SĐTD để dạy, GV sẽ
có một định hướng rõ rệt, một kế hoạch cụ thể nắm vững và trình bày những nội
dung cơ bản một cách đon giản để HS dễ hiểu, dễ nắm bắt được tính hệ thống và
mối quan hệ của những tri thức mà không rơi vào những chi tiết vụn vặt, thứ yếu,
không thấy rõ tính hệ thống của bài học. Với những kiến thức mang tính kỹ năng,
đặc biệt là những kỹ năng về lập luận, SĐTD sẽ giúp HS có thể hiểu hơn cấu trúc
của các lập luận và những cách tổ chức lập luận. Trên cơ sơ đó, các em biết vận
dụng vào chính quá trình biểu đạt của bản thân. Như vậy, nó còn là cơ sở để HS có
thể vận dụng sáng tạo kiến thức khi tạo lập văn bản. Với nhũng un điểm như trên,
việc sử dụng SĐTD vào dạy học làm văn là một định hướng đúng đắn.
1.3.
Giói thiệu chung về thao tác lập luận so sánh trong văn nghị luận
1.3.1. Văn nghị luận và các thao tác lập luận trong văn nghị luận
Oĩ
•
•
•I
•
•o
o
Nói một cách khải quát “văn nghị luận ” ỉà một thế loại nhằm phát biếu tư
tưởng, tình cảm, thái độ, quan điếm của người viết một cách trực tiếp về văn học
hoặc chính trị, đạo đức, loi sống... nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ
hùng hôn, trong sảng, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết
hợp nhiều thao tác, chúng được kết hợp nhuần nhuyễn với nhau chứ không tách rời
riêng lẻ. Điều này cho thấy sức hấp dẫn và vẻ đẹp của văn nghị luận không chỉ bởi
chiều sâu tư tưởng mà còn ở nghệ thuật lập luận của người viết.
1.3.2. Thao tác lập luận so sánh trong văn bản nghị luận
2
2
So sánh là một thao tác tư duy được con người sử dụng thường xuyên trong
cuộc sống hàng ngày. So sánh là sự đối chiếu hai hay nhiều sự kiện, nhiều hiện
tượng với nhau dựa trên một mối liên hệ nào đó, nhằm làm nổi bật được đối tượng
đang được xem xét, đáng giá.
Trong văn bản nghị luận, so sánh là một TTLL được tạo lập dùng để tìm ra
sự giống nhau hoặc khác nhau giữa các đối tượng, và qua sự so sánh ấy để dẫn dắt
người tiếp nhận đi đến một ý kiến, nhận định nào đấy đối với nội dung được bàn
luận. Như vậy, khi sử dụng thao tác lập luận so sánh (TTLLSS) cần chú ý: Đối
tượng (sự vật, sự việc, hiện tượng...) đưa ra so sánh phải có mối liên hệ với nhau về
một mặt, một phương diện nào đó; so sánh phải dựa trên những tiêu chí rõ ràng; kết
luận rút ra từ sự so sánh phải chân thực giúp cho việc nhận thức đối tượng được
chính xác, sâu sắc hơn. Đặc điếm cần lun ý khi sử dụng TTLLSS: Phải xác lập giữa
các đối tượng một mối liên hệ nào đó, so sánh chỉ được thực hiện khi các quan hệ
đó được xác lập; không lấy việc so sánh làm mục đích mà nó chỉ là con đường, cách
thức đế làm rõ vấn đề cần nghị luận; so sánh điếm giống nhau, khác nhau giữa các
đối tượng được so sánh nhưng không nên gán cho đối tượng này những đặc điếm
của đối tượng kia và qua đó đưa ra những nhận xét thiếu căn cứ. so sánh đòi hỏi
chúng ta vận dụng tối đa năng lực tư duy, người viết phải có phông kiến thức lớn để
tìm ra đối tượng so sánh từ đó mới làm nối bật được vấn đề mà mình nghị luận. Khi
tiến hành so sánh, người viết phải có cách so sánh linh hoạt, mềm dẻo, nếu không
cấn thận sẽ rơi vào tình trạng so sánh các yếu tố không tương đồng đẫn đến sai lệch,
•
9
• %ỉ
•
•1
luận so sánh”
1.4.1. Điều tra thăm dò ý kiến giáo viên
Việc điều tra, thăm dò ý kiến giáo viên được thực hiện với 13 GV và với 5
câu hỏi (CH). Qua việc thống kê chúng tôi có kết quả như sau:
Phương pháp đàm thoại
5/13
Phương pháp phân tích ngôn ngữ
6/13
Phương pháp sử dụng SĐTD
1/13
Phương pháp khác
0/13
Câu 2: Sử dụng SĐTD trong dạy học có là ỉựa chọn của các
thầy cô khỉ dạy học không?
Có
2/13
Không
2/13
Thỉnh thoảng
9/13
1/13
Dê dàng ghi nhớ
8/13
Sử dụng tiện lợi
1/13
—--------------------T-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------1---------------7---------------------------------------------------------
Từ kêt quả trên, chúng tôi đưa ra một sô nhận xét sau:
Ngoài việc sử dụng các phương pháp truyền thống như đàm
thoại, phân tích ngôn ngữ thì GV đã sử dụng các phương
pháp dạy học mới có sử dụng SĐTD vào trong quá trình dạy
học của mình. Tuy nhiên, mức độ sử dụng thường xuyên và
coi SĐTD là một phương pháp chính trong giờ dạy của mình
vẫn còn rất ít. Chủ yếu nó được sử sụng để tống kết bài
học cũ, hệ thống lại kiến thức của bài vừa học hay những
bài học của chương, của phần.
Môn Làm văn cũng ít được sử dụng SĐTD vào dạy học, vẫn chủ yếu là khâu
tổng kết, giới thiệu bài mới, rất ít thầy cô mạnh dạn sử dụng phương tiện này vào
quá trình dạy học của mình. Môn Làm văn hầu như là những kiến thức cố định và
vẫn được giảng theo những pp đã có từ lâu khiến cho môn học vừa khô, vừa khó.
Dù có ưu điểm giúp HS dễ dàng ghi nhớ, trực quan logic và đa số các thầy cô không
phủ nhận hiệu quả mà phương tiện này mang lại nhưng việc sử dụng phương tiện
thường xuyên, chủ đạo trong giờ dạy thì vẫn còn rất ít. Và dù với rất nhiều ưu điểm,
SĐTD vẫn chưa thực sự trở thành một phương tiện tối ưu được lựa chọn trong quá