skkn ứng dụng sơ đồ tư duy vào dạy học làm văn nghị luận lớp 12 thpt chuyên lương thế vinh - Pdf 25

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Trường THPT Chuyên Lương Thế Vinh
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
VÀO DẠY HỌC LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
LỚP 12 THPT
Người thực hiện: TRƯƠNG THU HƯỜNG
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn 
- Lĩnh vực khác: 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Đĩa CD (DVD)  Phim ảnh  Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học:
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
––––––––––––––––––
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: TRƯƠNG THU HƯỜNG
2. Ngày tháng năm sinh: 25/06/1982
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: 50 tổ 3 khu phố 4 phường Long Bình – Biên Hòa – Đồng Nai
5. Điện thoại: 0902887728
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Nhiệm vụ được giao: Giảng dạy môn văn lớp 12 Anh 1, 12 Anh 2, 12 A 1
9. Đơn vị công tác: Trường THPT Chuyên Lương Thế Vinh
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

Một trong những PPDH được quan tâm nhiều trong thời gian qua chính là sử
dụng Sơ đồ tư duy (SĐTD). Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã tổ chức những
chương trình, hội thảo mang tầm quốc gia về PPDH hiện đại này. Những nghiên
cứu bước đầu cho thấy SĐTD có vai trò tích cực trong việc làm tăng mức độ hứng
thú, sáng tạo, nâng cao hiệu quả học tập của học sinh. Việc nghiên cứu ứng dụng
SĐTD trong dạy học cũng đã trở thành đối tượng của nhiều công trình khoa học.
Tuy nhiên, tính khả thi của việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Ngữ văn THPT
vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và đặc biệt, hiện nay vẫn chưa có
nghiên cứu hay ứng dụng nào về việc sử dụng SĐTD trong dạy học Làm văn nghị
luận lớp 12 THPT – một bộ phận kiến thức có tính khái quát và hệ thống cao, phù
hợp với những đặc điểm của SĐTD.
Từ những đặc điểm và đòi hỏi khách quan đó, chúng tôi đã xem xét nghiên
cứu và thực nghiệm đề tài “Ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Làm văn lớp 12
THPT” tại trường THPT Chuyên Lương Thế Vinh.
3
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Sơ đồ tư duy và việc ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
1.1. Sơ đồ tư duy
Ở nước ngoài, vấn đề ứng dụng sơ đồ tư duy (Mindmap) trong cuộc sống đã
được Tony Buzan và Barry Buzan đề cập trong cuốn “Sơ đồ tư duy” (1995). Trong
cuốn sách này, hai anh em nhà Buzan đã đưa ra các ứng dụng của SĐTD . Bên
cạnh các ứng dụng của SĐTD đối với cá nhân, đối với gia đình, trong lĩnh vực
kinh doanh và các lĩnh vực chuyên môn thì các tác giả còn bàn đến những ứng
dụng của SĐTD trong giáo dục cụ thể như dùng để soạn ghi chú cho bài giảng,
hoạch định cho năm, hoạch định cho một học kỳ, hoạch định cho ngày, bài học và
cách trình bày, thi cử, dự án . Từ đó, hai anh em Buzan đã khái quát 7 lợi ích của
việc giảng dạy với SĐTD:
- SĐTD gợi hứng thú cho người học.
- SĐTD làm cho bài học cũng như cách trình bày bài học ngẫu hứng, sáng
tạo và lý thú hơn với giáo viên và học sinh.

bằng bản đồ tư duy với những tác phẩm thơ, văn tự sự và văn thuyết minh.
Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về SĐTD, gồm cả những tác
phẩm của chính Tony Buzan – cha đẻ của phương tiện ghi nhớ, tư duy hiện đại này
và những công trình ứng dụng SĐTD của các nhà nghiên cứu, giáo dục khắp nơi
trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Nhìn chung, các công trình này đã xác lập khái niệm, chỉ ra những đặc điểm
bản chất của SĐTD, làm rõ những mặt tích cực của SĐTD trong hoạt động học tập
và lao động của con người.
1.1.1. Khái niệm sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy (Mindmap) là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi
nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để
phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Khác với máy
tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo một trình tự nhất định,
chẳng hạn như trình tự xuất hiện của một câu chuyện) thì não bộ còn có khả năng
liên hệ các dữ kiện với nhau, bản đồ tư duy có thể khai thác tốt cả hai khả năng này
của bộ não.
- Cấu tạo của sơ đồ tư duy:
+ Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm hay một cụm từ khái quát chủ đề.
+ Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp một mang các ý chính
làm rõ chủ đề.
+ Phát triển các nhánh cấp một là các nhánh cấp hai mang các ý phụ làm rõ
mỗi ý chính.
+ Sự phân nhánh cứ tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trug tâm
thì ý càng cụ thể, chi tiết. Có thể nói, SĐTD là một bức tranh tổng thể, một mạng
lưới tổ chức, liên kết khá chặt chẽ theo cấp độ để thể hiện một nội dung, một đơn
vị kiến thức nào đó.
Hình ảnh minh họa cấu trúc của sơ đồ tư duy
5
1.1.2. Những ưu điểm của sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy. Đây là phương pháp tốt nhất để

Với yêu cầu chuyển đổi ngôn ngữ thành hình ảnh để đáp ứng yêu cầu nhiều
hình ảnh trong sơ đồ cũng là một động lực để bạn phát huy tính sáng tạo của bản
thân.
- Học tập:
Để học tốt, chúng ta cần gì?
+ Ghi nhớ kiến thức
6
+ Sự sáng tạo và liên kết kiến thức để có thể suy nghĩ hướng đi các bài tập
khó
+ Tập trung vào nội dung hoặc đối tượng chính của bài học
Sơ đồ tư duy sẽ bắt đầu với hình ảnh trung tâm (nội dung chính/ đối tượng
chính) ở giữa sơ đồ. Từ hình ảnh trung tâm ta mọc lên các nhánh chính để làm rõ ý
cho hình ảnh trung tâm. Từ các nhánh chính sẽ mọc lên các nhánh cấp 1 để làm rõ
cho các nhánh chính. Dần dần sẽ mọc lên các nhánh cấp 2, cấp 3 ….
Hình ảnh trung tâm ở giữa sơ đồ và kết cấu các nhánh mọc ra từ hình ảnh
trung tâm giúp cho các ý tưởng, kiến thức… đều tập trung vào trung tâm.
Với việc sử dụng nhiều màu sắc, các nhánh đường cong, các nhánh mọc một
cách ngẫu nhiên từ bất cứ đâu cho phép học sinh thoát khỏi sự “buồn ngủ”.
Phương pháp học tập truyền thống có chữ viết theo hàng, các ý phát triển tuần tự
nhau thường khiến người học mệt mỏi và buồn ngủ.
Giữa các nhánh sơ đồ, ta có thể dễ dàng vẽ đường liên kết để kết nối các
nhánh với nhau, phục vụ cho việc liên kết kiến thức/ ý tưởng một cách dễ dàng và
vui vẻ.
Tất cả những điều trên là cơ sở lý luận để khiến người học cảm thấy việc thu
nạp kiến thức sẽ trở nên thú vị, vui vẻ và hiệu quả.
- Truyền đạt: sơ đồ giúp chúng ta sắp xếp suy nghĩ, thông tin trong đầu mình
một cách hệ thống và mạch lạc.
Như vậy, SĐTD là một công cụ nhận thức phù hợp với bản chất chảu quá
trình dạy học. Sử dụng hiệu quả SĐTD trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt
trong phương thức học tập của học sinh và phương pháp giảng dạy của giáo viên.

tượng phát triển khá toàn diện, hoàn thiện những đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi này.
Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt. Trí nhớ có chủ định giữ
vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ. Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập
theo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học. Có nghĩa là khi học
bài các em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quan trọng,
những ý trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh. Các em cũng
hiểu được rất rõ trường hợp nào phải học thuộc trong từng câu, từng chữ, trường
hợp nào càn diễn đạt bằng ngôn từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu thôi, không cần
ghi nhớ. Nhưng ở một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng có những em
có thái độ coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc ôn lại bài.
Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh. Các em đã có khả
năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn. Năng lực
phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể
lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng. Các em thích khái quát, thích tìm
hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng hàng ngày, của những
tri thức phải tiếp thu… Năng lực tư duy phát triển đã góp phần nảy sinh hiện tượng
tâm lý mới đó là tính hoài nghi khoa học. Trước một vấn đề các em thường đặt
những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản đề để nhận thức chân lý một cách sâu
sắc hơn. Thanh niên cũng thích những vấn đề có tính triết lí vì thế các em rất thích
nghe và thích ghi chép những câu triết lý.
Nhìn chung tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ
linh hoạt và nhạy bén hơn. Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề
một cách rất nhanh. Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn, giúp đỡ các em tư duy một
cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng.
Việc phát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học là một trong những
nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên. Trong đó, sử dụng SĐTD là một PPDH
hiệu quả, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, vừa góp phần tích cực
vào sự phát triển khả năng nhận thức của học sinh.
8
3. Nội dung và chương trình dạy học Làm văn lớp 12 THPT

văn nghị luận
Trực quan là nhóm PPDH nhằm thúc đẩy học sinh sử dụng nhiều giác quan
vào quá trình dạy học. Phương pháp này giúp học sinh hứng thú hơn, hiểu sâu sắc,
nhớ chính xác và vận dụng kiến thức linh hoạt.
Sơ đồ tư duy giúp giáo viên có một công cụ hữu ích để trực quan hóa kiến
thức bài học. Bởi lẽ, SĐTD sử dụng những hình ảnh, từ khóa dễ nhớ - có thể lấy từ
sách giáo khoa hoặc do học sinh tự vẽ, tự sáng tạo. Một số phần mềm tạo lập
9
SĐTD mới còn cho phép chèn thêm âm thanh, đường dẫn… Như vậy, bằng vốn tư
liệu sẵn có hoặc bằng khả năng liên tưởng, sáng tạo, giáo viên có thể giúp học sinh
biến toàn bộ nội dung bài giảng khô khan thành những hình ảnh sinh động, hấp
dẫn.
Ví dụ, hướng dẫn học sinh tìm hiểu những ý tưởng cho bài văn về “bạo lực
học đường”, giáo viên có thể sử dụng SĐTD với hình ảnh gây ấn tượng:
Để có nhiều hình ảnh trực quan sinh động, giáo viên và cả học sinh có thể
sưu tầm từ sách, báo, tạp chí , đặc biệt là từ mạng internet.
1.2. Sơ đồ tư duy là một công cụ gợi mở ý tưởng cho học sinh trong quá
trình làm văn nghị luận
Đặc trưng của văn nghị luận đòi hỏi học sinh không chỉ nắm được kĩ năng
xây dựng hệ thống lập luận mà còn phải có ý tưởng sâu sắc. Những lí lẽ và dẫn
chứng có thể được khái quát từ nhiều nguồn nhưng quan trọng hơn cả vẫn là khả
năng tự khám phá của học sinh. Điều quan trọng là làm thế nào để học sinh có
những ý tưởng toàn diện cho đề bài văn nghị luận.
Xét về tổng thể, quá trình tìm ý cho bài văn nghị luận rất gần với quá trình
tạo lập SĐTD. Mối quan hệ tầng bậc giữa các nhánh, giữa ý lớn và ý nhỏ phản ánh
quá trình tư duy của học sinh từ khái quát đến cụ thể. Mặt khác, sơ đồ tư duy còn
tạo nên những cấu trúc logic, gợi cho học sinh những ý tưởng để triển khai bài văn
nghị luận một cách mạch lạc, chặt chẽ.
Ví dụ, phương Tây ca ngợi vai trò “6 người đầy tớ trung thành của các nhà
khoa học”: 5W1H, tương ứng với các câu hỏi: Who (ai?), What (cái gì?), Where

được ưu tiên đặt trước, những nhánh chứa nội dung đơn giản, cụ thể được trình bày
sau. Chỉ cần nhìn vào các nhánh trên SĐTD ta cũng có thể mở rộng được sự liên
hệ giữa các nhánh với nhau và giữa mỗi nhánh với sơ đồ tổng thể. Từ đó, SĐTD
giúp giải quyết hiệu quả những vấn đề có nhiều hướng phát triển như suy nghĩ về
các vấn đề xã hội và vấn đề văn học.
Hơn nữa, trong quá trình tạo lập SĐTD, bản thân người học phải tìm hiểu
kiến thức từ nhiều nguồn tư liệu, theo nhiều hướng khác nhau rồi mới lựa chọn,
sắp xếp, phân loại thành hệ thống ý và hoàn thiện trên sơ đồ. Với các bước làm
như vậy, người học đã thực hiện cùng lúc thao tác hệ thống hóa và khái quát hóa
vấn đề. Chính vì vậy, SĐTD là một công cụ hữu ích để phát triển năng lực khái
quát hóa cho học sinh trong quá trình làm văn nghị luận.
Ví dụ, thông qua phân tích ngữ liệu, giáo viên giúp học sinh sơ đồ hóa cấu
trúc cơ bản của một bài làm văn nghị luận về một ý kiến bàn về văn học:
2. Biện pháp ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Làm văn 12
2.1. Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà bằng sơ đồ tư duy
Việc chuẩn bị bài của học sinh không chỉ đơn thuần là bước đầu làm quen
với kiến thức mà còn là sự tổ chức lại kiến thức trong một cấu trúc mới để kiến
thức trở nên tinh gọn hơn, giúp học sinh ghi nhớ kiến thức lâu dài. Do vậy, việc
đầu tiên là phải thông hiểu kiến thức. Việc thông hiểu kiến thức này phải qua quá
12
trình tư duy, qua việc thực hiện các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, khái
quát hóa, hệ thống hóa… để xử lý thông tin nhằm tìm ra các thuộc tính bản chất
của khái niệm.
Theo cách thức học truyền thống, học sinh hầu hết soạn bài theo hệ thống
câu hỏi trong sách giáo khoa. Từ đó dẫn đến thực trạng học sinh đối phó bằng cách
chép sách tham khảo hoặc chép bài của bạn, là mất đi hiệu quả thực sự của hoạt
động chuẩn bị bài ở nhà. Vì thế, để khắc phục những hạn chế trên, giáo viên cần
hướng dẫn học sinh chuẩn bị cho những bài học làm văn nghị luận bằng SĐTD.
- Bước 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định vấn đề trung tâm của bài
học

2.2.2. Hướng dẫn học sinh học tập hợp tác, tự hình thành tri thức, kĩ năng
Quá trình học tập đòi hỏi học sinh làm việc cộng hưởng nhằm mục đích tìm
ra kết quả tối ưu cho vấn đề cần giải quyết. Trong đó, giáo viên cần hướng dẫn học
sinh từng bước khám phá tri thức, hoàn thiện SĐTD theo hướng mở.
14
Cách thứ nhất: Giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm chịu trách
nhiệm thảo luận về một vấn đề nào đó, sau đó cùng hoàn thiện thành SĐTD.
Ví dụ, khi dạy bài “Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học”, giáo viên có
thể chia lớp thành 3 nhóm giải quyết đề bài số 1: Nhóm I giải thích và chứng minh
nội dung “văn học Việt Nam rất phong phú và đa dạng”, nhóm II giải thích và
chứng minh nội dung “văn học văn học yêu nước là chủ lưu xuyên suốt lịch sử văn
học Việt Nam”, nhóm III lí giải nguyên nhân khiến văn học yêu nước trở thành chủ
lưu xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam. Các nhóm thảo luận, trình bay nội dung
ra bảng phụ rồi cùng ghép lại thành một sơ đồ tổng thể.Giáo viên nhận xét, chỉnh
sửa, trình chiếu phần chuẩn bị của mình lên bảng cho học sinh tham khảo.
Cách thứ hai: Giáo viên yêu cầu học sinh làm việc cá nhân. Sau đó, giáo
viên yêu cầu một số em trình bày ý tưởng về nội dung bài học. Các học sinh khác
theo dõi, nhận xét, bổ sung để hoàn thiện sơ đồ. Cùng vấn đề, nhưng mỗi học sinh
lại có cái nhìn khác nhau, cách thể hiện khác nhau.
Sơ đồ tư duy giúp giáo viên dễ dàng hướng dẫn học sinh nắm được cấu trúc
của từng kiểu bài. Giáo viên có thể xây dựng sơ đồ các dạng đề bài nghị luận xã
hội và nghị luận văn học. Chắc chắn với các “công thức” này, học sinh không phải
lo lắng đến việc không tìm ra ý tưởng viết văn nữa; mà chỉ cần chọn lọc, sắp xếp
các ý tưởng của mình tìm được để có một bài viết đủ ý, bố cục rõ ràng, mạch lạc,
chặt chẽ.
15
Ví dụ: hệ thống sơ đồ cho các dạng đề nghị luận:
Sơ đồ tư duy cấu trúc bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Sơ đồ tư duy cấu trúc bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí
16

2.2.4. Hướng dẫn học sinh ứng dụng sơ đồ tư duy để thực hành lập dàn ý
cho bài văn nghị luận
Làm văn nghị luận đòi hỏi nhiều kĩ năng nhưng trong đó lập ý vẫn là kĩ năng
quan trọng bậc nhất. Sauk hi tìm hiểu đề, học sinh phải tìm ý và lập dàn ý cho bài
văn. Gơt-tơ, nhà văn nổi tiếng của Đức quả quyết: Tất cả đều lệ thuộc vào bố cục.
Còn Đôt-tôi-ep-xki, nhà văn Nga của thế kỉ XX ước ao: Nếu tìm được một bản bố
cục đạt thì công việc sẽ nhanh như trượt trên băng. Ix-pen, một nhà văn của Thuỵ
Điển đã để hẳn một năm lao động xây dựng bố cục cho bản trường ca và ông đã
hoàn thành bản trường ca đó trong ba tháng. Thật vậy, để làm một dàn ý tốt không
phải dễ. Muốn có một dàn ý tốt thì ngoài việc nghiên cứu kĩ đề để lĩnh hội yêu cầu
của đề còn phải có thói quen bố trí cho khoa học. Có nhiều học sinh cho rằng: Thời
gian làm bài rất hạn chế, chỉ 90 phút nếu còn phải lập dàn ý thì lãng phí mất
khoảng thời gian quý báu! Sự thật không phải như vậy. Dàn ý là nội dung sơ lược
của bài văn. Nói cách khác, đó là những hệ thống suy nghĩ, tìm tòi, nhận xét, đánh
giá của học sinh dựa trên yêu cầu cụ thể của đề bài. Lập dàn ý trước khi viết bài có
những cái lợi sau:
- Nhìn được một cách bao quát toàn bộ nội dung chủ yếu mà bài làm cần đạt
được, đồng thời thấy được mức độ giải quyết vấn đề đáp ứng những yêu cầu của đề
bài, tránh bài làm xa lệch trọng tâm.
- Thông qua việc làm dàn ý, học sinh có điều kiện suy nghĩ sâu sắc và toàn
diện hơn để điều chỉnh hệ thống luận điểm. Lập dàn ý sẽ tránh tình trạng bỏ sót
những ý quan trọng và tránh những ý thừa.
- Dàn ý cụ thể giúp học sinh chủ động phân chia thời gian giữa các phần cho
hợp lí, giúp bài viết cân đối.
19
Ở mỗi đề luyện tập, giáo viên thường yêu cầu học sinh lập dàn ý. Ta thường
thấy các em lập dàn ý theo đề mục. Học sinh thường đánh dấu các ý lớn, ý nhỏ của
một dàn ý bằng số, gạch đầu dòng hoặc cộng đầu dòng. Cách lập dàn ý này cũng
khá khoa học nhưng học sinh vẫn phải viết cả câu văn, đoạn văn. Nếu vậy, các em
vẫn mất nhiều thời gian trong khi đó thời gian cho một buổi thi không nhiều. Hơn

bài trước khi thi.
Sử dụng SĐTD trong dạy học làm văn nghị luận sẽ giúp học sinh khắc phục
được những hạn chế đó. Thực tế cho thấy, sau mỗi giờ học, khi cần củng cố lại
kiến thức về bố cục kiểu bài hay những vấn đề cụ thể, học sinh chỉ cần nhìn vào
SĐTD có thể tái hiện được 80%  90% kiến thức bài học. Đến khi chuẩn bị thi
cử, kiểm tra, học sinh cũng không cần quá nhiều thời gian như phương pháp
truyền thống mà chỉ cần quan sát hay vẽ lại sơ đồ tổng thể vẫn có thể tái hiện toàn
bộ nội dung bài học một cách cụ thể, chi tiết (tham khảo hệ thống SĐTD cho các
kiểu bài văn nghị luận cơ bản ở phần trước).
So sánh SĐTD của giáo viên với sơ đồ do học sinh tự vẽ, giữa sản phẩm của
học sinh với nhau, có thể thấy học sinh không chỉ nắm bắt được nội dung bài học
mà đã có sáng tạo. Điều đó chứng tỏ kiến thức, kĩ năng đã thực sự chuyển hóa vào
tư duy các em.
21
Hình họa minh SĐTD cấu trúc kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
22
Sơ đồ tư duy giúp học sinh ôn tập cả nội dung vấn đề và cấu trúc dạng đề
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Kết quả thực nghiệm được đánh giá dựa trên các phương diện của sự nhiệt
tình học tập, động cơ, sự chủ động - tích cực và chất lượng, hiệu quả nhận thức.
Qua dự giờ, quan sát, chúng tôi nhận thấy:
- Ở lớp đối chứng: Giáo viên dạy học theo giáo án thông thường. trong giờ
dạy vẫn chủ yếu là giáo viên thuyết trình, học sinh yên lặng lắng nghe và ghi chép.
Tuy học sinh cũng có trả lời các câu hỏi giáo viên đặt ra nhưng chưa thể hiện sự
hứng thú và tự giác. Học sinh còn thụ động trong học tập, chưa thể hiện được vai
trò là chủ thể của hoạt động nhận thức. Phần lớn các giáo viên ở lớp đối chứng đều
“lướt nhanh” hệ thống kiến thức, thường chỉ tập trung thời gian để trả lời các câu
hỏi dạng bài tập vận dụng. Các sơ đồ, bảng biểu thường do giáo viên tự chuẩn bị,
học sinh quan sát và nghe giảng.
Kết quả bài kiểm tra cho thấy đa số học sinh nắm được bài, có kĩ năng nhận

SĐTD dễ kiếm, kinh tế, cách làm đơn giản và có thể vận dụng với bất kỳ điều
kiện nào của các nhà trường hiện nay. SĐTD có thể được vẽ trên giấy bìa, bảng
phụ, sử dụng bút chì, màu, phấn, tẩy… hoặc cũng có thể thiết kế trên powerpoint
hay các phần mềm chuyên dùng để hỗ trợ thiết kế SĐTD. Với các trường có cơ
sở hạ tầng thông tin tốt có thể cài vào phần mềm máy tính cho cán bộ, giáo viên,
học sinh sử dụng. Tuy nhiên, đa số đều cho rằng việc sử dụng giấy, bút chì, bút
màu, tẩy để vẽ SĐTD có ưu điểm là giúp người học dễ dàng phát triển ý tưởng và
bổ sung ý tưởng, qua đó phát huy tính sáng tạo của mỗi người. Mặt khác, SĐTD
còn giúp phát triển năng khiếu hội hoạ, sở thích lựa chọn tự do màu sắc, đường
nét. Do tự "sáng tác" nên mỗi SĐTD thể hiện rõ cách hiểu, trình bày kiến thức
của mỗi cá nhân; đồng thời do chính bản thân học sinh làm ra nên các em càng
yêu quý, trân trọng "tác phẩm" của mình; từ đó làm tăng mức độ hứng thú và tính
chủ động, tích cực sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
văn nói chung, dạy học Làm văn nghị luận nói riêng.
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ
Sơ đồ tư duy là một công cụ học tập hiệu quả, có tác dụng thúc đẩy khả năng
tư duy, ghi nhớ của con người. Đây không chỉ là một biện pháp hỗ trợ tốt cho học
24
sinh trong việc học tập, làm bài văn nghị luận mà còn có thể sử dụng rộng rãi ở các
nội dung, phân môn, lĩnh vực khác. SĐTD cần được áp dụng vào quá trình dạy học
văn nói chung, dạy văn nghị luận nói riêng trong trường THPT để học sinh bắt
nhịp được với PPDH mới.
Mặc dầu có nhiều ưu điểm nhưng trên thực tế việc ứng dụng SĐTD trong
dạy học Làm văn nghị luận cũng cho thấy những hạn chế của phương pháp này:
- Còn khá nhiều học sinh chưa quen với cách tiếp nhận bài giảng một cách
chủ động.
- Khả năng vẽ SĐTD của một số học sinh chưa tốt nên hiệu quả dạy học
chưa cao.
- Kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ của học sinh bị hạn chế.
Ứng dụng SĐTD trong dạy học Làm văn nghị luận 12 cũng cho thấy,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status