dạy học nghĩa của câu cho học sinh lớp 11 theo quan điểm giao tiếp - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………… 01
1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………………… … 01
2. Lịch sử vấn đề……………………………………………………………….… 02
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………….…04
3.1. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………… 04
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu………………………………………………………… 05
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu …………………………………………………05
4.1. Đối tượng nghiên cứu …………………………………………………………05
4.2. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………………05
5. Các phương pháp nghiên cứu …………………………………………………05
6. Bố cục luận văn………………………………………………………………….07
PHẦN NỘI DUNG …………………………………………………………… 08
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn dạy học nghĩa của câu cho học sinh lớp 11
theo quan điểm giao tiếp………………………………………………………….08
1.1. Nghĩa của câu trong hệ thống ngôn ngữ và trong hoạt động giao tiếp ….……08
1.1.1. Các bình diện nghĩa của câu trong hệ thống ngôn ngữ …………………… 08
1.1.1.1. Nghĩa miêu tả…………………………………………………………… 09
1.1.1.1.1. Cấu trúc nghĩa miêu tả.………………………………………………… 10
1.1.1.1.2. Các phương diện của nghĩa miêu tả…………………………………… 12
1.1.1.1.3. Phân loại câu theo nghĩa miêu tả.……………………………………… 14
1.1.1.2. Nghĩa tình thái…………………………………………………………… 16
1.1.1.2.1. Khái niệm nghĩa tình thái……………………………………………… 16
1.1.1.2.2. Các loại nghĩa tình thái và hình thức thể hiện nó……………………… 17
1.1.1.2.2.1. Tình thái liên cá nhân ……………… 17
1.1.1.2.2.2. Tình thái chủ quan…………………………………………………… 18
1.1.1.2.2.3. Tình thái khách quan………………………………………………… 20
1.1.2. Nghĩa của câu trong hoạt động giao tiếp………………………………… 21

tiếp……………………………………………………………………………… 49
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.1.2.2. Nội dung dạy học nghĩa của câu theo quan điểm giao tiếp……………… 50
2.2. Dạy học lí thuyết nghĩa của câu trong sách Ngữ văn 11 theo quan điểm giao
tiếp……………………………………………………………………………… 52
2.2.1. Giáo viên giới thiệu bài mới, tạo tâm thế nhập cuộc cho học sinh……… 53
2.2.2. Học sinh đọc, tìm hiểu và phân tích ngữ liệu thông qua hệ thống lời gợi dẫn
dưới sự định hướng của giáo viên……………………………………………… 55
2.2.3. Giáo viên hướng dẫn học sinh hình thành tri thức, kĩ năng…………………62
2.2.4. Học sinh luyện tập củng cố, khắc sâu lí thuyết và kĩ năng dưới sự tổ chức,
hướng dẫn của giáo viên………………………………………………………… 63
2.3. Luyện tập nghĩa của câu trong sách Ngữ văn 11 theo quan điểm giao tiếp… 64
2.3.1. Mục đích và vai trò của luyện tập………………………………………… 64
2.3.1.1. Mục đích của luyện tập…………………………………………………….64
2.3.1.2. Vai trò của luyện tập nghĩa của câu……………………………………… 65
2.3.2. Phương tiện luyện tập nghĩa của câu trong sách Ngữ văn 11 theo quan điểm
giao tiếp………………………………………………………………………… 66
2.3.3. Tổ chức luyện tập nghĩa của câu cho học sinh lớp 11 theo quan điểm giao
tiếp……………………………………………………………………………… .81
2.3.3.1. Hình thức luyện tập trên lớp……………………………………………….81
2.3.3.2. Hình thức kết hợp luyện tập trên lớp với luyện tập ở nhà…………………82
2.4. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập nghĩa của câu theo quan điểm giao tiếp 83
2.4.1. Mục đích và nội dung kiểm tra …………………………………………… 84
2.4.2. Mục tiêu cần đạt…………………………………………………………… 84
2.4.3. Lập ma trận hai chiều……………………………………………………… 84
2.4.4. Đề kiểm tra………………………………………………………………… 85
2.4.5. Đáp án và biểu điểm…………………………………………………………86
2.4.6. Tiến hành kiểm tra trong phạm vi hẹp và thống kê kết quả kiểm tra, điều
chỉnh nếu cần thiết………………………………………………………………….87


DẠY HỌC NGHĨA CỦA CÂU CHO HỌC SINH
LỚP 11 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP Chuyên ngành: Lí luận và phƣơng pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số : 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: GS.TS LÊ A
Thái Nguyên, năm 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kì một công trình khoa học nào khác.


tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu luận văn này.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới trường THPT Minh Quang, các đồng
nghiệp, gia đình và bạn bè đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt quá trình học
tập.

Xin trân trọng cảm ơn! Tác giả

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Trong những năm gần đây, phân môn tiếng Việt đã thể hiện được vai trò rất

học cho thấy, mặc dù đã có sự nỗ lực, cố gắng của cả thầy và trò nhưng kết quả
dạy và học các bài về câu, cụ thể là hai tiết bài Nghĩa của câu chưa cao. Kết quả
chưa cao đối với việc dạy học các bài về nghĩa của câu do nhiều nguyên nhân:
Học sinh chưa tích cực trong học tập, khả năng tổ chức hoạt động học tập của giáo
viên, nội dung chương trình…
Với những lí do cơ bản nêu trên, chúng tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài:
Dạy học nghĩa của câu cho học sinh lớp 11 theo quan điểm giao tiếp.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là một lĩnh vực rộng lớn và
được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu lí luận dạy học. Chương trình
tiếng Pháp năm 1995 tiếp tục khẳng định “làm chủ ngôn ngữ” là điều kiện cho
mọi thành công trong học tập và tạo cơ sở cho việc hòa nhập vào xã hội và tư duy
một cách thoải mái. “Sự thành thạo ngôn ngữ”, “biết sử dụng ngôn ngữ”, “khả
năng dùng ngôn ngữ”, “công cụ đầu tiên của tự do”, “làm chủ ngôn ngữ ” các
cách diễn đạt trên cùng nhiều cách diễn đạt khác ở chương trình tiếng của nhiều
nước đã chỉ rõ mục tiêu học tập của môn này. Chiếm lĩnh một công cụ sắc bén để
tƣ duy và giao tiếp, đó là mục tiêu phấn đấu chung của chƣơng trình dạy tiếng ở
nhiều nƣớc.
Ở Việt Nam, vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp cũng đã
được triển khai và bàn luận trên diện rộng, trở thành một vấn đề cơ bản để đào tạo
về mặt phương pháp giảng dạy cho giáo viên các cấp. Trong số các tài liệu mà
chúng tôi tìm được, có một số tài liệu tiêu biểu bàn về quan điểm giao tiếp trong
dạy học tiếng Việt: Phƣơng pháp dạy học tiếng Việt (Lê A - Nguyễn Quang Ninh -
Bùi Minh Toán, NXB Giáo dục), Hoạt động giao tiếp và dạy tiếng Việt ở phổ
thông (Lí Toàn Thắng), Một số vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
ở tiểu học (Nguyễn Trí, NXB Giáo dục), Hoạt động giao tiếp với dạy học tiếng
việt ở tiểu học (Phan Phương Dung và Đặng Kim Nga), Giáo trình đào tạo giáo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6


7
này, tiêu biểu như cuốn: Ngữ pháp Việt Nam (Diệp Quang Ban, NXB Giáo dục),
Câu trong tiếng Việt - quyển 1 (Cao Xuân Hạo, NXB Giáo dục), Ngữ pháp tiếng
Việt - Câu (Hoàng Trọng Phiến, NXB Đại học Quốc gia), Câu tiếng Việt (Nguyễn
Thị Lương, NXB Đại Học Sư Phạm), Ngữ nghĩa học (Nguyễn Thị Ly Kha (chủ
biên), Vũ Thị Ân, NXB Giáo dục), Ngữ nghĩa học (Lê Quang Thiêm, NXB Giáo
dục)…
Trong các tài liệu nêu trên, khi bàn về hai thành phần nghĩa: nghĩa sự việc
và nghĩa tình thái, các tác giả đều trình bày sâu sắc và cặn kẽ về cấu trúc, phân
loại…của hai thành phần nghĩa này. Các vấn đề về hai thành phần nghĩa của câu
được các tài liệu trình bày là cơ sở vững chắc cho chúng tôi khi nghiên cứu và viết
luận văn của mình.
2.3. Số tiết học cung cấp kiến thức về nghĩa của câu (bao gồm cả bộ chuẩn
và bộ nâng cao) là 4 tiết. Mục tiêu, nội dung cần đạt; phương pháp, hình thức dạy
học; thực hành và kiểm tra - đánh giá nghĩa của câu theo quan điểm giao tiếp đã
được thể hiện rõ trong sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bài tập. Tuy nhiên,
nhiều thầy cô giáo, mặc dù đã nắm vững kiến thức của bài nhưng chưa hiểu và
nắm vững được cách dạy bài Nghĩa của câu theo quan điểm giao tiếp là như thế
nào. Đến nay chưa có luận văn nào nghiên cứu cách dạy hai tiết bài Nghĩa của câu
trong chương trình Ngữ văn 11 theo quan điểm giao tiếp. Dưới sự hướng dẫn của
thầy giáo, GS.TS Lê A, tôi sẽ tiến hành nghiên cứu và đưa ra phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học nghĩa của câu cho học sinh lớp 11 theo quan điểm giao tiếp,
với mong muốn được góp phần nhỏ bé vào sự đổi mới về phương pháp dạy học
của giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục Tuyên Quang nói riêng.
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi gồm có hai mục đích sau:
- Làm sáng tỏ thêm những vấn đề lí thuyết về nghĩa của câu tiếng Việt và
dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp.

Trong luận văn này chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu lí thuyết để
thu thập tư liệu, nghiên cứu lịch sử vấn đề, cơ sở lí thuyết của đề tài. Phương pháp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
nghiên cứu này còn giúp chúng tôi trong việc nghiên cứu lí thuyết của các tài liệu
thuộc ngành khoa học liên quan để phân tích, tổng hợp các quan điểm, luận điểm
khoa học cần thiết. Từ đó xác lập các cơ sở khoa học của việc tổ chức quá trình
dạy học hai tiết bài Nghĩa của câu theo quan điểm giao tiếp.
5.2. Phƣơng pháp điều tra, khảo sát
Phương pháp này được dùng để thu thập thông tin khoa học cần thiết cho
đề tài từ việc điều tra, khảo sát thực tiễn. Chúng tôi sử dụng phương pháp này để
điều tra, khảo sát thực trạng dạy học nghĩa của câu ở nhà trường phổ thông, bao
gồm:
- Điều tra chất lượng dạy học hai tiết bài Nghĩa của câu theo quan điểm
giao tiếp.
- Điều tra, khảo sát cách thức tổ chức hoạt động của thầy và trò trong giờ
học về nghĩa của câu ở THPT.
- Điều tra, khảo sát khả năng nắm bắt và vận dụng nghĩa của câu vào thực
tế giao tiếp, vào việc Đọc văn và Làm văn của học sinh.
5.3. Phƣơng pháp thống kê, phân tích
Sử dụng phương pháp này để:
- Nghiên cứu, phát hiện năng lực, thực trạng viết câu đảm bảo về nghĩa của
học sinh.
- Phân tích và vận dụng những vấn đề lí thuyết đã nghiên cứu vào thực tế
giảng dạy các bài thiên về hình thành kiến thức và kĩ năng tiếng Việt.
- Thu lượm những tài liệu, kết quả thực nghiệm để hỗ trợ đánh giá kết quả
thực nghiệm.
5.4. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
Đây là phương pháp sử dụng trong giai đoạn thực nghiệm sư phạm. Mục

hướng dẫn giáo viên tổ chức dạy học và đánh giá khả năng thực thi của đề tài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC NGHĨA CỦA CÂU CHO
HỌC SINH LỚP 11 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

1.1. NGHĨA CỦA CÂU TRONG HỆ THỐNG NGÔN NGỮ VÀ TRONG
HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP.
1.1.1. Các bình diện nghĩa của câu trong hệ thống ngôn ngữ
Trong hoạt động giao tiếp, các đối tượng tham gia hoạt động giao tiếp
không nói với nhau bằng âm vị, hình vị, từ, cụm từ. Đơn vị nhỏ nhất có thể sử
dụng để giao tiếp là câu (văn bản nhỏ nhất, có thể chỉ là một câu). Đó là điểm
khác nhau cơ bản giữa câu với các đơn vị dưới câu, không có sẵn. Câu có nhiều
phương diện: hình thức, nội dung nghĩa, chức năng, phạm vi sử dụng. Một định
nghĩa về câu khó có thể gọi được tất cả những đặc điểm của câu mà vẫn đảm bảo
được tính ngắn gọn khái quát. Bởi vậy, trong lịch sử ngôn ngữ học đã tồn tại
nhiều định nghĩa về câu. Ở luận văn này, chúng tôi chọn định nghĩa sau:
“Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong
và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩ tƣơng đối trọn vẹn
hay thái độ, sự đánh giá của ngƣời nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá
của ngƣời nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tƣ tuởng, tình cảm. Câu
đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” (6, tr106).

trường phương thức ra đề thi trắc nghiệm khách quan cho các môn Toán - Lý -
Hoá - Sinh.
Và bốn thành tố phân tích ở trên sẽ trở thành nội dung của câu (1). Đó
chính là thành phần nghĩa miêu tả của câu. Nó được nhận diện từ chính các từ ngữ
có trong câu mà không phải dùng các thao tác suy ý.
Nghĩa miêu tả của câu được phản ánh, được hiện thực hoá qua các bộ phận
chức năng của câu như chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ, giải thích ngữ. Ví
dụ:
(2) - Hình như trời sắp trở rét
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
(3) - Chẳng ngờ, khi hai bạn lên đến nơi thì chú chim đã bay đi (Vân Long)
(4) - Bẩm lạy quan lớn, tiền sưu con đã nộp rồi (Ngô Tất Tố)
(5) - Bác Tâm, mẹ của Thư, đang chăm chú làm việc (Nguyễn Thị Xuyến)
Từ việc tìm hiểu một số ví dụ nêu trên, chúng ta có thể rút ra kết luận:
Nghĩa miêu tả là phần nghĩa phản ánh sự việc, hiện tƣợng, sự vật, hoạt động,
trạng thái, tính chất quan hệ ngoài thực thể khách quan đƣợc đƣa vào câu. Nội
dung phản ánh, hiện thực đó đƣợc gọi là sự việc (hay sự thể). Mỗi câu thƣờng ứng
với một sự việc.
1.1.1.1.1. Cấu trúc nghĩa miêu tả
Để tìm hiểu cấu trúc của nghĩa miêu tả chúng ta xét các ví dụ sau đây:
(6) Tuấn tặng Hương một cành hoa phượng
(7) Hải rất thông minh
(8) Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam
Nếu xét các câu trên ở phương diện nghĩa miêu tả thì mỗi câu trên phản ánh
một sự việc. Mỗi sự việc gồm hai loại thành tố.
- Thành tố thứ nhất - là thành tố cốt lõi - nêu đặc trƣng hay quan hệ trong
sự việc. Phần này trả lời cho một trong các câu hỏi: Sự vật được phản ánh (đã,
đang, sẽ) thực hiện hành động gì? có trạng thái ra sao? có phẩm chất (tính chất)

cành hoa phƣợng - đối thể trao tặng.
Mỗi đặc trưng hay quan hệ còn tự ấn định vai nghĩa cụ thể cho các thực thể
đi cùng nó.
So sánh các cấu trúc nghĩa miêu tả sau:
(9) Hải mƣợn Hà một quyển sách.
(10) Hải tặng Hà một quyển sách.
(11) Sáng mai, Hải sẽ đến (nhà) Hà.
(12) Hải rất quý Hà.
Do tham gia vào các cấu trúc nghĩa khác nhau, chịu sự chi phối của các đặc
trưng khác nhau: vay mượn (9), trao tặng (10), dời chuyển (11), giãi bày (12) mà
các tham thể Hải, Hà, một quyển sách trong các cấu trúc nghĩa trên sẽ đảm nhận
các vai nghĩa khác nhau. Cụ thể, Hải (9): giữ vai nghĩa chủ thể vay mượn, Hải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
(10) giữ vai nghĩa chủ thể trao tặng, Hải (11): giữ vai nghĩa chủ thể dời chuyển,
Hải (12) giữ vai nghĩa chủ thể giãi bày. Tương tự như vậy khi chúng ta xét đến
nhân tố Nga: Nga (9) giữ vai nghĩa: thể tổn thất, Nga (10) giữ vai nghĩa: thể tiếp
nhận, Nga (11): giữ vai nghĩa chỉ đích đến, Nga (12) giữ vai nghĩa: thể tiếp nhận
tình cảm.
Như vậy, hai thành tố: Đặc trưng hay quan hệ và tham thể của cấu trúc
nghĩa miêu tả luôn có quan hệ qui định - ràng buộc lẫn nhau.
1.1.1.1.2. Các phƣơng diện của nghĩa miêu tả.
a. Phương diện chức năng.
Nghĩa miêu tả là thành phần cốt lõi làm nên nội dung thông báo để thực
hiện chức năng giao tiếp, chức năng tư duy.
(13) Ông ơi, đúng là chú chim vừa đỗ ở đây bắt sâu và hót nữa ông nhỉ.
(Vân Long)
(14) Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong, chờ đợi ở các
em rất nhiều.

của đồng tiền.
(Nguyễn Công Hoan)
(22) Bên trái là đỉnh Ba Vì vời vợi, nơi Mị Nương - con gái Vua Hùng thứ
18 - theo Sơn Tinh về trấn giữ núi cao.
(Đoàn Minh Tuấn)
Các thành phần phụ tình thái (phụ ngữ tình thái) có chức năng biểu thị ý
nghĩa tình thái chủ quan của câu (ví dụ 23), chuyển tiếp ngữ có chức năng liên kết
(ví dụ 24), hô ngữ là bộ phận có chức năng làm tín hiệu gọi đáp (ví dụ 25). Bởi
vậy, những thành phần này không biểu đạt nghĩa miêu tả của câu.
(23) Cháu quả là chàng gác rừng dũng cảm.
(Nguyễn Thị Cẩm Châu)
(24) Nhưng nói chung, đó toàn là những màu sắc rực rỡ như muốn phô hết
ra ngoài.
(Vân Long)
(25) Thưa thầy, hôm nay, em chưa làm bài tập.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
Nội dung của sự tình thuờng được biểu đạt bằng vị từ (động từ/tính từ) hạt
nhân của vị ngữ, các tham tố của sự tình thường được biểu đạt bằng danh ngữ hay
giới ngữ đảm đương các chức năng chủ ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ, giải thích ngữ.
c. Phương diện cấu trúc biểu hiện
Nghĩa miêu tả có thể được biểu hiện ngay trên bề mặt ngữ nghĩa của câu
hoặc có thể ngầm ẩn đằng sau từ ngữ của câu… Chẳng hạn, so sánh nghĩa miêu tả
của các câu:
(26) Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, con ạ.
(27) Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống, con ạ.
Ta thấy, nghĩa miêu tả “bản chất tốt cần thiết hơn là cái bề ngoài bóng bảy”
của ví dụ (26) được biểu hiện ngầm ẩn, còn nghĩa miêu tả “những yếu tố quyết
định sản lượng của trồng trọt là: đủ nước, nhiều phân, chăm sóc chuyên cần và

chuyển biến, một sự nảy sinh hoặc một sự huỷ diệt. Chủ thể của quá trình vô tác
có thể là người hoặc động vật, hoặc vật vô tri.
(33) Mặt trời mọc, tiếng sáo ngừng bặt.
(34) Những giọt bùn bắn vào áo nó.
- Câu chỉ quá trình chuyển tác: quá trình chuyển tác là quá trình trong đó
vật vô tri gây ra một tác động làm thay đổi trạng thái hay vị trí của một đối tượng
hoặc hủy diệt đối tượng đó. Câu biểu thị quá trình chuyển tác có chủ thể giữ vai
lực, vị từ trung tâm là vị từ chỉ quá trình chuyển tác.
(35) Đêm qua, trận cuồng phong đã làm bật gốc cây dừa lão nơi góc vườn.
(36) Trận lụt năm 1999 đã cuốn phăng cả làng chài ra biển.
(37) Ngọn lửa quái ác đã liếm sạch dãy nhà lá ven thị trấn.
c. Câu chỉ trạng thái, tính chất, đặc điểm.
Đây là câu có nội dung biểu thị những tính chất hoặc những tình trạng của
sự vật - hiện tượng. Chủ thể của tính chất, tình trạng của sự vật hiện tượng có thể
là người, động vật hoặc vật giữ cương vị chủ đề.
(38) Chúng tôi rất mừng bác ạ.
(39) Chàng yêu nàng say đắm.
(40) Dao rất sắc.
(41) Con voi này rất khoẻ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
(42) Cây bàng sừng sững giữa sân trường.
d. Câu chỉ quan hệ.
Quan hệ là một tình hình mà nội dung là một cái gì đó ở giữa hai sự vật,
chẳng hạn một khoảng cách, một mối liên hệ nhân quả, một sự so sánh, một sự
tiếp xúc… Câu chỉ quan hệ nhất thiết phải có hai vế. Loại câu này được đánh dấu
bằng sự xuất hiện của những vị từ quan hệ như hơn, kém, bằng, giống, khác…
(43) Nam giỏi hơn tôi.
(44) Nó khỏe như trâu.

tình thái, tiểu từ tình thái, quán ngữ tình thái, các từ hô gọi, các động từ ngữ vi,
các từ ngữ thể hiện mục đích nói của câu, các từ xưng hô, các từ ngữ gọi đáp…
bởi vậy, rất khó có thể định ra được những tiêu chí thống nhất trong việc nêu khái
niệm về nghĩa tình thái cũng như phân loại và xác định các phương tiện ngôn ngữ
thể hiện nó.
Có thể hiểu nghĩa tình thái là một phần nghĩa của câu thể hiện thái độ, ý
định, mục đích hay quan hệ giữa ngƣời nói với ngƣời nghe, giữa ngƣời nói với
hiện thực (sự tình) đƣợc phản ánh trong câu, giữa nội dung đƣợc phản ánh trong
câu với hiện thực ngoài thực tế khách quan.
1.1.1.2.2. Các loại nghĩa tình thái và hình thức thể hiện nó.
1.1.1.2.2.1. Tình thái liên cá nhân (còn gọi là tình thái quan hệ)
Tình thái liên cá nhân thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ, giữa người nói
với người nghe. Nó thường được thể hiện qua:
a. Cách dùng các đại từ nhân xưng (kể cả các danh từ lâm thời được dùng
làm từ xưng hô)
Thái độ thân mật, gần gũi.
- Nếu vai xã hội ngang bằng, dùng: cậu - tớ, anh - tôi, ông - tôi, cậu - mình,
mình - mình, ta - mình…
- Nếu vai xã hội cao - thấp, dùng: mẹ - con, anh - em, ông - cháu, cô - em…
Thái độ kính trọng dùng các cặp: ông - con, ngày - tôi, vị, quý vị, cụ,
Thái độ khinh miệt, coi thường, dùng: tao - mày, y, hắn, nó,…
b. Cách dùng các động từ, thán từ hô gọi.
- Biểu thị thái độ kính trọng, sử dụng: thƣa, bẩm, kính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21
(51) Bẩm, ông đã về.
(52) Thƣa, có người hỏi cậu.
(53) Kính ông đi trước ạ.
- Biểu thị thái độ thân mật, có thể sử dụng các từ hô gọi: ơi, hỡi…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status