TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
HÀ THỊ LÝ
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƢ DUY VÀO DẠY
HỌC BÀI ÔN TẬP PHẦN TIẾNG VIỆT
TRONG SGK NGỮ VĂN LỚP 10
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
Ngƣời hƣớng dẫn khóa luận : TS. Phạm Kiều Anh
HÀ NỘI- 2015
LỜI CẢM ƠN
Xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô
giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là TS. Phạm Kiều Anh đã tận tình giúp đỡ, hướng
dẫn, chỉ bảo tận tình cho em trong quá trình thực tập và hoàn thành đề tài
khóa luận này.
Do thời gian và khuôn khổ cho phép của đề tài còn nhiều hạn chế nên
không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của các thầy cô và các bạn để tiếp tục xây dựng đề tài hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2015
Tác giả
Nxb
Nhà xuất bản
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
THPT
Trung học phổ thông
TS
Tiến sĩ
SĐTD
Sơ đồ tư duy
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
7
1.1. Cơ sở lý luận về sơ đồ tư duy trong dạy học
7
1.1.1. Tư duy và đặc điểm tư duy của học sinh THPT
1.1.2. Giới thiệu chung về SĐTD
7
10
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng SĐTD vào dạy học bài “Ôn tập
phần tiếng Việt”
15
1.2.1. Điều tra, thăm dò ý kiến và dự giờ giáo viên
15
1.2.2. Điều tra thăm dò ý kiến HS
16
1.2.3. Đánh giá chung về thực trạng dạy học bài “Ôn tập phần tiếng
Việt”
2.4.1. Sử dụng SĐTD trong việc hệ thống kiến thức “Hoạt động giao
tiếp bằng ngôn ngữ”
24
2.4.2. Sử dụng SĐTD trong việc hệ thống lý thuyết “Văn bản”
25
2.4.3. Sử dụng SĐTD trong việc hệ thống hóa kiến thức “Phong cách
ngôn ngữ sinh hoạt” và “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”
26
2.4.4. Sử dụng SĐTD tổng hợp kiến thức “Những yêu cầu về sử dụng
tiếng Việt”
27
2.5. Quy trình hướng dạy bài “Ôn tập phần Tiếng Việt” có sử dụng
SĐTD
2.5.1. Hoạt động 1: Hướng dẫn HS hệ thống kiến thức của Tiếng Việt
Tiểu kết chương 2
30
Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm
31
45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
46
PHỤ LỤC
47
MỞ ĐẦU
1. Lý do chon đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI- thế kỉ của sự bùng nổ tri thức
khoa học và công nghệ. Để có thể phát triển theo kịp xu thế thời đại, Việt
Nam cần có những con người có tri thức, có tư duy sáng tạo. Yêu cầu đó của
thực tế xã hội đòi hỏi nền giáo dục của nước ta phải đổi mới một cách toàn
diện. Cũng vì thế, một trong những việc làm thiết yếu hiện nay của giáo dục
là nghiên cứu và sử dụng hệ thống phương pháp dạy học tích cực. Tuy nhiên,
trên thực tế, việc đổi mới giáo dục hiện nay còn nhiều tồn tại. Các hoạt động
dạy và học chưa thực sự tạo hứng thú, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh
(HS). Đây là hạn chế chung của nhiều bộ môn trong đó có môn Ngữ văn.
Tiếng Việt là một bộ phận của môn Ngữ văn. Có thể nói, việc dạy học
phân môn này có tầm quan trọng bởi nhờ có nó, HS không chỉ có những hiểu
biết về tiếng mẹ đẻ mà nó còn có vai trò trọng yếu trong việc giữ gìn và phát
huy tiếng nói dân tộc. Chất lượng dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông có
quan hệ trực tiếp đến năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy của các thế hệ nối
tiếp và ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh tiếng Việt, vận mệnh văn hoá Việt
Nam. Với tư cách là một môn học, tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho HS
hiệu quả giờ học không cao. Nhận thức tầm quan trọng của phân môn Tiếng
Việt trong chương trình THPT cũng như hướng tới việc đổi mới phương pháp
dạy học Tiếng Việt nói riêng, dạy học Ngữ văn nói chung, chúng tôi chọn đề
tài: “Sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học bài Ôn tập phần tiếng Việt trong SGK
Ngữ văn lớp 10”.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Lịch sử nghiên cứu SĐTD trong giáo dục
Sơ đồ tư duy (SĐTD) là một phương tiện làm việc được một số nhà
khoa học nghiên cứu và đề xuất. Ở nước ngoài, việc ứng dụng SĐTD vào
2
trong cuộc sống hằng ngày đã được Tony Buzan đề cập đến trong cuốn sách
“Sơ đồ tư duy”. Trong cuốn sách này Tony Buzan đã đưa ra các ứng dụng của
SĐTD trên nhiều lĩnh vực: đối với cá nhân, gia đình, trong lĩnh vực kinh
doanh, các lĩnh vực chuyên môn trong đó có giáo dục. Trong giáo dục, ban
đầu, SĐTD được sử dụng để soạn ghi chú cho bài giảng, hoạch định cho năm,
hoạch định cho một học kỳ, hoạch định cho ngày, bài học và cách trình bày,
thi cử, dự án. Trên cơ sở đó, Tony Buzan đưa ra bẩy lợi ích của việc sử dụng
SĐTD trong việc giảng dạy: SĐTD làm cho bài học cũng như cách trình bày
bài học ngẫu hứng, sáng tạo và lý thú hơn đối với cả GV, HS; nhờ SĐTD,
việc ghi chú bài giảng của GV trở nên linh hoạt; GV có thể làm mới, bổ sung
bài giảng một cách dễ dàng và nhanh chóng; SĐTD giúp người học đạt điểm
cao trong các kỳ thi; SĐTD giúp người học hiểu sâu hơn về chủ đề;Số lượng
ghi chú cho bài giảng giảm đi rất nhiều; SĐTD vô cùng hữu ích cho các em
thiếu niên “có vấn đề về học tập”, đặc biệt là những em mắc chứng khó đọc.
Sau cuốn sách này, Tony Buzan viết tiếp cuốn “Bản đồ tư duy trong
công việc” để cụ thể hóa việc vận dụng SĐTD. Kế thừa những kết quả đã
được trình bày trong công trình trên, Adam Khoo đã tiếp tục bàn về lợi ích
GV, HS chưa thực sự thành thạo và khai thác triệt để lợi ích của SĐTD. Vì
vậy, việc sử dụng SĐTD vào dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt” là một
trong những hướng nghiên cứu mới mẻ trong quá trình đổi mới PPDH, nâng
cao chất lượng dạy học Ngữ văn ở trường THPT.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm dụng ý tìm ra những cách tổ chức một giờ
ôn tập các tri thức của tiếng Việt một cách hệ thống, giúp cho các em không
chỉ nắm chắc các đơn vị kiến thức mà còn hệ thống được những kỹ năng cơ
bản đã được rèn luyện trong quá trình học tiếng Việt nói riêng, học môn
Ngữvăn nói chung.
4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, khóa luận phải thực hiện các nhiệm vụ
nghiên cứu dưới đây:
- Tổng hợp được nội dung ôn tập phần lý thuyết tiếng Việt theo SGK
Ngữ văn 10.
- Đề xuất cách sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) vào dạy học bài “Ôn tập
phần tiếng Việt”.
- Tổ chức thực nghiệm để đánh giá bước đầu tính khả thi của các đề
xuất trên.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Gắn với nội dung đề tài, khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu là
(SĐTD) được sử dụng trong quá trình giáo dục.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu SĐTD trong giáo dục, song khóa luận tập trung tìm hiểu sự
6
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận về SĐTD trong dạy học
1.1.1. Tư duy và đặc điểm tư duy của HS THPT
1.1.1.1. Khái niệm tư duy
Lịch sử phát triển của loài người cho thấy, để có thể phát triển như hiện
nay, con người phải lao động. Nhưng hoạt động lao động sẽ không đạt hiệu
quả nếu con người không có những hiểu biết, nhận thức. Con đường để thu
nhận được hiểu biết về thế giới khách quan chính là quá trình tư duy. Cho đến
nay, rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về tư duy và sự phát triển tư duy của
con người. Theo Từ điển Tiếng Việt: Tư duy là giao đoạn cao của quá trình
nhận thức, đi sâu vào nhận thức và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng
những hình thức, như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý (Từ điển Tiếng
Việt, Nxb Từ điển bách khoa, tr.1011).
Với quan niệm trên, có thể khẳng định tư duy là quá trình hoạt động
nhận thức với các mốc thực hiện mở đầu, diễn biến, kết thúc rõ ràng. Có thể
nói, tư duy là một hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục trong bộ não con
người. Nhờ có hoạt động này,con người có thể nhận thức về thế giới hiện thực
một cách sâu sắc hơn, không dừng lại ở giai đoạn nhận thức cảm tính mà
vươn tới một nấc thang cao hơn là nhận thức lí tính. Cũng vì thế, nhắc tới tư
duy là nhắc tới một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng khách quan
mà trước đó ta chưa biết. Nói cách khác, trước thực tiễn chằng chịt những mối
quan hệ phức tạp, con người buộc phải nhận thức thế giới bằng những quá
trình mới, phát hiện những thuộc tính mới, mối quan hệ mới của sự vật, hiện
8
kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần khác nhau của vỏ đại não lại dẫn tới
kết quả là bộ não của HS ở độ tuổi học THPT có những cấu trúc như trong
cấu trúc tế bào não của người lớn. Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức
tạp hoá hoạt động phân tích, tổng hợp… của vỏ bán cầu đại não trong quá
trình học tập”[11, tr.67]. HS ở tuổi này trưởng thành hơn, sở hữu nhiều kinh
nghiệm sống hơn, các em nhận ra được vị trí, vai trò của mình. Do vậy, thái
độ có ý thức của các em trong hoạt động học tập ngày càng được phát triển.
Đặc biệt ở lứa tuổi này, tính chủ động trong suy nghĩ của các em phát triển
mạnh mẽ. Quan sát của HS trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện
hơn, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ. Theo đó,
các em sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánh,
đối chiếu…. Không những vậy, trong quá trình nhận thức, các em tạo được
tâm thế phân hoá trong ghi nhớ, biết phân biệt tài liệu nào cần nhớ từng chữ,
cái gì chỉ cần hiểu mà không cần nhớ. Cũng do đặc điểm lứa tuổi, HS THPT
phát triển mạnh về tư duy hình thức. Các em có khả năng tư duy lý luận, tư
duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trước những đối tượng quen thuộc
hoặc chưa quen thuộc. Sự tổng hợp về năng lực tư duy và những đặc điểm
tâm lý của HS THPT chính là tiền đề để chúng ta khẳng định việc hình thành
năng lực tự học tập, tự nghiên cứu cho HS với việc sử dụng SĐTD trong dạy
học các bài tiếng Việt là một việc làm hợp lý có cơ sở khoa học.
Mặt khác, HS càng trưởng thành, kinh nghiệm sống ngày càng phong
phú, các em càng ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của
cuộc đời. Do vậy thái độ có ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát
triển. Thái độ của HS đối với các môn học trở nên có lựa chọn hơn. Ở các em
đã hình thành hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp. Một
mặt các em rất tích cực học một số môn mà các em cho là quan trọng đối với
để “tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. SĐTD là hình thức ghi
chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của
10
một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề…bằng cách kết hợp việc sử dụng hình
ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết. Ta có thể nhận thấy nhận xét trên trong ví
dụ dưới đây:
1.1.2.2. Cấu tạo và phân loại SĐTD
SĐTD được đánh giá là “công cụ vạn năng cho bộ não”, là phương tiện
giúp con người có thể ghi chú đầy sáng tạo. Theo Tony Buzan “một hình ảnh
có giá trị hơn cả ngàn từ” và “màu sắc có tác dụng kích thích não như hình
ảnh. Màu sắc mang đến cho SĐTD những rung động cộng hưởng mang lại
sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo”. Như vậy, SĐTD là hình
thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một
chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời
hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết và sự tư duy tích cực. Đặc biệt việc
thiết kế SĐTD theo mạch tư duy của mỗi người, không yêu cầu tỷ lệ, chi tiết
khắt khe như bản đồ địa lí, có thể thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một
kiểu khác nhau dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng
11
một nội dung nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó theo một cách riêng. Do
đó, việc lập SĐTD phát huy được tối đa khả năng của mỗi người.
Cấu tạo của SĐTD rất đơn giản, nó bao gồm: Ở vị trí trung tâm của sơ
đồ là hình ảnh hay một từ khóa thể hiện ý tưởng hay khái niệm chủ đạo. Ý
học tập.
Loại thứ hai là xây dựng SĐTD theo chương. Đây là loại sơ đồ được
người sử dụng tạo ra trên cơ sở tóm tắt toàn bộ kiến thức của chương học. Để
xây dựng loại SĐTD này chúng ta cần phải đọc lướt qua toàn bộ chương sách
(nội dung bạn muốn dựng SĐTD). Tìm các từ khóa, từ khóa là những từ
mang ý nghĩa khái quát cho cả chương. Chúng ta có thể dựa vào tên chương,
nội dung chính của chương để xác định chủ đề trung tâm của SĐTD (thường
tên chương đã bao hàm ý tổng quát của cả chương). Xác định ý lớn, nhỏ,
chính, phụ của chương sách trên cơ sở đó HS có thể dễ dàng để phân cấp các
nhánh của SĐTD.
Loại cuối cùng có thể được sử dụng là xây dựng SĐTD theo đoạn văn.
Loại sơ đồ này thường được sử dụng khi tóm tắt đoạn văn hoặc một trích
đoạn trong sách giáo khoa. Vẽ SĐTD để tóm tắt nội dung chính của mỗi đoạn
13
và phát triển thêm nhiều ý chi tiết hơn. Việc làm này sẽ giúp cho chúng ta tiết
kiệm được thời gian hơn khi học hoặc ôn tập bài cũ.
1.1.2.3. Ý nghĩa của việc sử dụng SĐTD trong dạy học tiếng Việt
Việc sử dụng SĐTD trong dạy học tiếng Việt mang lại ý nghĩa to lớn
trong việc dạy và học cho GV và HS. Bởi lẽ,SĐTD là hình thức ghi chép sử
dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. SĐTD một công
cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự
kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc,
hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô
tận của bộ não. Theo đó, việc dạy học bằng SĐTD giúp HS có được phương
pháp học hiệu quả hơn.Nhờ có SĐTD, GV có thểrèn luyện phương pháp học
tập cho HS. Thực tế cho thấy trong quá trình học tập, một số HS học rất
chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em thường học bài nào biết bài đấy, học
tiếng Việt”
Đểcó cơ sở thực tiễn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát nghiên cứu thực
trạng dạy và học tiếng Việt nói chung và thực tế dạy học bài “Ôn tập phần
tiếng Việt” nói riêng có sử dụng SĐTD trong nhà trường THPT hiện nay. Đối
tượng được tiến hành khảo sát là các GV giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong
nhà trường và những HS ở các khối lớp 10 tại Trường THPT Tiên Du 1(Bắc
Ninh). Việc đánh giá cơ sở thực tiễn được tiến hành trên các phương diện sau:
1.2.1. Điều tra thăm dò ý kiến và dự giờ của GV
Để có thể nắm bắt được ý kiến của đội ngũ chủ thể định hướng các hoạt
động dạy và học, chúng tôi biên soạn phiếu điều tra và thăm dò ý kiến cho
GV trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn với những câu hỏi (CH) (xem phần
mục lục). Chúng tôi đã phát ra 15 phiếu điều tra gồm 3 câu hỏi (CH) về các
nội dung liên quan đến SĐTD trong quá trình dạy học ở trường phổ thông.
Bên cạnh việc khảo sát thông qua phiếu điều tra, chúng tôi cũng trực tiếp dự
giờ của một số GV tại lớp để đưa ra những đánh giá khách quan về việc sử
15
dụng SĐTD trong dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt”. Việc dự giờ của GV
được tiến hành tại hai lớp 10A2, 10A6Trường THPT Tiên Du 1 (Bắc Ninh)
do hai cô giáo Nguyễn Thị Lộc, Nguyễn Thị Bích Liên giảng dạy.
Sau khi phát phiếu và được các GV giúp đỡ, trả lời CH, chúng tôi thu
được kết quả như sau:
Với CH thứ nhất, hầu hết các thầy cô giáo đều lựa chọn các phương
pháp giảng dạy truyền thống như phương pháp pháp vấn, đàm thoại, phương
pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp thuyết giảng. Các thầy cô đều biết và
ứng dụng SĐTD trong quá trình dạy học nhưng không thường xuyên do chưa
thành thạo cách sử dụng SĐTD thông qua phần mềm Mindmap.
Ở CH thứ hai,SĐTD được các thầy, cô sử dụng nhiều nhất trong bài ôn
quá tầm nhận thức của các em, GV chưa có phương pháp dạy học phù hợp
(59,70%), các em học tiếng Việt mà không được thực hành (9,57%)nên HS
không hứng thú học tập, trong giờ học chỉ thụ động nghe giảng rồi ghi chép
và về nhà học một cách thụ động máu móc vì thế HS không biết cách vận
dụng kiến thức tiếng Việt trong thực tiễn. Qua khảo sát và tiếp xúc với nhiều
HS, chúng tôi thấy rõ thái độ thờ ơ của các em đối với phân môn Tiếng Việt.
Qua khảo sát chúng tôi biết được tất cả HS đều sử dụng SĐTD trong
quá trình học tập song số HS thường xuyên sử dụng SĐTD chiếm tỷ lệ thấp
(27,20%), số HS thỉnh thoảng sử dụng SĐTD chiếm phần đông (72,80%). HS
thường sử dụng SĐTD khi kết thức bài chiếm 71,80%, HS sử dụng SĐTD
vào phần kiểm tra bài cũ chiếm 12,34% và bài mới 15,86%.
Cũng qua phiếu điều tra chúng tôi biết được rằng các em cho rằng sử
dụng SĐTD vào quá trình dạy học sẽ đạt hiệu quả cao (29,72%), hiệu quả
chiếm 48,61%. Chỉ một số ít HS cho rằng sử dụng SĐTD ít mang lại hiệu quả
(16,62%) và 5,04% HS cho rằng SĐTD không đem lại hiệu quả gì.
Sau khi tiến hành điều tra, khảo sát thái độ, không khí học tập của HS
trong giờ học bài “Ôn tập phần tiếng Việt”, chúng tôi tiến hành cho các em
17