Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM VŨ XUÂN QUỲNH DẠY HỌC VỀ NGHĨA CỦA TỪ CHO HỌC SINH
LỚP 6 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS Lê A
THÁI NGUYÊN - NĂM 2010 MỤC LỤC
Phần mở đầu
Trang
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3. Lịch sử vấn đề 3
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
5. Giả thuyết khoa học 6
6. Phương pháp nghiên cứu 6
7. Cấu trúc luận văn 8
Phần nội dung
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học về nghĩa của từ
cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 10
1.1. Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ và trong hoạt động giao tiếp 10
1.1.1. Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ 10
1.1.1.1. Nghĩa biểu vật 11
1.1.1.2. Nghĩa biểu niệm 12
1.1.1.3. Nghĩa biểu cảm 14
1.1.1.4. Nghĩa ngữ pháp 15
1.1.2. Nghĩa của từ trong hoạt động giao tiếp 16
2.3.1. Tổ chức dạy học lý thuyết về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6
theo quan điểm giao tiếp 47
2.3.1.1. Sử dụng một số phương pháp trong dạy học lý thuyết về nghĩa
của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 48
2.3.1.2. Sử dụng một số phương tiện trong dạy học lý thuyết về nghĩa
của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 56 2.3.2. Tổ chức luyện tập về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan
điểm giao tiếp 59
2.3.2.1. Sử dụng bài tập như một phương tiện để luyện tập về nghĩa của
từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 60
2.3.2.2. Lựa chọn hình thức tổ chức luyện tập về nghĩa của từ cho học
sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 72
2.4. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập về nghĩa của từ của học sinh lớp
6 theo quan điểm giao tiếp 77
2.4.1. Mục đích kiểm tra, đánh giá 77
2.4.2. Nội dung kiểm tra, đánh giá 77
2.4.3. Hình thức kiểm tra, đánh giá 78
2.4.4. Xử lý kết quả kiểm tra, đánh giá 79
Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 80
3.1. Mục đích của thực nghiệm 80
3.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 80
3.3. Phương pháp thực nghiệm 83
3.4. Nội dung thực nghiệm 84
3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm 99
3.6. Kết luận chung về thực nghiệm 102
Phần kết luận 104
Thƣ mục tài liệu tham khảo 108
Phụ lục 112
Trong giao tiếp, nếu không nắm được nghĩa của từ, người tiếp nhận sẽ
không hiểu hết, thậm chí hiểu sai lệch ý của người phát. Còn bản thân người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
2
phát thì lại khó làm cho người nhận hiểu được ý của mình. Cùng với những
non yếu về ngữ pháp, những non yếu trong việc hiểu biết và sử dụng từ ngữ,
đặc biệt là việc hiểu nghĩa của từ làm cho việc giao tiếp gặp nhiều khó khăn
và không đạt hiệu quả. Điều đó chứng tỏ rằng để phát huy chức năng làm
công cụ giao tiếp của ngôn ngữ chúng ta nhất thiết phải hiểu được nghĩa của
từ, có khả năng huy động và sử dụng từ đúng nghĩa. Và dạy từ là một nhiệm
vụ quan trọng trong chương trình giáo dục ở nhà trường phổ thông.
1.3. Một trong những nguyên tắc cơ bản của dạy ngôn ngữ nói chung
và dạy học tiếng Việt nói riêng là dạy trong giao tiếp và hướng tới mục tiêu
trau dồi cho học sinh năng lực hoạt động giao tiếp. Đã từ lâu, dạy tiếng Việt
hướng vào giao tiếp - hướng lý thuyết tiếng Việt vào hoạt động hành chức của
nó là vấn đề rất được các nhà nghiên cứu, các cán bộ chỉ đạo chuyên môn của
ngành cùng đông đảo các thầy cô giáo quan tâm.
Các bài về nghĩa của từ trong sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn 6 được
biên soạn theo hướng tích hợp và tích cực nhằm phát huy cao độ tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh. Đây là một quan điểm dạy học mới, hiện đại
và thực tế đã đem lại những kết quả tốt. Tuy nhiên đây là một hướng dạy học
còn mới mẻ đối với một bộ phận giáo viên (GV) bậc trung học cơ sở (THCS).
Hơn nữa giáo viên cũng chưa nắm rõ được một số đặc trưng quan trọng của
phân môn Tiếng Việt trong nhà trường. Việc hiểu nghĩa của từ và khả năng
vận dụng từ ngữ vào thực tế của nhiều giáo viên cũng chưa chính xác. Phần
lớn giáo viên còn rất lúng túng khi phải giải thích nghĩa của từ cho học sinh.
Bên cạnh đó, việc giảng dạy phần tiếng Việt nói chung và dạy học về
nghĩa của từ nói riêng trong các nhà trường THCS hiện nay còn khô khan,
nhiều những định hướng, quy định, những công trình nghiên cứu quan trọng
về vấn đề dạy tiếng mẹ đẻ trong các nhà trường ở các nước, nhưng nổi bật
hơn cả là dạy học theo quan điểm giao tiếp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
4
3.1. Về quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt
Ở Việt Nam đã từ lâu, dạy tiếng Việt hướng vào giao tiếp - hướng lý
thuyết tiếng Việt vào hoạt động hành chức của nó là vấn đề rất được các nhà
nghiên cứu, các cán bộ chỉ đạo chuyên môn của ngành quan tâm. Đã có nhiều
chuyên luận, công trình nghiên cứu về vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan
điểm giao tiếp, tiêu biểu như: “Phương pháp dạy học tiếng Việt” [1]; “Hoạt
động giao tiếp với dạy học tiếng Việt ở tiểu học” [13]; “Một số vấn đề dạy
học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở tiểu học” [47].
Ngoài ra, còn một số bài viết đăng trên các báo và tạp chí cũng đề cập
đến quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt như: “Dạy tiếng Việt là dạy
một hoạt động và bằng hoạt động” [2]; “Về quan điểm giao tiếp trong dạy
học tiếng Việt” [41] v.v
Mặc dù mỗi công trình nghiên cứu, mỗi bài viết kể trên bàn đến các góc
độ khác nhau của vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp nhưng
nhìn chung các tác giả đều khẳng định vai trò quan trọng và tính tất yếu của
quan điểm dạy học theo định hướng giao tiếp. Việc dạy học tiếng Việt cần
thấm nhuần quan điểm giao tiếp, bởi giao tiếp vừa là mục đích, lại cũng vừa
là phương thức để dạy học tiếng Việt. Phương pháp giao tiếp là phương pháp
chủ yếu để phát triển lời nói cho học sinh, phải chú trọng cả vào bốn kỹ năng
nghe, nói, đọc, viết, phải hướng tới sự giao tiếp và sử dụng phương pháp giao
tiếp. Trong quá trình dạy học tiếng Việt phải tạo ra cho học sinh nhu cầu cần
diễn đạt, nhu cầu giao tiếp nhất định (tức là tạo ra các chủ đề) để học sinh vận
muốn nâng cao hiệu quả giảng dạy phần Tiếng Việt nói riêng và nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh nói chung.
4. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở xây dựng cơ sở lý luận và tìm hiểu thực trạng của việc dạy
học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 hiện nay, luận văn sẽ đề xuất phương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
6
hướng và giải pháp dạy học các bài về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo
quan điểm giao tiếp nhằm nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc tổ chức dạy học
các bài về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6. Đánh giá thực trạng dạy và học
các bài về nghĩa của từ hiện nay.
4.2.2. Đề xuất những nội dung, phương pháp và hình thức dạy học có
tính chất thực thi, có hiệu quả cho dạy học nhóm bài này ở lớp 6.
4.2.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra đánh giá khả năng
thực thi, hiệu quả của việc dạy học về nghĩa của từ ở lớp 6 theo quan điểm
giao tiếp mà luận văn đề xuất.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu tổ chức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm
giao tiếp, nghĩa là phải đặt quá trình tổ chức dạy học vào giao tiếp, thông qua
các hoạt động giao tiếp cụ thể của học sinh nhằm hướng tới hình thành, phát
triển năng lực sử dụng từ trong giao tiếp cho học sinh bằng những phương
pháp, biện pháp và hình thức phong phú, thích hợp thì sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả các tiết dạy về nghĩa của từ nói riêng và phần Tiếng Việt nói chung.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp này được dùng để xem xét, xác nhận tính đúng đắn, hợp
lý và tính khả thi của việc dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo
quan điểm giao tiếp mà luận văn đề xuất. Phương tiện chủ yếu để trắc nghiệm
là các phiếu điều tra với nội dung và hình thức khác nhau, hướng tới đích điều
tra về trình độ tư duy, kết quả học tập của học sinh.
Các loại thực nghiệm sư phạm cơ bản được sử dụng trong luận văn là:
- Thực nghiệm thăm dò: nhằm tìm hiểu khả năng và kết quả thực hiện
các tiết dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6.
- Thực nghiệm đối chứng: được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết của
đề tài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
8
- Thực nghiệm kiểm tra, đánh giá: nhằm kiểm tra, đánh giá việc vận
dụng các thiết kế mà luận văn đưa ra vào các bài dạy, tiết dạy cụ thể.
Tổ chức dạy thực nghiệm nhằm xác định tính hiệu quả, tính khả thi của
việc tổ chức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao
tiếp. Tiến hành thực nghiệm ở một số lớp 6 của một số trường THCS thuộc
hai tỉnh Tuyên Quang và Yên Bái. Kết quả thực nghiệm sẽ là cơ sở để xác
định mô hình thiết kế hiệu quả nhất cho giờ dạy học về nghĩa của từ cho học
sinh lớp 6 ở các trường THCS hiện nay.
7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học về nghĩa của từ
cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp
Trong chương này, chúng tôi trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn
của dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp. Cụ
thể là: Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ và trong hoạt động giao tiếp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC VỀ NGHĨA CỦA
TỪ CHO HỌC SINH LỚP 6 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
1.1. NGHĨA CỦA TỪ TRONG HỆ THỐNG NGÔN NGỮ VÀ TRONG HOẠT
ĐỘNG GIAO TIẾP
1.1.1. Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ
Nghĩa của từ là một trong những khái niệm quan trọng nhất của ngôn
ngữ học. Nghĩa của từ là một vấn đề phức tạp, không thể nhận diện và hiểu nó
một cách dễ dàng. Vì thế đã có nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm
nghĩa của từ. “Nghĩa của từ chẳng qua là một sự liên tưởng” (A.A. Leont‟ev)
“Nghĩa của từ về phương diện tâm lí mà chúng ta cần ( ) là thuộc tính thiên
hướng của kí hiệu mà với thuộc tính thiên hướng đó các quá trình tâm lí diễn
ra ở người nghe là phản ứng được thay đổi phụ thuộc vào các hoàn cảnh đi
kèm, còn kích thích là sự tri giác kí hiệu bằng thính giác.” (Ch. Stevenson);
“Nghĩa của từ là cái xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc mọi người khi
Nghĩa biểu vật quy định phạm vi sự vật mà từ dùng để biểu hiện. Có
những từ chỉ có nghĩa biểu vật hẹp, chỉ ứng với một sự vật, hiện tượng duy
nhất trong thực tế. Chẳng hạn, nghĩa biểu vật của từ “sủa” là các loài chó.
Nghĩa biểu vật của các từ “tư duy”, “nghĩ”, “kết luận”, “chán nản”, “bi quan”
là hoạt động, trạng thái tâm lí của con người. Nhưng có những từ lại có tính
khái quát lớn bao hàm một phạm vi sự vật to lớn. Ví dụ, nghĩa biểu vật của từ
“chỗ” là chỉ mọi nơi, mọi chốn; nghĩa biểu vật của từ “cánh” là tất cả những
cái cánh, từ cánh của chim, của chuồn chuồn, của bướm cho đến cánh của
quạt, của máy bay. Có những từ có nhiều nghĩa biểu vật, tức là từ đó ứng với
nhiều loại sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất. Ví dụ, từ “đầu” của tiếng
Việt trước hết có nghĩa biểu vật: chỉ bộ phận của cơ thể người hoặc động vật
(bộ phận ở trên cùng hay trước hết của cơ thể, thường chứa bộ não có chức
năng điều khiển cơ thể). Từ “đầu” còn có các nghĩa biểu vật khác: chỉ bộ phận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
12
trước hết có chức năng điều khiển của vật (đầu máy, đầu tầu hoả ), chỉ bộ
phận ở vị trí trước hết của vật thể (đầu nhà, đầu bàn, đầu ngón tay ), chỉ vị trí
trước hết trong không gian (đầu làng, đầu sông, đầu chợ ), hoặc trong thời
gian (đầu tháng, đầu mùa, đầu năm ). Như vậy, một từ có thể có nhiều nghĩa
biểu vật.
Nghĩa biểu vật là thành phần nghĩa giúp chúng ta hiểu từ một cách
chính xác. Tuy nhiên cần tránh việc hiểu lầm, cho rằng “ý nghĩa biểu vật
trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng, tính chất trong thực tế khách quan.”.
[9, tr.105]. Để hiểu từ, việc nắm được các ý nghĩa biểu vật của nó là bước đầu
cần thiết. Tuy nhiên, không nên nghĩ một cách quá đơn giản về chúng: không
phải cứ nắm được sự vật, hiện tượng là nắm được ý nghĩa biểu vật. Ý nghĩa
biểu vật tuy bắt nguồn từ sự vật, hiện tượng khách quan, song do chịu sự tác
động qua lại của các từ khác, do chịu sự khái quát hoá và chịu tác động của
với nét nghĩa “vật thể nhân tạo” là một nét nghĩa cụ thể, nhưng so với nét
nghĩa “đồ dùng để đặt ”, “đồ dùng để nằm ” lại là một nét nghĩa khái quát.
Cũng như thế, nét nghĩa “dời chỗ” là một nét nghĩa cụ thể so với nét nghĩa
“hoạt động”, nhưng lại là khái quát so với nét nghĩa “dời chỗ bằng chân”,
“dời chỗ trong nước”, “dời chỗ trong không khí”.
Một từ cũng có thể có nhiều nghĩa biểu niệm nếu nó ứng với nhiều cấu
trúc biểu niệm. Ví dụ, từ “chạy” có các nghĩa biểu niệm khác nhau như sau:
- chạy: hoạt động, tự dời chỗ, bằng chân, của người hay động vật, ở
trên mặt đất, với tốc độ cao (mỗi nét nghĩa được tách ra bằng dấu phẩy).
- chạy: hoạt động, dời chỗ một vật khác, với tốc độ cao.
- chạy: hoạt động tìm kiếm người hay vật cần thiết, một cách khẩn
trương, vất vả.
- chạy: hoạt động trốn tránh điều nguy hiểm, một cách khẩn trương.
Tập hợp một số nét nghĩa thành ý nghĩa biểu niệm là một tập hợp có
quy tắc, giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định. Để phát hiện ra các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
14
nét nghĩa cần phải tìm ra những nét nghĩa chung, đồng nhất trong nhiều từ rồi
lại đối lập những từ có nét nghĩa chung đó với nhau để tìm ra những nét nghĩa
cụ thể hơn, cứ như vậy cho đến khi gặp những nét nghĩa chỉ có riêng trong
một từ.
1.1.1.3. Nghĩa biểu cảm
Nghĩa biểu cảm (hay còn gọi là nghĩa tình thái hay nghĩa biểu thái) là
thành phần nghĩa biểu thị thái độ, tình cảm, cảm xúc v.v của con người.
Thành phần nghĩa biểu cảm có thể là một nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm
của từ. Ví dụ, so sánh các từ sau:
- cho: hoạt động, mang vật sở hữu của mình để người khác dùng, mà
không cần trả lại hoặc đổi bằng vật khác, với sắc thái tình cảm trung hoà (bình
thành phần nghĩa ngữ pháp của từ.
1.1.1.4. Nghĩa ngữ pháp
Từ nào cũng có nghĩa ngữ pháp. Chúng ta đã biết, các từ chia thành các
từ loại. Các từ loại lớn lại chia thành những tiểu loại. Trước hết, đó là nghĩa
khái quát, chung cho tất cả các từ thuộc cùng một từ loại, một tiểu loại. Nghĩa
khái quát này dựa trên nét nghĩa phạm trù trong cấu trúc biểu niệm của từ.
Chẳng hạn, nghĩa sự vật ở danh từ, nghĩa hoạt động, trạng thái ở động từ,
nghĩa đặc điểm tính chất ở tính từ, nghĩa số lượng ở số từ Hoặc các nghĩa
ngữ pháp của các tiểu loại, như các nghĩa ở động từ chỉ hoạt động tác động,
chỉ hoạt động sai khiến, chỉ hoạt động biến hoá, chỉ hoạt động ban phát, chỉ
hoạt động tri giác, suy nghĩ, nói năng v.v
Có những từ chỉ có nghĩa ngữ pháp. Đó là phần lớn các hư từ. Ví dụ,
các quan hệ từ là những từ làm dấu hiệu cho các quan hệ ngữ pháp: quan hệ
nguyên nhân (vì, tại, bởi, do); quan hệ sở hữu (của); quan hệ đối lập (nhưng,
song, mà); quan hệ giả thiết - điều kiện (nếu, giá, hễ ).
Có những từ chuyên làm thành tố phụ để làm dấu hiệu cho một số ý
nghĩa bổ sung như: ý nghĩa đồng nhất (đều, cũng, vẫn, cứ, còn, lại ); ý nghĩa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
16
phủ định (không, chưa, chẳng ); ý nghĩa mức độ (rất, quá, lắm, vô cùng )
Đó là những phụ từ.
Như vậy, nghĩa ngữ pháp là thành phần nghĩa luôn luôn có mặt trong
từ, kể cả ở thực từ và hư từ. Tất cả các thành phần ý nghĩa (nghĩa biểu vật,
nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu cảm, nghĩa ngữ pháp) hợp thành bình diện nghĩa
của từ, tồn tại bên trong từ. Trong bình diện nghĩa của từ, các thành phần ý
nghĩa đan quyện vào nhau, chế định lẫn nhau, chứ không phải tồn tại một
cách biệt lập và không phải có một đường ranh giới thật rõ ràng, dứt khoát.
Ngay cả sự phân biệt nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp cũng không có tính
nhờ có giao tiếp mà mỗi con người được trưởng thành để có được những đặc
trưng xã hội, còn xã hội loài người nhờ có giao tiếp mà hình thành, tồn tại và
phát triển. Hoạt động giao tiếp có ngay từ khi có con người và xã hội loài
người. Đồng thời cùng với sự phát triển về mọi mặt của xã hội loài người thì
hoạt động giao tiếp của con người cũng ngày một phong phú, với nhiều cách
thức và phương tiện đa dạng, với hiệu quả giao tiếp ngày một cao hơn.
Con người có thể dùng nhiều phương tiện để giao tiếp. Có phương tiện
thô sơ, đơn giản, như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt; có phương tiện kĩ thuật tinh vi,
hiện đại như dùng các tín hiệu vô tuyến viễn thông. Trong đó, “ngôn ngữ là
phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người” [18, tr.17]. Bởi lẽ, ngôn
ngữ chính là phương tiện đã được dùng trong giao tiếp xã hội ngay từ khi mới
hình thành con người và xã hội loài người và đến nay, tuy con người có thể có
nhiều phương tiện giao tiếp khác, nhưng ngôn ngữ vẫn không thể bị thay thế.
Hơn nữa, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp có tính phổ biến rộng khắp: ở
mọi nơi, mọi lúc, mọi lứa tuổi, mọi nghề nghiệp, hình thức hoạt động của con
người Và hơn thế nữa, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp có hiệu quả: nó
giúp cho con người bộc lộ và truyền đạt được mọi điều. Có thể nói không có
gì liên quan đến con người, thuộc về con người mà lại không thể biểu hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
18
được bằng ngôn ngữ. Về những phương diện ấy, các phương tiện giao tiếp
khác có sự hạn chế hơn.
Với tư cách là phương tiện giao tiếp, ngôn ngữ có thể tồn tại dưới hai
dạng: nói và viết. Từ khi có chữ viết ra đời, tuy không thể thay thế hoàn toàn
cho ngôn ngữ nói, nhưng chữ viết có những ưu thế riêng của nó. Chữ viết
giúp cho con người giao tiếp trong một khoảng thời gian lâu bền hơn (thậm
chí giữa các thế hệ cách nhau hàng thế kỉ), và cả trong một không gian xa xôi,
rộng lớn hơn (qua thư từ, sách báo ). Nó chuyển hoạt động giao tiếp từ dạng
(những sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất ), có thể là những sản phẩm
tinh thần của tư duy con người, có thể là cả những tình cảm, cảm xúc và thái
độ của con người đối với điều được nói đến, hoặc đối với người tham gia hoạt
động giao tiếp, hay đối với chính hoạt động giao tiếp.
- Phương tiện giao tiếp: ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng
nhất của con người. Trong giao tiếp, ngôn ngữ có thể được sử dụng ở dạng
nói (giao tiếp miệng/khẩu ngữ), hoặc dạng viết (giao tiếp viết/bút ngữ) và có
thể được dùng theo những cách khác nhau.
- Mục đích giao tiếp: mỗi hoạt động giao tiếp diễn ra đều nhằm một
hoặc một số mục đích nào đó (gọi tắt là đích của giao tiếp). Mục đích giao
tiếp có liên quan đến chức năng của giao tiếp: thông báo, tạo lập quan hệ, biểu
hiện, giải trí, hành động. Giao tiếp có thể nhằm mục đích làm quen, bày tỏ nỗi
vui mừng, lo sợ, thông báo cho người nghe một tư tưởng, một nhận thức nào
đó của mình, đưa ra một lời mời, hay một yêu cầu đòi hỏi người nghe phải
thực hiện Với cuộc giao tiếp có nhiều đích, có đích chính và đích phụ. Mục
đích giao tiếp là một trong những yếu tố chi phối việc lựa chọn nội dung và
cách thức giao tiếp.
- Hoàn cảnh giao tiếp: là hoàn cảnh diễn ra cuộc giao tiếp. Có hoàn
cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp. Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
20
gồm hoàn cảnh tự nhiên (địa lý, lãnh thổ ), hoàn cảnh xã hội (chính trị, kinh
tế, văn hoá, ), hoàn cảnh lịch sử chung của dân tộc, của đất nước. Hoàn
cảnh giao tiếp hẹp là địa điểm, thời gian cụ thể diễn ra cuộc giao tiếp.
“Giao tiếp nói chung, trong đó giao tiếp ngôn ngữ là quan trọng nhất,
không những là một nhu cầu tất yếu, mà còn là một điều kiện không thể thiếu
cho sự hình thành, tồn tại và phát triển của mỗi con người và của cả xã hội
loài người, của cộng đồng ngôn ngữ”. [40, tr.8]. Về nguyên tắc, giao tiếp