Sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí trong SGK ngữ văn 11 (bộ chuẩn) - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN
BÙI THỊ HẢI YẾN
SỬ DỤNG Sơ ĐỒ Tư DUY VÀO DẠY
HỌC BÀI PHONG CẢCH NGÔN NGỮ
BAO CHÍ trong SGK ngữ Văn 11
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • •
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
• • • • KHOA NGỮ VĂN
BÙI THỊ HẢI YÉN
SỬ DỤNG Sơ ĐỒ Tư DUY VÀO DẠY
HỌC BÀI PHONG CẢCH NGÔN NGỮ
BAO CHÍ trong SGK ngữ Văn 11
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • •
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Ngưòi hướng dẫn khoa học
HÀ NỘI, 2015
TS. PHẠM KIỀU ANH
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Ngữ văn, các
thày, cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
ttong quá trình làm khóa luận. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
TS. Phạm Kiều Anh - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình chu đáo để
tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2015 Sinh viên
Bùi Thị Hải Yến
HÀ NỘI, 2015
9

phương pháp truyền thống cũ mà bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả
và hạn chế những nhược điểm của chúng. Một trong những định hướng cơ bản
của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh
viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực
hành động của ngưòi học. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.
1.4.5. Ngữ văn là một môn học có vị trí quan trọng.Tuy nhiên, do đặc
trưng của môn học khiến cho các em HS khi học tập thường ngại học, chán học
dẫn đến tình trạng không coi trọng và hứng thú với môn học này. Từ đó đặt ra
một yêu cầu, muốn HS học tốt môn Ngữ văn thì GV cần phải đổi mới phương
pháp dạy học sao cho phù hợp và hiệu quả để để kích thích tinh thần học tập cho
các em, đưa các em đến với môn học một cách tự giác.
1.4.6. Báo chí có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Bởi lẽ báo chí
ra đời để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người. Cũng vi thế, bài Phong cách
ngôn ngữ báo chí là một bài học quan trọng và có tính ứng dụng cao trong
chương trình Ngữ văn 11. Tuy nhiên, chất lượng học tập môn tiếng Việt nói
chung, chất lượng học và vận dụng những kiến thức về báo chí vào thực tế đời
sống của HS chưa tốt. Muốn cải thiện chất lượng trong việc dạy bài Phong cách
8
ngôn ngữ báo chí nói riêng và dạy học tiếng Việt nói chung thì cần có những hình
thức và biện pháp tổ chức dạy học phù họp.
1.4.7. Với mong muốn tìm ra một hình thức dạy học có sáng tạo, tạo ra
những hiệu ứng học tập cho HS, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Sử dụng
sơ đồ tư duy trong dạy học bài Phong cách ngôn ngữ báo chí.
2. Lích sử vấn đề
1.4.8. ■
1.4.9. Sơ đồ tư duy (SĐTD) còn được gọi là bản đồ tư duy, là Minmap.
Người có công sinh thành ra thứ phương tiện hiện đại này là Tony Buzan, một

riêng là việc làm cần thiết. Đây là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1.4.11. ■ « * o
3.1. Mục đích nghiên cứu
1.4.12. Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra một hình thức mới khi dạy bài
Phong cách ngôn ngữ báo chí, tạo ra sự sáng tạo, kích thích hứng thú học tập cho
HS nhằm đem lại hiệu quả cao cho việc dạy học bài này ở trường THPT.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
1.4.13. Để đạt được mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài này phải hướng
tới các nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp các vấn đề lý thuyết về SĐTD và phong cách ngôn ngữ báo chí
(PCNNBC).
- Đề xuất cách vận dụng SĐTD khi dạy học bài Phong cách ngôn ngữ báo
chí trong SGK Ngữ văn 11 (bộ chuẩn).
- Thực nghiệm nhằm bước đầu đánh giá kết quả đề xuất.
4. Đổi tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
1.4.14. Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là SĐTD trong giáo dục.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
10
1.4.15. Gắn với nội dung đề tài, chúng tôi xác định khóa luận tập trung
nghiên cứu cách sử dụng SĐTD vào quá trình dạy học bài Phong cách ngôn ngữ
báo chí, trong SGK Ngữ văn 11 (bộ chuẩn).
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
1.4.16. Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài để làm cơ sở lý luận
như: các tài liệu hướng dẫn dạy học, các tài liệu về SĐTD và ứng đụng SĐTD
trong dạy học
5.2. Phương pháp điều tra khảo sát
1.4.17. Khảo sát, tìm hiểu thực tiễn việc xây dựng và sử dụng SĐTD trong

Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4: Tư duy là sản phẩm cao nhất của
vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não người. Tư duy phản ánh tích cực
hiện thực khách quan dưới dạng khái niệm, sự phán đoán, lý luận
1.4.27.Trong khi đó, Từ điển tiếng Việt cho rằng: “Tư duy là giai đoạn
cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào nhận thức và phát hiện ra tính quy luật
của sự vật bằng những hình thức, những biểu tượng, khái niệm, phán đoán và
suy lf \ Với quan niệm này có thể nhận thấy, tư duy là một mức độ nhận thức mới
mẻ về chất so với cảm giác và tri giác. Khác với cảm giác và tri giác, tư duy phản
ánh những thuộc tính bên trong sự yật, hiện tượng. Tư duy của mỗi người được
hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức tích cực của bản
thân họ nhưng nội dung và tính chất của tư duy được quy định bởi trình độ nhận
thức chung, tồn tại trong một giai đoạn phát triển xã hội lúc đó. Do vậy, cũng như
mọi hoạt động tâm lý khác, tư duy con ngưòi mang bản chất xã hội. Hoạt động tư
12
duy của con người là quá trình hoạt động nhận thức có mở đầu, diễn biến và kết
thúc rõ ràng. Quá trình này mang tính gián tiếp và khách quan nảy sinh trên cơ sở
hoạt động thực tiễn. Nghiên cứu về tư duy con người, các nhà khoa học đã tìm ra
tư duy con ngưòi có những đặc điểm cơ bản sau:
1.4.28. Trước hết, nói đến tư duy người ta nhắc đến tỉnh “có vẩn đề” của
tư duy. Không phải trong bất cứ hoàn cảnh nào tư duy cũng xuất hiện. Trên thực
tế, tư duy chỉ xuất hiện khi gặp những hoàn cảnh, những tình huống “cớ vẩn đề”.
Khi đó, những sự hiểu biết sẵn có, những phương pháp thường dùng không đủ để
giải quyết vấn đề thì con người phải tìm ra cách thức giải quyết mới, khi đó buộc
con người phải tư duy.
1.4.29. Nhắc đến tư duy, người ta thường nhắc tới một hoạt động có tính
gián tiếp của tư duy. Đây được coi là một đặc trưng cơ bản của hoạt động tư duy.
Có đặc trưng này là bởi con người không nhận thức thế giới một cách trực tiếp
mà thường biểu hiện hoạt động nhận thức ấy một cách gián tiếp. Tính gián tiếp đó
được thể hiện ở việc con người dùng ngôn ngữ để tư duy. Nhờ có ngôn ngữ mà
con ngưòi sử dụng các kết quả nhận thức (quy tắc, công thức, quy luật, khái

ngưòi mang tính lựa chọn, tính ý nghĩa. Chính vì vậy, Ăngghen đánh giá: “Nhập
vào vói con mắt của chúng ta chẳng những có cảm giác khác mà còn có cả hoạt
động tư duy nữa. Nói theo một cách khác, nhận thức cảm tính phản ánh những
thuộc tính bề ngoài, những mối quan hệ có tính không gian và thời gian của sự
vật hiện tượng còn tư duy phản ánh thuộc tính, bản chất bên trong, những mối
liên hệ, quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật hiện tượng mà trước đó
chúng ta chưa biết”.
1.4.32. Mỗi hành động tư duy là một quá trình giải quyết một nhiệm vụ nào
đó xảy ra trong hoạt động nhận thức hay trong hoạt động thực tiễn.Tư duy nảy
sinh khi con người nhận thức được tình huống và muốn biểu đạt tình huống đó.
Tức là khi đó con người đã nhận thức được nhiệm vụ của tư duy. Khi xác định
14
được nhiệm vụ cần giải quyết chủ thể tư duy huy động các tri thức, kinh nghiệm
liên quan để giải quyết vấn đề đó. Trong quá trình đó tư duy của con ngưòi luôn
vận động và ngày càng sâu hơn. Cũng bỏi vậy, trong quá trình giáo dục, GV cần
chú ý tới việc phát triển tư duy cho HS. Vì nếu không có khả năng tư duy thì
không thể học tập, không thể hiểu biết, không thể cải tạo được tự nhiên xã hội và
rèn luyện bản thân. Do đó, con ngưòi càn chú trọng đến việc phát triển tư duy, và
muốn phát triển tư duy chúng ta cần:
1.4.33. Phải đặt cá nhân HS vào tình huống có vấn đề để kích thích tính
tích cực của bản thân, độc lập sáng tạo khi giải quyết tình huống có vấn đề.
1.4.34. Phải rèn luyện năng lực học tập, nâng cao nhận thức để phát triển
khả năng tư duy tốt, chính xác.
1.4.35. Phải tăng cường khả năng trừu tượng khái quát.
1.4.36. Phải thường xuyên quan sát tìm hiểu thực tế, rèn luyện cảm giác,
tính nhạy cảm, năng lực trí nhớ, nhằm nâng cao nhận thức cảm tính để sau đó rút
ra nhận thức một cách lý tính, có khoa học.
1.4.37. Phải trau dồi vốn ngôn ngữ vì ngôn ngữ là cái vỏ thể hiện tư duy và
thông qua đó mới biểu đạt được tư duy của bản thân cũng như lĩnh hội được tư
duy của người khác.

1.2.1. Giới thiệu chung về SĐTD
1.4.39.Khi đánh giá về các hoạt động trong đời sống của con người, nhiều nhà
tâm lý học đã đề cao vai trò của trí nhớ. Trí nhớ đóng vai ừò quan ừọng trong
1.4.40. mọi hoạt động của con người. Con người không có trí nhớ thì
không có kinh nghiệm, không có kinh nghiệm thì sẽ không thích nghi được với
môi trường xung quanh, không thể thực hiện bất kì hoạt động nào và nhân cách
cũng không thể hình thành. Đe có trí nhớ tốt, con người bắt buộc phải rèn luyện.
Và một trong những cách ghi nhớ nhanh đầy đủ và sáng tạo đó là sử dụng SĐTD
- công cụ vạn năng cho bộ não.
16
1.4.41.Tony Buzan - cha đẻ của SĐTD là một trong những người đi sâu
nghiên cứu để tìm ra hoạt động của bộ não. Ông nhận định: Bộ não người không
tư duy theo lối trình tự và tuần tự mà theo cách lan tỏa như mọi hình dạng tự
nhiên hệ tuần hoàn, hệ thần kinh trong cơ thể con người, các nhánh của thân cây
và những đường gân trên chiếc lá. Đây chính là cách tư duy của não.Để tư duy
hiệu quả, não cần có một công cụ có khả năng phản ánh dòng tư duy tự nhiên ấy-
SĐTD. Nói đến SĐTD ( bản đồ tư duy, lược đồ tư duy), người ta thường nói tới
một phương tiện kỹ thuật được tạo ra trên cơ sở của hình thức ghi chép nhằm tìm
tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ
thống hóa một chủ đề bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu
sắc, chữ viết. Theo đó, có thể khẳng định: SĐTD là một hình thức ghi chép có thể
sử dụng màu sẳc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ỷ tưởng. Nhờ sự kết nổi
giữa các nhánh, các ỷ tưởng được liên kết với nhau khiến SĐTD có thể bao quát
được các ý tưởng trên một phạm vi rộng. Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh
gây ra những kích thích rất mạnh mẽ lên hệ thống rìa của não giúp cho việc ghi
nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích, xử lí,
rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đổi tượng nghiên cứu.
1.4.42.về đặc trung, có thể nhận thấy, SĐTD là một sơ đồ mở, việc thiết kế
SĐTD theo mạch tư duy của mỗi người nên không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe
như bản đồ địa lí hay bản đồ lịch sử. Người sử dụng có thể thêm hoặc bớt các

dung chủ đề.
1.4.46. Bước 3: Vẽ thêm các nhánh cấp 1 tỏa ra từ chủ đề trung tâm. Đây là
các ý chính làm rõ chủ đề. Đây là những nhánh của SĐTD chúng sẽ giúp bạn liên
kết các thông tin lại vói nhau. Khi vẽ vạch liên kết nên vẽ đường cong hơn là
đường thẳng, màu sắc nổi bật vì chúng hấp dẫn hơn với mắt và dễ ghi nhớ hơn
đối với não.
1.4.47. Bước 4: Vẽ thêm các nhánh cấp 2, cấp 3 để thể hiện rõ hơn nội
dung của các nhánh trước. Các nhánh phụ sẽ vẽ bằng nét nhỏ hơn để dễ phân biệt
với các nhánh chính. Có thể chú thích các từ ngữ cần thiết hoặc điền số thứ tự vào
các nhánh nếu bạn muốn sắp xếp theo thứ tự quan trọng hoặc thứ tự các nhánh
phải xem nếu thông tin yêu càu phải theo tuần tự. Các nhánh tạo thành một cấu
trúc các nút liên hệ chặt chẽ với nhau.
1.4.48. Bước 5: Hoàn thiện SĐTD. Ở bước này, người viết có thể thêm các
hình ảnh giúp cho các ý quan trọng thêm nổi bật, thêm sức hấp dẫn cho SĐTD
cũng như giúp chúng ta dễ ghi nhớ hơn.
1.4.49. Ỷ con 1
1.4.50. Ý con 1 Ý con 2 Ý
con3
-
y
°hính 2
X Ý con 2
1.4.51. Ỹ con 3
1.4.52. [Hình 1]
1.4.53. Như vậy, khi sử dụng SĐTD ta
thấy đối tượng chính được quan tâm, xác định rõ ràng và
được kết tinh thành một hình ảnh trung tâm và từ hình ảnh
I

!

20
con người; phát huy sự sáng tạo của con người, không dập khuôn máy móc như
khi lập các bảng biểu, sơ đồ; hệ thống hóa kiến thức đầy đủ và tiết kiệm thời gian
YÌ nó chỉ sử dụng từ khóa.
1.2.3. Ỷ nghĩa của việc sử dụng SĐTD trong quá trình giáo dục
1.4.59. Chúng ta biết rằng việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS
không chỉ đơn thuần là một phương thức GV sử dụng để nâng cao hiệu quả học
tập mà còn là điều kiện để hiện thực hóa mục tiêu dạy học. Trên thực tế, với các
phương pháp học cũ thì HS thụ động ttong quá trình học ttên lớp, không phát huy
được tính năng động, sáng tạo cũng như không phát huy được tinh thần tự giác,
hứng thú khi học ở nhà. Vì các em nắm kiến thức một cách rời rạc không có sự
liên kết logic vói nhau nên dẫn đến tình trạng học trước quên sau, không phát huy
được các năng lực cần thiết. Do vậy, việc sử dụng SĐTD trong quá trình dạy -
học là điều cần thiết, sẽ giúp các em có một cách học tốt, phát huy được tính độc
lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. SĐTD giúp ta tư duy nhiều chiều. Đó
là một công cụ giúp học tập hiệu quả thông qua việc vận dụng não phải và não
trái giúp người học tiếp thu bài nhanh hơn, hiểu bài kĩ hơn và nhớ được nhiều chi
tiết hơn. Từ đó, ta thấy sử dụng SĐTD trong việc dạy học sẽ mang lại nhiều lọi
ích thiết thực như giúp: nắm kiến thức một cách tổng quát mà logic mạch lạc, tiết
kiệm thời gian công sức, ghi nhớ nhanh, lâu và sâu kiến thức hơn, kích thích óc
sáng tạo cũng như khơi dậy khiếu hội họa Đối vói việc dạy học Tiếng Việt thì
việc sử dụng SĐTD sẽ giúp HS chiếm lĩnh bài học một cách tổng thể.GV sẽ
hướng dẫn các em đi từ kiến thức tổng quát của bài - trọng tâm bài học và sẽ là
trung tâm của SĐTD. Từ đó, sẽ giúp các em tìm ra những nội dung kiến thức
xoay quanh chủ đề đó và phát triển thành các ý (các nhánh của sơ đồ). Khi nhìn
vào sơ đồ, HS có thể nắm được nội dung bài học đồng thời xác định được đâu là
ý chính, đâu là ý phụ một cách rõ ràng và từ đó lên kế hoạch học tập hiệu quả.
21
1.3. Những đặc trưng cơ bản của PCNNBC
1.3.1. Giới thiệu chung về PCNNBC

thời nó còn tác động vào nhu cầu, nguyện vọng, thái độ của người đọc. Tuy
nhiên, không phải mọi bài đăng trên báo đều thuộc ngôn ngữ báo chí, chỉ những
bài nào mang đặc trưng cơ bản của PCNNBC mới thuộc ngôn ngữ báo chí như:
bản tin, phóng sự, phỏng vấn, thư bạn đọc, quảng cáo
1.4.64.Ngôn ngữ báo chí tồn tại ở cả dạng nói và dạng viết. Dạng nói là
những bài viết, những mẩu tin trên báo và tờ in, những quảng cáo trên giấy dán
nơi đông người Dạng nói là những mẩu tin hàng ngày, những mục thông tin
quảng cáo ừên đài phát thanh, đài truyền hình Từ đó, ta có thể hiểu: PCNNBC
là kiểu diễn đạt dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực truyền thông đại chủng
báo ỉn, đài phát thanh, đài truyền hình, internet như tin tức, phóng sự, bình
luận, tiểu phẩm, diễn đàn, thông tin quảng cáo Nói một cách khác: PCNNBC -
công luận là khuôn mẫu thích họp để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai
trò của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực báo chí, công luận. Nói cụ thể hơn
đó là vai trò nhà báo, người đưa tin, người cổ động, người quảng cáo .tất cả
những ai tham gia vào hoạt động thông tin của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự.
Báo chí cung cấp thông tin cho chúng ta hàng ngày giúp cho cuộc sống của con
người phát triển văn minh han. Mọi nhu cầu và nguyện vọng của con người đều
phản ánh nhu cầu về thông tin.
1.4.65.Ngôn ngữ báo chí không phải là một vấn đề mới, nó đã được đào
sâu nghiên cứu theo từng góc cạnh, từng thời kì phát triển. Nhưng trong thời đại
bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay thì đây lại là một vấn đề cần quan tâm
của toàn xã hội. tiếng Việt đang dần bị ăn mòn bởi thứ ngôn ngữ lai căng, thiếu
trong sáng của một bộ phận giới ừẻ. Do vậy, báo chí phải như một người dẫn
đường trong công cuộc bảo tồn và phát triển tiếng Việt ngày càng giàu đẹp.
1.3.2 Những đặc trưng cơ bản của PCNNBC
23
1.4.66.Đe đảm bảo các chức năng thông tin, tuyên truyền .PCNNBC cần
phải mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản: tính thông tin thời sự; tính ngắn gọn;
tính sinh động, hấp dẫn.
1.3.2.1. Tỉnh thông tin thời sự

đa dạng. Trên báo thì tính từng dòng, từng chữ, ừên đài phát thanh, đài truyền
hình thì tính từng phút từng giây. Và người độc giả thì luôn muốn thu được nhiều
thông tin trong một đơn vị thời gian. Hơn nữa, nếu viết quá dài sẽ dễ mắc nhiều
dạng lỗi khác nhau, nhất là các lỗi về sử dụng từ. Vì vậy, báo chí luôn phải diễn
đạt cho thật ngắn gọn mà vẫn chứa đựng được nhiều thông tin nhất.
1.4.75.Tính ngắn gọn, súc tích của ngôn ngữ báo chí được biểu hiện ở đặc
điểm: dồn nén lượng thông tin; tập trung làm nổi bật sự kiện cốt lõi; sức biểu đạt
cao nhất; đáp ứng những hạn định về dung lượng, thời lượng và phù hợp với loại
hình, loại thể. Văn báo chí là lối văn ngắn gọn với lượng thông tin cao. Tiêu biểu
cho sự ngắn gọn là bản tin, đặc biệt là loại tin vắn, tin nhanh, quảng cáo .Ở đó
có khi chỉ cần dùng một câu mà người đọc có thể nắm bắt được những thông tin
cần thiết. Ta có thể nhận thấy đặc trưng này ừong ngữ liệu dưới đây:
1.4.76.(LĐ) - Ngày 1.11, tại Hà Nội.
1.4.77.Nhà xuất bản (NXB) Lao động tổ chức ki niệm 65 năm thành lập
(1.11.1945-1.11.2010).
1.4.78. (Trích Báo Nhân dân, ngày 1/11/2010)
1.4.79.Chỉ với một câu như trên nhưng bản tin đã nêu lên thông tin một
cách chính xác và đày đủ về việc Nhà xuất bản Lao động tổ chức kỉ niệm 65 năm
thành lập, với thời gian là ngày 1/11 và có địa điểm cụ thể là tại Hà Nội.
1.3.2.3. Tính sinh động, hấp dẫn
1.4.80.Không phải thể loại nào cũng viết sinh động, hấp dẫn nhưng muốn
thu hút sự chú ý của người đọc, ngôn ngữ báo chí cần kích thích sự tò mò hiểu
25

Trích đoạn Mục đích của việc dạy học bài Phong cách ngơn ngữ báo chí Các đơn vị kiến thức trong bài Phong cách ngơn ngữ báo chí
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status