Dạy tiếng Việt lớp 11 theo quan điểm giao tiếp - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_________________ Nguyễn Thị Thùy Trang
DẠY TIẾNG VIỆT LỚP 11
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP Chuyên ngành : Lý luận và Phương pháp dạy học môn Văn
Mã số : 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ LY KHA

Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS. Nguyễn Thị Ly Kha. Cô đã tận tình hướng dẫn
không chỉ về chuyên môn mà còn cả về hình thức, bố cục trình bày, cách diễn đạt; giới thiệu và gửi

đến dạy TV; suốt thời gian dài trước đây, dạy học tiếng theo quan điểm cấu trúc nên
khó tránh khỏi khó khăn khi nắm bắt và vận dụng quan điểm giao tiếp.
Từ thực tế giao tiếp với HS, cũng như qua các bài kiểm tra, bài viết của các em,
các thầy cô giáo đều có chung nhận xét: “kĩ năng trình bày, di
ễn đạt của HS phần nhiều
chưa tốt”; có em có ý tưởng nhưng “không biết trình bày”, “lúng túng khi diễn đạt, nói
(viết) vụng về, sơ sài” hoặc “lập luận thiếu chặt chẽ, thiếu logic”, khiến người nghe
khó nắm bắt được vấn đề các em muốn trình bày,…
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong việc sử dụng TV của HS, trong
đó có cả việc nhà trường dạy học phân môn TV chưa đạ
t hiệu quả mong muốn. Nhận
xét chung về tình hình dạy học TV trong nhà trường hiện nay, Lê A cho rằng: “Tình
trạng nội dung lí thuyết và bài tập thực hành mang nặng tính chất ngôn ngữ, tính cấu
trúc là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiệu quả thấp của việc dạy học
TV hiện nay trong nhà trường phổ thông. Chúng ta dạy nhiều, HS học nhiều và có thể
biết nhiều song vẫn còn thiếu nhiều hiểu biết
đến nơi đến chốn về cách thức và nghệ 2

thuật sử dụng TV. Và kết quả tất yếu là năng lực TV của các em còn nhiều non yếu,
không đáp ứng được yêu cầu giao tiếp trong công việc học tập cũng như trong lĩnh vực
giao tiếp xã hội”. “Chọn hoạt động giao tiếp làm đối tượng dạy học chẳng những
không bỏ qua các tri thức Việt ngữ mà còn góp phần làm cho những tri thức ấy linh
hoạt, phong phú hơn và gần với th
ực tế cuộc sống hơn.” (“Dạy TV là dạy một hoạt
động và bằng hoạt động” – Tạp chí Ngôn ngữ số 4/2001).
Đây cũng là sự gợi ý cho những ai quan tâm đến việc dạy học TV, nghiên cứu về
phương pháp dạy học TV.

điểm chức năng hay còn gọi là quan điểm giao tiếp. Từ giữa những năm 70 đường
hướng dạy học theo quan điểm này được phát triển r
ộng rãi ở Anh và Mĩ. Mục đích
chính của nó là làm cho năng lực giao tiếp trở thành mục tiêu chính của việc dạy và
học tiếng.
Khi bàn về những quan điểm tâm lí học hoạt động có liên quan đến việc dạy và học
ngôn ngữ, Trương Dĩnh đã đề cao quan điểm dạy học bản ngữ dựa trên lý thuyết hoạt
động lời nói. Ông khẳng định: “Trên quan điểm coi hoạt
động lời nói trong giao tiếp
như mục đích dạy học, dạy ngôn ngữ, đặc biệt là bản ngữ, phải thông qua hoạt động
giao tiếp giữa thầy và trò để tổ chức cho HS phân tích mẫu hành vi lời nói trong giao
tiếp, quan sát hành vi lời nói giao tiếp trong thực tiễn, nghiên cứu các văn bản giao
tiếp trích dẫn để nâng cao ý thức, quy tắc về giao tiếp bản ngữ, mặt khác, trên cơ sở đã
có ý thức về n
ăng lực giao tiếp, tổ chức cho HS sáng tạo các hành vi lời nói trong giao
tiếp, [...], tức là dạy cho HS ứng xử sáng tạo trong giao tiếp ở môi trường có tính thực
tiễn nhất của đời sống” (Mấy vấn đề lí luận và thực tiễn về dạy và học TV ở trường
trung học, Tp. HCM, 1998). Đồng thời tác giả cũng coi trọng việc xây dựng các bài
tập tình huống để rèn luyện năng lực giao ti
ếp cho HS. Đây cũng là một trong những
cơ sở góp phần định hướng cho việc dạy và học TV đạt hiệu quả cao hơn.
Giáo trình Phương pháp dạy học TV (tập 2, Nxb Giáo dục, 2001) do nhóm tác giả:
Nguyễn Trí - Lê A - Lê Phương Nga biên soạn có tất cả tám chương, trong đó các tác
giả dành hẳn một chương để nói về quan điểm giao tiếp trong dạy học TV. Trong
chương này (chương một) các tác gi
ả nói khá rõ về : Giao tiếp và hoạt động giao tiếp.
Những cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học TV. Sự thể hiện của quan điểm 4

của các quan hệ hệ thống trong hoạt động giao tiếp. Nguyên tắc hệ thống và quan 5

điểm giao tiếp trong dạy - học TV. Bùi Minh Toán và Nguyễn Ngọc San khẳng định:
“Quan điểm giao tiếp trong việc dạy - học ngôn ngữ (TV) xuất phát từ đặc trưng bản
chất của đối tượng và phù hợp với đối tượng. […] Ngôn ngữ […] cần phải hoạt động
để thực hiện chức năng giao tiếp. Trong hoạt động giao tiếp, ngôn ngữ vừa là phương
tiện, v
ừa tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sự giao tiếp”.
Bàn về “độ phổ biến” của quan điểm giao tiếp, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn
Thị Ly Kha cho rằng: “Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội
dung và phương pháp dạy học”. Về nội dung dạy học, quan điểm giao tiếp được thể
hiện ở
“Cách bố trí thời lượng, sắp xếp các đơn vị kiến thức và các kiểu bài đều không
tập trung vào việc nhận diện các hiện tượng ngôn ngữ mà chú trọng rèn luyện khả
năng sử dụng từ ngữ phục vụ cho hoạt động giao tiếp”. Về phương pháp dạy học, quan
điểm giao tiếp được thể hiện ở điểm:“Các kiến thức và kĩ năng trong phân môn Luy
ện
từ và câu được rèn luyện thông qua nhiều bài tập gắn với yêu cầu về tập làm văn ở lớp
5 hoặc với các tình huống giao tiếp tự nhiên”. Kèm theo những nội dung trình bày là
những VD sinh động. Do trình bày dưới dạng hỏi - đáp, nên tài liệu này chỉ dừng ở giới
hạn cung cấp những gợi ý có tính chất định hướng cơ bản về nội dung, hình thức tổ
chứ
c dạy học môn TV ở lớp 5 theo quan điểm giao tiếp. Mặt khác, do tính chất đồng
tâm và tính phổ quát của vấn đề, những gợi ý có tính định hướng đó không chỉ dừng ở
giới hạn cho một lớp và một bậc học cụ thể mà còn có tác dụng định hướng cho việc
dạy học TV ở phổ thông nói chung theo quan điểm giao tiếp. (Hỏi - đáp về dạ
y học TV

giao tiếp” (Dạy học Nghĩa của câu ở trung học phổ thông theo tình huống giao tiếp,
Giáo dục, số 175, kì 2 – 10/2007). Trong bài viết, tác giả đã đưa ra những định nghĩa
tương đối đầy đủ về tình hu
ống giao tiếp, đồng thời xác định các đặc điểm cơ bản cũng
như những yêu cầu cần thiết của một tình huống giao tiếp trong giờ học tiếng; từ cơ sở
đó, tác giả mô tả khái quát quy trình thực hiện một tình huống giao tiếp trong giờ dạy
TV.
Giáo trình Ngữ nghĩa học (dùng cho GV và sinh viên ngành giáo dục tiểu học)
(Nguyễn Thị Ly Kha, Vũ Thị Ân, Nxb Giáo dục, 2008) có đề
cập đến vấn đề dạy học
nghĩa của từ, câu, đoạn văn, văn bản theo quan điểm giao tiếp. Do mục đích và giới
hạn của giáo trình, những vấn đề về dạy nghĩa của từ, câu, đoạn văn, văn bản ở đây chỉ
dừng lại ở giới hạn dạy học cho HS tiểu học. Tuy nhiên, ngườ
i quan tâm vẫn có thể tìm
thấy ở đây những định hướng, những gợi ý cho việc dạy học các đơn vị mang nghĩa 7

theo quan điểm giao tiếp cho HS trung học.
Hoạt động giao tiếp với dạy học TV ở tiểu học (Nxb Đại học Sư Phạm, 2009) là
một giáo trình có ích cho những GV, những người nghiên cứu quan tâm đến việc dạy
TV trong nhà trường như thế nào để có hiệu quả. Phan Phương Dung và Đặng Kim
Nga đã nghiên cứu khá sâu và rõ ràng những vấn đề về hoạt động giao tiếp trong việc
dạy học TV ở tiểu h
ọc. Giáo trình gồm ba chương: Chương một đề cập đến vấn đề giao
tiếp và hoạt động giao tiếp; chương hai xoáy sâu vào từ và câu trong hoạt động giao
tiếp; chương ba – phần trọng tâm, có ý nghĩa thực tiễn – Dạy học TV theo quan điểm
giao tiếp. Giáo trình đã vạch ra hướng đi cụ thể cho hoạt động dạy học TV trong nhà
trường theo quan điểm giao tiếp: từ việ

đề tài Dạy TV lớp 11 theo quan điểm giao
tiếp triển khai thực hiện các nội dung nghiên cứu về nội dung, phương pháp, hình thức
tổ chức dạy học TV theo quan điểm giao tiếp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài Dạy TV lớp 11 theo quan điểm giao tiếp, chúng tôi muốn góp
phần giải quyết một trong những vấn đề trọng tâm của việc
đổi mới phương pháp dạy
học Ngữ Văn hiện nay: tổ chức dạy học TV trong chương trình trung học phổ thông
(đặc biệt là ở lớp 11) theo quan điểm giao tiếp.
Để đạt được mục đích trên, nghiên cứu về dạy học phân môn TV ở trường phổ
thông trung học theo quan điểm giao tiếp, tác giả luận văn sẽ chú ý đến những ưu thế
và tính khả thi của h
ướng đi này trong việc vận dụng vào thực tế dạy học TV hiện nay.
Từ đó, luận văn sẽ đề xuất quy trình, cách thức tổ chức hoạt động dạy học theo quan
điểm giao tiếp và thử nghiệm vận dụng vào thực tế khi tiến hành dạy học một số bài
thuộc phân môn TV ở lớp 11 theo quan điểm giao tiếp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thự
c hiện đề tài Dạy TV lớp 11 theo quan điểm giao tiếp, chúng tôi tập trung
nghiên cứu về quá trình hoạt động dạy và học TV theo hướng giao tiếp ở GV và HS.
Do điều kiện thời gian có hạn và trong khả năng cho phép, chúng tôi chỉ tiến hành khảo
sát đối tượng GV và HS khối 11 ở ba trường: trung học phổ thông Tân Châu (thị xã
Tân Châu - An Giang (AG)), trường trung học phổ thông Châu Văn Liêm (huyện Chợ 9

Mới - AG) và trường trung học phổ thông Mỹ Thới (thành phố Long Xuyên - AG).
Đề tài giới hạn ở phạm vi khảo sát về hoạt động dạy TV của GV và hoạt động học
của HS. Bao gồm các khía cạnh sau: (1) Mức độ truyền đạt nội dung lí thuyết, nội dung

10

những kết luận chính xác, khách quan.
5.5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm được dùng để xem xét lại những thành
quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận bổ ích cho thực tiễn
và cho khoa học.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu GV vận dụng tốt quan điểm giao tiếp vào dạy học TV 11 thì sẽ: (1) Kích thích
HS học TV tích cực, sáng tạo. (2) Giúp HS sử dụng TV có hiệu quả trong vi
ệc tạo lập
văn bản nói và viết. (3) Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học TV trong trường
Trung học phổ thông hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần Mở đầu, Kết luận và ba chương: (1) Cơ sở lí luận và thực tiễn
của đề tài. (2) Quan điểm giao tiếp với việc dạy TV lớp 11. (3) Thực nghiệm sư
phạm.
Ngoài phần nội dung chính, luận văn còn kèm theo 10 phụ lục (1/ Giáo án thực nghiệm
đối chứng. 2/ Thiết kế giáo án thực nghiệm. 3/ Thuyết minh giáo án thực nghiệm. 4/ Đề
kiểm tra và đáp án. 5/ Phiếu tham khảo ý kiến GV trung học phổ thông. 6/ Kết quả thu
nhận từ phiếu tham khảo ý kiến GV và HS trung học phổ thông. 7/ Bảng phân phối t –
student. 8/ Đề thi ngữ Văn 11 ở các trường trung học phổ thông. 9/ Bả
ng tổng hợp
điểm kiểm tra của HS. 10/ Bài tập vui, trò chơi TV 11).


. Còn khái niệm “năng lực”
ở nghĩa ban đầu chỉ là khả năng đối với một việc gì đó, sau đó được
Noam Chomsky
đưa vào dùng một cách chính thức trong lĩnh vực ngôn ngữ học (Những chân trời mới
trong nghiên cứu ngôn ngữ và ý thức (2008),
dịch giả Hoàng Văn Vân
). 12

Có thể nói, việc chọn năng lực giao tiếp làm mục đích cuối cùng của việc dạy - học
ngôn ngữ dựa trên cơ sở ngôn ngữ học chức năng hay còn gọi là ngôn ngữ học giao
tiếp mà những luận điểm cơ bản của nó có thể được trình bày rút gọn như sau:
Giao tiếp với tư cách là một dạng hoạt động đặc biệt của con người nhằm củ
ng cố
mối quan hệ và được sử dụng để truyền đạt thông tin giữa người và người. Ở đây, có
hai mặt phản ánh qua lại, mặt ngôn ngữ và mặt xã hội vì bất cứ một phát ngôn nào
cũng được sản sinh trong một tình huống cụ thể có kèm theo một nền rất rộng các điều
kiện tạo ra tình huống ấy.
Ngôn ngữ được sử dụng có tính đến tình huống giao tiế
p và sự ảnh hưởng tới
những đặc điểm tâm lý cá thể trong việc sử dụng từ ngữ của người tham gia giao tiếp,
có nghĩa là có tính đến hiệu quả ứng dụng, điều đó loại trừ khả năng tồn tại những phát
ngôn riêng biệt được tạo nên ngoài ngữ cảnh giao tiếp.
Đơn vị giao tiếp là loại hành động lời nói nhất định hoặc hành vi lờ
i nói khẳng
định yêu cầu hỏi han, xin lỗi, cảm ơn,...
Việc hình thành ý định lời nói xảy ra trước khi sản sinh hành vi lời nói. Khi hình
thành ý định lời nói có tính đến sự hiểu biết ban đầu về mục đích, đối tượng giao tiếp,

Phương pháp dạy học TV vận dụng rất nhiều thành tựu của Tâm lí học. Đó là các
quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo. GV cần biế
t, sản phẩm lời nói
được sản sinh ra như thế nào, quá trình học được thiết lập từ những yếu tố nào, khái
niệm ngữ pháp được hình thành ở HS ra sao, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển
tư duy ra sao, kĩ năng nói, viết được hình thành như thế nào…? Những nghiên cứu
Tâm lí học cho phép chúng ta xác định mức độ vừa sức của tài liệu học tập.
Mặt khác, Tâm lí ngôn ngữ học đem lại cho phương pháp nh
ững số liệu về lời nói
như một hoạt động, ví dụ (VD) như việc xác định tình huống nói năng, các giai đoạn
sản sinh lời nói, tính hiệu quả, sự tác động của lời nói trong giao tiếp giữa cá thể với
nhiều người.
Quan hệ của phương pháp dạy học TV và Tâm lí học, đặc biệt là Tâm lí học lứa
tuổi rất chặt chẽ. Không có kiến thức về quá trình tâm lí ng
ười nói chung và tâm lí HS
trung học phổ thông nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho
các em. 14

Kiến thức thu nhận được từ con đường tự khám phá mới là kiến thức vững chắc
nhất, đáng tin cậy nhất. Người Mỹ có câu châm ngôn: “Nói cho tôi thì tôi sẽ quên. Cho
tôi xem thì tôi có thể sẽ nhớ. Cho tôi tham gia thì tôi sẽ hiểu.”. Người Việt Nam ta
cũng có một cách nói tương tự: “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không
bằng một làm”. Cách đ
ây hơn 25 thế kỉ, Khổng Tử cũng nói: “Tôi nghe - tôi quên. Tôi
nhìn - tôi nhớ. Tôi làm - tôi hiểu”. Quan điểm học phương Tây đã mở rộng câu nói
của Khổng Tử thành luận điểm phương pháp học chủ động (the active learning credo):
Tôi nghe - tôi quên. Tôi nghe và nhìn - tôi nhớ chút ít. Tôi nghe, nhìn, hỏi hoặc thảo

phân hóa trong dạy học...
PPDHTV vận dụng nhữ
ng nguyên tắc này theo đặc trưng riêng của mình. VD
nguyên tắc gắn liền lí thuyết và thực hành trong phương pháp dạy học TV đòi hỏi một
hoạt động lời nói thường xuyên, biểu hiện ý nghĩ bằng lời nói, viết, cùng với việc
thường xuyên vận dụng những hiểu biết lí thuyết trong bài tập. Nhiệm vụ phát triển lời
nói đã quy định việc xây dựng chương trình TV mà tất cả các phân môn đều có mục
đích phát triển bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Thực hiện nguyên tắc trực quan trong
giờ TV không chỉ là việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu, dùng chữ viết sẵn, phim ảnh mà
còn là “trực quan lời nói”, bao gồm từ việc quan sát ngôn ngữ sống động đến việc dựa
vào bài khóa trong khi nghiên cứu về ngữ âm, từ vựng, chính tả, ngữ pháp. Tài liệu
trực quan cơ bản trong giờ học TV là TV vă
n hóa, TV trong những mẫu tốt nhất của
nó: văn học dân gian, tác phẩm văn học Việt Nam và thế giới.
Phương pháp dạy học TV chọn ở Giáo dục học các hình thức tổ chức dạy học như
bài học và các hình thức khác. Các phương pháp dạy học cơ bản – phương pháp dạy
học bằng lời, bài tập, dạy học nêu vấn đề... đều có mặt trong giờ TV.
1.1.4. Lí thuyết về
quan điểm giao tiếp
1.1.4.1. Giao tiếp và các hình thức giao tiếp
“Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc... nhằm thiết lập
quan hệ, sự hiểu biết, cộng tác... giữa các thành viên trong xã hội… Hoạt động giao
tiếp gồm các hành vi giải mã (nhận thông tin), ký mã (phát thông tin). Trong ngôn ngữ,
mỗi hành vi đều có thể được thực hiện bằng hai hình thức: khẩu ngữ (nghe, nói), bút
ngữ (đọc, viết)” (Sách GV TV 5, tập 1, trang 6). 16

Theo Từ điển Thuật ngữ ngôn ngữ học, giao tiếp là “sự thông báo hay truyền đạt


17

Một lời chào, một lời thăm hỏi, một lời chúc mừng,… đều có giá trị tạo lập và duy
trì quan hệ, ngay cả trong trường hợp chưa có sự quen biết trước. Chức năng tạo lập
quan hệ bao hàm cả tác dụng phá vỡ quan hệ. Còn trò chuyện được có nghĩa là có thể
tiếp tục duy trì quan hệ thân hữu giữa những người tham gia giao tiếp. Nhưng cũng có
khi giao tiếp lại góp phần phá vỡ m
ối quan hệ vốn có giữa họ. Sự phá vỡ này có thể do
những người trong cuộc cố tình tạo ra, nhưng cũng có nhiều mối quan hệ bị phá vỡ một
cách vô tình, do ta lỡ lời.
Tạo lập quan hệ là chức năng giao tiếp cộng tác giữa người với người. Có thể
nhiều người không biết đến, nhưng ngôn ngữ vẫn đảm nhiệm chức năng này một cách
đương nhiên. Chứ
c năng tạo lập quan hệ của giao tiếp ngôn ngữ rất cần cho sự tồn tại
của xã hội.
Chức năng tự biểu hiện, trong giao tiếp ngôn ngữ, con người tự bộc lộ chính bản
thân mình. Người nói hay người viết không chỉ truyền đạt nhận thức, tư tưởng mà còn
bộc lộ cả tình cảm, thái độ, sở thích, trạng thái tâm sinh lí,… Ngay khi truyền đạt các
thông tin lí tính thì con người cũng không th
ể “khách quan”, “vô can” một cách tuyệt
đối được. Có những trường hợp, con người bộc lộ bản thân mình trong giao tiếp một
cách vô ý thức. Song, cũng có những trường hợp sự tự bộc lộ đã được tiến hành có ý
thức (chẳng hạn rất nhiều thi sĩ đã từng làm thơ để bộc bạch ý chí và xúc cảm của bản
thân mình).
Chức năng giải trí, con người cần làm việc, cần lao
động để sống, để duy trì và
phát triển sự sống, nhưng cũng cần nghỉ ngơi, giải trí. Tìm đến nhau để tán gẫu, để trò
chuyện, hoặc tìm đến các tác phẩm văn chương – nghệ thuật của ngôn từ – tìm đến
sách báo,… chính là một hình thức giải trí. Tất nhiên những hoạt động đó còn mang lại

và những ý muốn về hành động mà người nói muốn thực hiện hay muốn người nghe
thực hiện).
Hình thức củ
a ngôn bản là chuỗi các yếu tố ngôn ngữ và cả các phương tiện phụ
trợ phi ngôn ngữ (như điệu bộ, nét mặt, cử chỉ…kèm với lời) được người nói dùng để
diễn đạt nội dung. Không nên xem nhẹ vai trò của hình thức ngôn bản đối với hiệu quả
giao tiếp của nó. Do hình thức khác nhau mà những ngôn bản cùng nội dung có thể có
hiệu quả tác động không giống nhau đối với người ti
ếp nhận. 19

Các nhân tố của hoạt động giao tiếp, trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có
nhiều nhân tố tham gia và ảnh hưởng đến các phương diện của hoạt động giao tiếp.
Những nhân tố này vừa góp phần thực hiện hoạt động, vừa ảnh hưởng chi phối đến
hoạt động. Đó là các nhân tố:
Nhân vật giao tiếp: là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp. Trong giao
ti
ếp, các nhân vật giao tiếp luân phiên đảm nhiệm vai trò người phát (nói/viết) hoặc
người nhận (nghe/đọc).
Giữa các nhân vật giao tiếp có thể có các quan hệ cùng vai (như quan hệ bạn học,
đồng nghiệp với nhau…), hoặc quan hệ khác vai (quan hệ cha mẹ với con; thầy cô giáo
và HS…). Muốn cuộc giao tiếp đạt kết quả như mong muốn, người phát cần phải xác
định đúng quan hệ vai giữa mình với người nhận để lựa ch
ọn hình thức giao tiếp thích
hợp nhất.
Đặc điểm của các nhân vật giao tiếp về lứa tuổi, về nghề nghiệp, về giới tính và
trình độ hiểu biết, về vốn sống, về địa vị xã hội… đều luôn luôn ảnh hưởng và để lại
dấu ấn trong hoạt động giao tiếp, nhất là trong các ngôn bản. Nhân tố nhân vật giao

ộc giao tiếp có nhiều mục đích thì có mục đích chính và mục đích phụ.
Khi đạt được mục đích đã đặt ra thì hoạt động giao tiếp cũng đạt được hiệu quả. Nhân
tố mục đích giao tiếp trả lời các câu hỏi: nói (viết) để làm gì?
Phương tiện và cách thức giao tiếp: Phương tiện giao tiếp ở đây là ngôn ngữ, là
TV đối với đại đa số
người Việt Nam. Song TV gồm nhiều phong cách ngôn ngữ khác
nhau, và có sự phân biệt ở mức độ nhất định giữa các tiếng địa phương, các ngôn ngữ
nghề nghiệp, chuyên môn. Do đó, tuỳ từng phạm vi, từng lĩnh vực hoạt động của con
người, những nhân vật giao tiếp cần lựa chọn những yếu tố ngôn ngữ thích hợp. Hơn
nữa, hoạt động giao tiếp còn có thể được th
ực hiện theo những cách thức khác nhau:
nói miệng hay dùng văn bản viết, trong văn bản viết thì dùng dạng văn xuôi hay văn
vần, trình bày trực tiếp nội dung cần giao tiếp hay trình bày thông qua hình ảnh, sự so
sánh, ví von… Tất cả điều đó đều ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp, đến việc hình
thành ngôn bản và cả đến việc lĩnh hội ngôn bản. Nhân tố này trả lời câu hỏi: nói (viết)
nh
ư thế nào?
Tóm lại: hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn luôn có sự chi phối của nhiều
nhân tố. Chúng tác động đến sự hình thành và lĩnh hội ngôn bản, đồng thời để lại dấu
ấn trong ngôn bản – Những nhân vật tham gia giao tiếp cần ý thức rõ điều đó để sử
dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp một cách có hiệu quả và đạt được mục đích. 21

1.1.4.4. Các dạng lời nói và hoạt động giao tiếp
Căn cứ hình thức và phương tiện biểu đạt, có thể chia ngôn ngữ (lời nói) thành hai
dạng: khẩu ngữ (ngôn ngữ nói) và bút ngữ (ngôn ngữ viết). Hai dạng này có sự khác
nhau đáng kể về phương tiện biểu đạt, cách lựa chọn từ ngữ, hoàn cảnh sử dụng, ...
Khẩu ngữ

22

vào mạch câu chuyện hoặc chủ đề hội thoại thì nó mới có ý nghĩa. Các lời đối thoại
thường ngắn gọn, giúp người tiếp nhận dễ theo dõi, có sức phản xạ nhanh, có thể đáp
lời đúng mạch giao tiếp. Lời đối thoại cần phù hợp với vị trí xã hội của người nói hoặc
thích hợp với mối quan hệ xã hội giữa người nói với những ngườ
i tham gia hội thoại.
Lời độc thoại (đơn thoại): là lời của một người nói cho những người khác nghe, có
khi là lời nói với chính bản thân. Thực ra ranh giới của lời độc thoại và lời trong đối
thoại chỉ mang tính ước định. Lời độc thoại thường xuất hiện trong một số hoàn cảnh
cụ thể: người báo cáo, đọc diễn văn trong các cuộc họp, hội thảo, GV gi
ảng bài, một
người mãi suy nghĩ nói to ý nghĩ của mình ... Ở đây, chúng ta bàn tới ngôn ngữ trong
giao tiếp, tức là chỉ bàn tới ngôn ngữ độc thoại mà người nói nói cho người khác nghe,
mà không bàn tới lời tự nói với bản thân.
So với lời đối thoại, lời độc thoại đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo và sự tập trung chú ý
cao hơn, người độc thoại thường chủ động hơn trong việc l
ựa chọn nội dung và cách
thức nói, vì có điều kiện thu thập tài liệu, xây dựng đề cương, suy ngẫm kĩ về từng vấn
đề sẽ trình bày, lựa chọn những phương tiện biểu đạt thích hợp nhất.
Bút ngữ
Đặc điểm của bút ngữ:
Bút ngữ (ngôn ngữ viết hoặc lời viết) là hình thức lời nói được sử dụng thường
xuyên và có hiệu quả trong giao tiế
p xã hội. Trong ngôn bản bút ngữ, cấu trúc câu
thường đầy đủ và phức tạp hơn, các từ ngữ sách vở xuất hiện với tần suất cao hơn so
với khẩu ngữ; bài viết thường có dung lượng lớn hơn so với một bài nói miệng cùng đề
tài. Với ngôn bản viết, dấu câu, sự xuống dòng, ngắt đoạn, các kiểu chữ khác nhau là
những phương tiện biểu đạt đặt tr
ưng và hiệu quả.

Lập chương trình biểu đạt trong quá trình tạo lời chính là hoạt động tìm ý bằng
cách quan sát, tái hiện những điều đã quan sát hoặc t
ưởng tượng những điều có thể sẽ
xảy ra, theo các nhân tố được xác định khi định hướng. Lập chương trình còn là lựa
chọn và sắp xếp các ý đã tìm được theo một trình tự hợp lý để có sản phẩm là một dàn
bài cho bài nói, bài viết trong tương lai.
Hiện thực hóa chương trình trong quá trình tạo lời là quá trình chuyển những nội
dung đã được lựa chọn và sắp xếp trong dàn bài thành phát ngôn, ngôn bản. Tùy từng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status