PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂN PHÚ
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN QUỐC TOẢN
Mã số:
(Do HĐKH Phòng GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY - HỌC
MỘT SỐ MÔN HỌC Ở LỚP 4
Người thực hiện: Trần Thị Thúy Vân
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: ………………….
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác:
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2011-2012
2
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Trần Thị Thúy Vân
2. Ngày tháng năm sinh: 03 - 11- 1984
3. Nam, nữ: nữ
4. Địa chỉ: 16/1, ấp Ngọc Lâm 1, xã Phú Thanh, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
5. Điện thoại: 0613856219 (CQ)/ (NR); ĐTDĐ: 0987919349
6. Fax: E-mail: [email protected]
7. Chức vụ: giáo viên
8. Đơn vị công tác: Trường tiểu học Trần Quốc Toản
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Đại học
- Năm nhận bằng: 2009
hơn nhưng các em vẫn chưa có ý thức chuẩn bị.
Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan song phải kể đến nguyên
nhân chính là do phương thức học tập của HS chưa tích cực và phương pháp
giảng dạy của GV chưa thực sự thu hút được sự hứng thú học tập nhằm phát huy
năng lực học tập của HS.
Cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới
phương pháp dạy học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm được đặt ra
một cách bức thiết. Bản chất của dạy học lấy người học làm trung tâm là phát
huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. Theo quan
điểm trên, một hình thức dạy học mới đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều
trường phổ thông đó chính là sử dụng sơ đồ tư duy.
Ưu điểm lớn nhất của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học là dễ áp
dụng, dễ nhân rộng. Giáo viên chỉ cần bảng đen và hộp phấn màu. Học sinh chỉ
cần tờ giấy trắng và bút từ một đến nhiều màu mực. Với yêu cầu lập sơ đồ tư
duy, giáo viên có thể để học sinh làm việc cá nhân hoặc theo nhóm. Bất kỳ môn
nào giáo viên cũng có thể ứng dụng sơ đồ tư duy. Thực hiện sơ đồ tư duy giúp
học sinh rèn luyện kỹ năng và tư duy khoa học, đặc biệt ghi nhớ được sâu sắc
mà không sa vào lối học vẹt, thuộc lòng máy móc, như vừa học vừa chơi, thoải
mái, không áp lực, không buồn chán nữa… Một hình thức giảm tải mà không
giảm yêu cầu.
Nhận thấy các ưu điểm trên cũng như đặc điểm nhận thức, tư duy của học
sinh giai đoạn cuối tiểu học, tôi mạnh dạn ứng dụng sơ đồ tư duy vào trong
dạy - học một số môn học cho học sinh lớp 4.
4
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
Sau khi nghiên cứu cuốn sách “Tôi tài giỏi- Bạn cũng thế” của tác giả
Adam Khoo cùng với lời giới thiệu của Tony Buzan tôi hiểu được:
Sơ đồ tư duy (SĐTD) còn gọi là bản đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình
thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một
giữa các vùng miền, giữa thiên nhiên và con người… Lượng kiến thức ấy
không phải là ít và dễ dàng tiếp nhận. Hơn nữa học sinh tiểu học còn thích được
vẽ, thích tưởng tượng, thích vừa học vừa chơi. Chính vì vậy ứng dụng sơ đồ tư
duy vào dạy – học cho học sinh lớp 4 góp phần giúp học sinh biết cách tiếp
nhận thông tin, ghi chú, ôn luyện hiệu quả vẫn không cảm thấy quá tải, vẫn
hứng thú với các môn học này.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
5
Trước hết tôi cho học sinh làm quen với SĐTD bằng cách giới thiệu cho
học sinh một số SĐTD cùng với sự dẫn dắt của giáo viên để các em tập đọc
hiểu SĐTD, sao cho chỉ cần nhìn vào SĐTD bất kì học sinh nào cũng có thể
thuyết trình được nội dung một bài học hay một chủ đề, một chương theo mạch
logic của kiến thức.
Sau đó tôi hướng dẫn học sinh lập SĐTD theo các bước như sau:
Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm
Bước đầu tiên trong việc tạo ra một SĐTD là vẽ chủ đề ở trung tâm trên
một mảnh giấy (đặt nằm ngang). Muốn xác định được chủ đề tôi hướng dẫn học
sinh dựa vào tên bài học vì thông thường tên bài chứa nội dung trọng tâm của
bài.
* Quy tắc vẽ chủ đề:
1. Học sinh cần phải vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý
khác.
2. Học sinh có thể tự do sử dụng màu sắc mà các em yêu thích.
3. Học sinh không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ
đề cần được làm nổi bật để dễ nhớ.
4. Học sinh có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ
ràng.
5. Một bí quyết vẽ chủ đề là chủ đề nên được vẽ to cỡ hai đồng xu “5000
đồng”.
Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ
4. Chúng ta thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể
hơn.
Bước 4: Hoàn thiện sơ đồ
Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng của học sinh bay bổng. Học
sinh có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng
như giúp lưu chúng vào trí nhớ của bạn tốt hơn.
Có thể tóm tắt một số hoạt động dạy học trên lớp với SĐTD:
Hoạt động 1: HS lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân với gợi ý của GV.
Hoạt động 2: HS hoặc đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết minh
về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.
Hoạt động 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về
kiến thức của bài học đó. GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn
chỉnh SĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn
hoặc một SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho HS lên trình
bày, thuyết minh về kiến thức đó.
Ví dụ 1 : Áp dụng trong văn miêu tả lớp 4.
Ở những tiết hướng dẫn học sinh quan sát, tìm ý các em có thể chọn chủ đề
là đồ vật mà các em định quan sát. Vẽ đơn giản hình ảnh đồ vật đó, sau đó vẽ
các nhánh biểu thị cho các giác quan thường dùng khi quan sát: mắt, mũi, tay,
tai…từ các giác quan đó học sinh bắt đầu tìm ý bằng cách trả lời câu hỏi nghe
thấy gì? Nhìn thấy gì? Sờ thấy gì? Ngửi thấy gì? Từ những gì các em tìm được
ở nhánh “cháu” học sinh lại tiếp tục suy nghĩ để tìm ra những từ ngữ đa dạng
hơn, phong phú hơn bằng cách động não và vẽ thêm các nhánh phụ tiếp theo.
Chẳng hạn khi tìm được từ chỉ hình dáng là mập thì các em cố gắng tìm thêm
nhánh con như mập ú, mập núng nính, mập tròn…Hay da trắng thì phải nghĩ
thêm là trắng hồng, trắng mịn, hay trắng ngần…Như vậy, với việc vẽ SĐTD
học sinh có thể phát huy được hết khả năng ngôn ngữ của mình, tìm ý sâu sắc
hơn, phong phú hơn và không bị bỏ sót các ý hay.
Từ SĐTD này, mỗi lần quan sát một đối tượng gì học sinh chỉ việc thay tên
- Vì sao lại nhường ngôi?
1. Lý Huệ Tông không có con trai truyền ngôi cho con gái là
Chiêu Hoàng
2. Chiêu Hoàng mới 7 tuổi
Trong ví dụ này tôi tiếp cho học sinh đọc câu hỏi: Nhà Trần đã có những
việc làm gì để củng cố xây dựng đất nước?
- Học sinh vẽ các tiêu đề 2: củng cố, xây dựng
- Sau đó các em tự suy nghĩ và phát triển các tiêu đề này thành các
nhánh
Nhánh con 2- 1: chia thành 12 lộ
8
Nhánh con 2- 2: nhường ngôi sớm
Nhánh con 2- 3: chuông ở thềm cung điện
Vua – quan - dân gần gũi
Quân đội
nông nghiệp
Như vậy, tôi luôn tập cho học sinh biết đặt và có thói quen đặt câu hỏi sau mỗi
nhánh các em vẽ để tư duy của các em không ngừng phát triển, và luôn luôn phát
triển sơ đồ theo hướng mở, từ nhánh này lại sinh ra nhánh con, cháu, chắt,
Đối với các bài học tiếp theo tôi cho học sinh tiếp tục vẽ vào sơ đồ này và hoàn
chỉnh một triều đại lịch sử gồm 3 bài với chỉ một trang giấy(xem phụ lục 2).
- Chuẩn bị bài với SĐTD:
Để việc học bài mới đạt hiệu quả hơn, tôi giao việc cho học sinh ở khâu chuẩn
bị bài trước. Nếu trước đây chúng ta chỉ yêu cầu học sinh về xem trước bài thì
chúng ta cũng khó có thể đánh giá được các em có xem hay không. Việc giao việc
vẽ SĐTD cụ thể cho mỗi bài học, chúng ta có thể dễ dàng kiểm soát được việc
chuẩn bị của các em qua sản phẩm cụ thể đó chính là bản vẽ của các em. Giáo viên
gợi ý học sinh đọc tài liệu sau đó tự đọc lướt xác định ý chính, tự đặt câu hỏi và
phát triển các ý chính như khi vẽ SĐTD ở trên lớp. Ban đầu tôi giao việc theo
nhóm các học sinh ở gần nhà, sau đó giao việc cá nhân cho học sinh. Đến giờ lên
chằng chịt thì học sinh có thể vẽ theo ý tưởng của các em chẳng hạn nối các
ngón tay lại với nhau hoặc là vẽ cái áo ông ta đang mặc được dệt bằng lưới,
v.v ông ta đang rất thèm nước ngọt (vẽ chai nước ngọt đang hiện ra trong suy
nghĩ của ông) vì mùa khô ở đây thường thiếu nước ngọt( xem phụ lục 2).
- Ôn luyện với SĐTD:
Sau khi học bất cứ vấn đề gì thì cũng cần ôn luyện vì theo nguyên lý đào
thải nếu không ôn tập, vận dụng một thời gian thì chắc chắn chúng ta sẽ quên
những gì đã học. Vì vậy, sau mỗi bài học giáo viên có thể giúp học sinh học bài,
nhớ bài ngay tại lớp bằng cách đọc lại sơ đồ tư duy. Về nhà các em có thể ôn luyện
lại để nhớ lâu hơn. Nên thường xuyên sử dụng sơ đồ tư duy khi làm việc nhóm và
hệ thống kiến thức đã học trong các môn học ở trường, đặc biệt là khi ôn tập cho
các kỳ thi.
* Bốn mốc thời gian ôn luyện
Theo Lê Phan Viên Hy, huấn luyện viên Trung tâm đào tạo kỹ năng sống
TGM, sau khi vẽ xong, ngay lập tức ghi các thời điểm ôn lại vào góc nhỏ trên sơ
đồ. Đồng thời ghi các thời điểm đó vào sổ tay để xem và thiết lập thời gian. Thời
gian ôn luyện lý tưởng như sau: 10 phút, 1 ngày, 1 tuần và 1 tháng sau khi vẽ.
Các bước ôn luyện như sau:
Nhìn qua sơ đồ, không đọc nội dung mà ước chừng thời gian để có thể ghi lại
hết các nét và từ khóa.
Chỉnh đồng hồ báo thức đúng thời lượng rồi bắt đầu học bài bằng việc ghi lại
từng nhánh sơ đồ.
Đối chiếu bài làm với bản chính.
Có thể trong lần đầu sẽ thiếu sót một vài từ khóa, một vài nhánh, hãy nhìn kỹ
những từ khóa đó để chắc chắn sẽ không quên trong lần ôn tiếp theo.
* Mẹo học và ôn bài kết hợp với SĐTD
Chúng ta khó mà nhớ nổi những gì chúng ta học là vì cách ghi chú truyền
thống rất nhạt nhẽo, đơn điệu. Chúng ta sẽ tăng cường được sức mạnh của trí nhớ
bằng cách tạo ra những ghi chú làm nổi bật thông tin. Chúng ta cũng có khuynh
hướng ghi nhớ những sự việc buồn cười, khác thường, chúng ta thường hay nhớ
không còn tình trạng đọc vẹt ghi nhớ, nội dung bài học mà có thể trả lời được các
câu hỏi do giáo viên đưa ra. Học sinh còn có khả năng nhớ lâu hơn nhờ tác dụng
của sơ đồ tạo hình sinh động và khoa học.
+ Việc chuẩn bị bài mới bằng SĐTD giúp giáo viên có thể kiểm soát được
100% học sinh có chuẩn bị.
Nghiên cứu được tiến hành trên lớp 4.1 trường TH Trần Quốc Toản. Thực
nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế từ tuần thứ 6 đến tuần 19 năm học 2011-
2012. Sau 2 tuần lại tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm trong tổ khối một lần và tiếp
tục thực hiện báo cáo chuyên đề cấp trường, cụm, huyện năm học 2011- 2012.
Qua nghiên cứu và thu thập số liệu, kết quả độ chênh lệch điểm trung bình
T-test cho kết quả 0,008 cho thấy tác động đã có ảnh hưởng đến chất lượng học tập
của lớp 4.1-> chất lượng ngày một nâng lên rõ rệt (xem phụ lục 1).
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
- Việc vận dụng SĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch
lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống,
khoa học. Sử dụng SĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như
vấn đáp gợi mở, thuyết trình,… có tính khả thi cao góp phần đổi mới PPDH.
- Đề xuất: Đối với cấp lãnh đạo: Cùng giáo viên nghiên cứu, hỗ trợ, hướng
dẫn các phương pháp nghiên cứu để nâng cao số lượng và chất lượng của các
nghiên cứu khoa học. Đối với giáo viên: Không ngừng học tập nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ. Biết tích lũy, học hỏi những kinh nghiệm quý báu từ đồng
nghiệp và biết vận dụng những kinh nghiệm ấy sao cho phù hợp khi dạy HS lớp
mình. Luôn tích cực đầu tư nghiên cứu tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng
dạy – học.
- Bằng những kinh nghiệm tôi đã rút ra sau nhiều năm giảng dạy ở trường,
qua những bài học thu được từ các đồng nghiệp, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của
Ban Giám Hiệu nhà trường, của tổ chuyên môn, tôi đã hoàn thành sáng kiến kinh
nghiệm “ Ứng dụng sơ đồ tư duy vào trong dạy - học một số môn học cho học
sinh lớp 4”. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các đồng nghiệp để vốn kinh
nghiệm giảng dạy của tôi được phong phú hơn.
p trước tác động
0.11144475
KẾT LUẬN
Không có nghĩa, 2 nhóm tương đương
p = 0,11 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm
thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương.
13
Bảng thiết kế nghiên cứu.
LỚP THỰC NGHIỆM
LỚP ĐỐI CHỨNG
MÔ TẢ DỮ LIỆU
Bài KT trước
TĐ
Bài KT sau
TĐ
Bài KT trước
TĐ
Bài KT sau
TĐ
Mode
5
9
9
5
Trung vị
6
8
7
6
Giá trị TB cộng
7.91
6.44
Độ lệch chuẩn
1.44
1.83
Giá trị p của T-test
0.00073533026419025100
Mức độ ảnh hưởng
0.8024
b) Phân tích dữ liệu: Kết quả kiểm tra sau tác động cho thấy điểm
trung bình của HS lớp 4.1 là 7,91 cao hơn nhiều so với điểm trung bình kiểm
tra trước tác động là 6,13. Điều này chứng tỏ chất lượng học của HS lớp 4.1đã
được nâng lên rõ rệt
- Độ chênh lệch điểm trung bình T-Test cho kết quả p =0,0007< 0,05 cho
thấy độ chênh lệch điểm khảo sát trung bình trước và sau tác động là có ý
nghĩa, tức là sự chênh lệch điểm trung bình khảo sát trước và sau tác động là
14
không xảy ra tự nhiên mà là do tác động của giải pháp thay thế đã mang lại hiệu
quả .
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0,80 so sánh với bảng tiêu chí
0,05 cho thấy mức độ ảnh hưởng của giải pháp đã nêu ra của nhóm thực
nghiệm là lớn.
c) Bàn luận.
Ưu điểm:
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động là 7,91 còn kết quả của bài kiểm tra
trước tác động là 6,13. Điểm chênh lệch trung bình của khảo sát trước và sau
tác động là 0,80. Điều này cho thấy điểm trung bình khảo sát sau tác động lớn
hơn điểm trung bình khảo sát trước tác động .
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn: SMD=0,80. Điều này có nghĩa mức
độ ảnh hưởng là lớn.
Vũ Minh Hiệp
5
6
5
Nguyễn Đức Hiếu
6
10
6
Võ Quốc Huy
5
6
7
Phạm Thị Ngọc Huyền
6
9
8
Trần Thị Thu Huyền
8
9
9
Lê Công Khánh
5
8
10
Nguyễn Quốc Khánh
8
10
11
Tạ Thị Kim Liễu
5
19
Nguyễn Quốc Phong
5
8
20
Nguyễn Như Sương
9
9
21
Nguyễn Minh Tâm
6
7
22
Nguyễn Thị Hoài Tâm
6
7
23
Bùi Võ Quốc Thiện
8
10
24
Trần Quốc Thông
7
10
25
Nguyễn Đức Thuận
6
8
26
Đinh Hoàng Phương Trang
Sau TĐ
1
Dương Hòang Phi Anh
6
6
2
Trần Thị Kim Chi
8
8
3
Trương Tr Ngọc Thành Công
6
5
4
Phạm Thị Mỹ Dung
9
9
5
Nguyễn Kiều Duyên
9
9
6
Vũ Đình Giang
8
8
7
Nguyễn Thị Bích Hiền
5
5
8
9
16
Vũ Thị Quỳnh Như
6
5
17
Bùi Nguyên Cẩm Nhung
7
8
18
Lê Tuyết Nhung
5
5
19
Phạm Duy Phương
5
5
20
Nguyễn Văn Quang
5
5
21
Nguyễn Thị Diễm Quỳnh
7
8
16
22
Phạm Văn Sỹ
8
8
7
6
31
Nguyễn Minh Tuấn
7
6
32
Nguyễn Thùy Vy
9
9
17
Phụ lục 2
18
19
20
Môn Lịch sử - Địa lí
21
PHÒNG GD&ĐT TÂN PHÚ
TRƯỜNG TH TRẦN QUỐC TOẢN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Phú Xuân, ngày 16 tháng 01 năm 2012
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2011-2012
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
Ứng dụng sơ đồ tư duy vào trong dạy - học một số
môn học cho học sinh lớp 4
Họ và tên tác giả: Trần Thị Thúy Vân Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường TH Trần Quốc Toản