BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG QUAN HỆ TỪ
CHO HỌC SINH LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM
GIAO TIẾP
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
2
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG QUAN HỆ TỪ
CHO HỌC SINH LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM
GIAO TIẾP
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
ĐC
Đối chứng
QHT
Quan hệ từ
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
SGK
Sách giáo khoa
TLV
1.2.2. Quan hệ từ tiếng Việt và việc dạy quan hệ từ ở tiểu học......25
1.2.3. Phân môn Luyện từ và câu và phân môn Tập làm văn ở lớp 5
với việc rèn luyện kĩ năng sử dụng quan hệ từ theo quan
điểm giao tiếp.......................................................................31
1.2.4. Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 5 và việc rèn luyện kỹ năng
sử dụng quan hệ từ ...............................................................37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1............................................................................41
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI................................................................43
2.1. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG......43
2.1.1. Mục đích khảo sát thực trạng................................................43
2.1.2. Nội dung khảo sát thực trạng................................................43
8
2.1.3. Đối tượng khảo sát thực trạng...............................................43
2.1.4. Phương pháp khảo sát thực trạng..........................................43
2.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG........................................44
2.2.1. Thực trạng kiến thức và kỹ năng sử dụng quan hệ từ của học
sinh lớp 5..............................................................................44
2.2.2. Thực trạng nhận thức và sử dụng các biện pháp dạy học về
quan hệ từ theo quan điểm giao tiếp của giáo viên..............48
2.3. NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG.............................................53
2.3.1. Nguyên nhân từ phía HS.......................................................53
2.3.2. Nguyên nhân từ phía GV......................................................53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2............................................................................54
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỬ DỤNG QUAN HỆ TỪ
CHO HỌC SINH LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP.........................55
3.1. CÁC NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng:
Bảng 1.1. Các tiết học dạy quan hệ từ trong phân môn Luyện từ và câu........32
Bảng 1.2. Chương trình Tập làm văn ở lớp 5..................................................35
Bảng 1.3. Các bài tập có thể vận dụng rèn kỹ năng sử dụng QHT cho HS.....36
Bảng 2.1. Kết quả kiểm tra học sinh về khái niệm của quan hệ từ.................44
Bảng 2.2. Kết quả bài tập thực hành về QHT của học sinh............................46
Bảng 2.3. Bảng điều tra thực tế dạy học quan hệ từ ở lớp 5...........................48
Bảng 3.1. Kết quả lĩnh hội tri thức của HS.....................................................85
Bảng 3.2. Tỉ lệ kết quả của lớp thử nghiệm so với lớp đối chứng..................86
Biểu đồ 3.1. Biểu đồ biểu diễn tần suất kết quả thử nghiệm...........................87
Bảng 3.3. Mức độ hứng thú học tập của HS đối với các bài học....................88
11
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tiểu học là cấp học đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát
triển nhân cách con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông và các cấp
học trên. Nhiệm vụ của môn Tiếng Việt ở tiểu học, nhằm trang bị cho HS,
những chủ nhân tương lai của đất nước những kiến thức về hệ thống tiếng
Việt, chuẩn tiếng Việt, rèn cho học sinh kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao
tiếp. Theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế”,
chương trình, SGK phổ thông phải đổi mới theo hướng phát triển toàn diện
năng lực của người học, trong đó, có năng lực giao tiếp.
1.2. Để học sinh có kỹ năng sử dụng tốt tiếng Việt trong giao tiếp việc
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất các biện pháp rèn luyện kỹ
năng sử dụng quan hệ từ trong giao tiếp cho học sinh lớp 5.
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề rèn luyện kỹ năng sử dụng quan hệ từ cho học sinh lớp 5 theo
quan điểm giao tiếp.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp rèn luyện kỹ năng sử dụng quan hệ từ cho học sinh lớp 5
theo quan điểm giao tiếp.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ nghiên cứu việc rèn luyện kĩ năng sử dụng quan hệ từ cho
học sinh lớp 5 thông qua giờ học Luyện từ và câu và Tập làm văn.
- Việc khảo sát thực trạng và thực nghiệm kết quả nghiên cứu của đề tài
13
chỉ được thực hiện ở một số trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Vinh tỉnh
Nghệ An.
4. Giả thuyết khoa học
Chúng tôi giả định rằng, nếu đề xuất và sử dụng được các biện pháp rèn
luyện kỹ năng sử dụng quan hệ từ theo quan điểm giao tiếp, có thể giúp học
sinh lớp 5 sử dụng quan hệ từ linh hoạt, tinh tế, nâng cao năng lực giao tiếp.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài: quan điểm
giao tiếp trong dạy học tiếng Việt, quan hệ từ trong tiếng Việt, nội dung dạy
học quan hệ từ ở tiểu học, đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 5.
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn cơ sở của đề tài: thực trạng năng lực sử
dụng quan hệ từ trong giao tiếp của HS, thực trạng nhận thức và sử dung các
biện pháp dạy học về quan hệ từ cho HS trên giờ học tiếng Việt của GV.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Từ năm 1970, nhiều quốc gia trên thế giới đã xác định mục tiêu của
việc dạy tiếng là dạy trẻ em sử dụng tiếng mẹ đẻ làm công cụ tư duy và giao
tiếp: “sự thành thạo ngôn ngữ”, “biết sử dụng ngôn ngữ”, “khả năng dùng
ngôn ngữ”, “làm chủ ngôn ngữ...”, “công cụ đầu tiên của tự do” [34] cùng
nhiều cách diễn đạt khác đã chỉ rõ mục tiêu của môn học này. Chương trình
dạy tiếng Pháp của bang Qui - bách (Ca - na - da) qui định “Việc giảng dạy
tiếng Pháp phải dựa trên việc thực hành ngôn ngữ và trong các lớp Tiếng
Pháp học sinh phải luôn đặt mình vào trong các tình huống giao tiếp ”. Ở
trong một giai đoạn khác chương trình nhấn mạnh: “cơ bản là phải đặt học
sinh vào tình huống giao tiếp làm sản sinh lời nói hoặc sự thông hiểu ” [34].
Chương trình dạy tiếng Đức - 1987 của nước Cộng hòa dân chủ Đức đã xác
định: “nguyên tắc chỉ đạo việc qui hoạch và tổ chức dạy học tiếng mẹ đẻ
trong nhà trường là triệt để phục vụ cho năng lực giao tiếp của học sinh”
[31]. Chương trình dạy Tiếng Anh qui định: “Cần làm cho học sinh hiểu được
tầm quan trọng của tiếng Anh chuẩn. Tạo điều kiện để học sinh xem xét lời
nói của mình và cách mình giao tiếp với người khác... Khuyến khích học sinh
tự tin để thích ứng điều mình nói với người nghe và với các tình huống khác
nhau..” [Dẫn theo Nguyễn Trí; 34.tr17]. Chiếm lĩnh công cụ sắc bén để tư duy
và giao tiếp, đó là mục tiêu phấn đấu chung của chương trình dạy tiếng mẹ đẻ
của nhiều nước.
16
Ở trong nước, từ hơn mười năm nay, dạy tiếng Việt theo hướng giao
tiếp đã được nhiều nhà phương pháp dạy học tiếng Việt quan tâm nghiên cứu
cùng đông đảo giáo viên ủng hộ. Giáo trình “Phương pháp dạy học tiếng Việt”
phân môn Luyện từ và câu ra đời, thay thế cho hai phân môn Từ ngữ - Ngữ
pháp trước đây, đã tạo ra bước ngoặt trong nền giáo dục. Vì thế, đã nhận được
sự quan tâm từ rất nhiều người: từ các nhà sư phạm, các nhà nghiên cứu cho
đến các bậc phụ huynh học sinh.
Đầu tiên, phải kể đến “Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học ”
[17] của tác giả Lê Phương Nga, Nguyễn Trí. Cuốn sách đã đề cập đến
những vấn đề chung của phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học, vấn đề
bài tập được nói đến trên phương diện phương hướng chung cho tất cả các
phân môn Tiếng Việt.
Cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt ” [1] trình bày rõ phương pháp
dạy học lý thuyết và thực hành từ ngữ, trong đó tác giả Lê A nhấn mạnh
“Thực hành luyện tập, các em có điều kiện vận dụng từ ngữ vào hoạt động lời
nói của mình, nâng cao trình độ tiếng mẹ đẻ...Các cuốn “Phương pháp dạy
học tiếng Việt” nói chung đều nêu cấu tạo, cách thức thực hiện từng loại bài
“lý thuyết từ ngữ” và “thực hành từ ngữ”. Các tác giả đều nhấn mạnh rằng
mục đích của việc dạy “lý thuyết về từ” là mục đích thực hành: giúp HS nắm
được một số khái niệm cơ bản về từ vựng học là để học sinh nắm nghĩa từ
một cách chắc chắn và biết hệ thống hóa vốn từ và sử dụng từ trong giao tiếp
một cách có ý thức.
Trong cuốn “Dạy học từ ngữ ở tiểu học” [28], khi đề cập đến dạy học
“lý thuyết về từ “, tác giả Phan Thiều, Lê Hữu Tỉnh cho rằng: các khái niệm
18
được rút ra từ những bài thực hành về từ, học sinh không những nhận diện
được mà còn phải sử dụng được các khái niệm này trong thực tiễn ngôn ngữ,
giúp học sinh sử dụng ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp. Tác giả còn nhấn
mạnh: “cả tri thức về tiếng Việt phải có tác dụng hình thành, phát triển năng
lực thực tiễn hoạt động ngôn ngữ cho học sinh”.
“Hoạt động giao tiếp với dạy học TV ở tiểu học ” [9] là một giáo trình
tiếp cho học sinh.
1.2. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
1.2.1.1. Giao tiếp và hoạt động giao tiếp
Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người và con người nhằm mục
đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo
nghề nghiệp, hoàn thiện nhân cách bản thân.
Hoạt động giao tiếp có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức, bằng
những phương tiện khác nhau, như hội họa, âm nhạc, điện ảnh, cử chỉ, kí
hiệu... Nhưng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội
loài người.
Hoạt động giao tiếp bao gồm các hành vi giải mã (nhận thông tin) và kí
mã (phát thông tin): trong ngôn ngữ, mỗi hành vi đều có thể thực hiện bằng
hai hình thức là khẩu ngữ (nghe,nói) và bút ngữ (đọc,viết).
Hoạt động giao tiếp diễn ra theo hai quá trình: quá trình sản sinh (kí
mã) và tiếp nhận (giải mã).
Hai quá trình của hoạt động giao tiếp được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Người phát
(nói / viết)
Sản sinh
Ngôn bản
Tiếp nhận
Người nhận
(nghe / đọc)
21
cha mẹ với con cái, quan hệ thầy trò…). Vì vậy, muốn cuộc giao tiếp đạt hiệu
quả thì người phát trước hết phải xác định đúng vai để lựa chọn hình thức
giao tiếp phù hợp. Nhân tố này trả lời cho câu hỏi: ai nói (ai viết)?, nói với ai
(viết cho ai)?
• Nội dung giao tiếp (hiện thực được nói tới)
Nội dung giao tiếp chính là phạm vi hiện thực, thực tế khách quan được
nói tới trong cuộc giao tiếp. Nó bao gồm những sự kiện, hiện tượng, sự vật
trong thực tế khách quan và cả những tình cảm, tâm trạng của con người.
Để giao tiếp diễn ra bình thường và đạt mục đích đề ra, các nhân vật
giao tiếp phải có những hiểu biết nhất định. Hiểu biết càng cụ thể, càng phong
phú thì hiệu quả giao tiếp càng cao. Chẳng hạn, người phát phải có những
hiểu biết về thói quen sử dụng ngôn ngữ để có cách sử dụng ngôn ngữ phù
hợp, cũng như kinh nghiệm, hoàn cảnh sống, nhu cầu, hứng thú, tâm lí, sở
thích để lựa chọn nội dung giao tiếp phù hợp, đồng thời khơi gợi, duy trì hứng
thú nơi người nhận.
Nhưng nội dung giao tiếp cũng không hoàn toàn do người phát quyết
định. Người nhận có thể tiếp nhận thông tin này, từ chối thông tin kia. Nhưng
để hiểu thấu đáo, người nhận cần có khả năng phân tích lý giải. Muốn vậy
phải có vốn sống, vốn hiểu biết nhất định. Nhân tố này trả lời cho các câu hỏi:
nói (viết) cái gì / vấn đề gì?
• Hoàn cảnh giao tiếp
Bất kì hoàn cảnh giao tiếp nào cũng diễn ra trong một bối cảnh cụ thể.
Hoàn cảnh giao tiếp (hay môi trường giao tiếp) chính là nơi chốn, thời gian,
tình huống xảy ra cuộc giao tiếp (hoàn cảnh giao tiếp hẹp). Hay là hoàn cảnh
xã hội đến địa lí tự nhiên, từ hoàn cảnh tâm lí chung của cộng đồng đến bối
cảnh lịch sử, kinh tế chung (hoàn cảnh giao tiếp rộng). Hoàn cảnh giao tiếp
chi phối trực tiếp đến hình thức và nội dung giao tiếp. Cùng nội dung giao
23
mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm, kỹ năng kỹ xảo
nghề nghiệp. Phương tiện đạt hiệu quả cao nhất và đặc trưng cho loài người
đó là ngôn ngữ.
Xuất phát từ việc ý thức về vai trò quan trọng của ngôn ngữ trong giao
tiếp, lâu nay, nhà trường đã đề cao vai trò của việc dạy tiếng mẹ đẻ và nhấn
mạnh mục tiêu giao tiếp. Vì ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp quan
trọng, đạt kết quả tối ưu nhất của loài người nên việc dạy tiếng Việt cho HS
tiểu học cũng phải hướng đến việc cung cấp cho HS một phương tiện giao
tiếp. Muốn hình thành một công cụ để giao tiếp cho HS thì phương pháp dạy
học tốt nhất, có hiệu quả nhất là dạy trong giao tiếp.
• Nội dung của quan điểm giao tiếp
- Để thực hiện mục tiêu “hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ
năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết), để học tập và giao tiếp trong
các môi trường hoạt động của lứa tuổi”.
- Để đạt được mục tiêu là hình thành và phát triển năng lực giao tiếp,
việc xây dựng nội dung dạy học tiếng Việt là việc hết sức quan trọng. Nhà
trường không chỉ hướng đến dạy kiến thức hàn lâm khoa học về ngôn ngữ mà
có nhiệm vụ phát triển lời nói cho học sinh thông qua các trục chủ điểm gắn với
đời sống thực tiễn sử dụng tiếng Việt để hình thành kỹ năng cho học sinh. Vì
thế, kiến thức về tiếng Việt cung cấp cho học sinh chỉ nên ở dạng sơ giản nhưng
phải đảm bảo tính hiện đại. Có như vậy, quá trình chuyển hóa từ kiến thức đến
kỹ năng sẽ dễ dàng cho học sinh hơn và một khi quá trình hình thành kỹ năng
đi đôi với tiếp thu kiến thức thì năng lực giao tiếp sẽ được hình thành.
- Quan điểm giáo tiếp chi phối hoàn toàn phương pháp dạy học đó là
dạy trong hoạt động giao tiếp. Bởi ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp thì việc
dạy ngôn ngữ phải dạy như dạy sử dụng một công cụ. Theo Nguyễn Trí, dạy
tiếng Việt theo quan điển giao tiếp thì phương pháp thực hành giao tiếp được
25
giao tiếp bằng hình thức tổ chức dạy học phù hợp. Mục đích của việc làm này
là giúp học sinh ý thức được quá trình giao tiếp của mình.
1.2.2. Quan hệ từ tiếng Việt và việc dạy quan hệ từ ở tiểu học
1.2.2.1. Quan hệ từ tiếng Việt
a) Quan hệ từ trong ngôn ngữ học truyền thống
Theo quan điểm dạy học truyền thống, quan hệ từ là những từ không có
ý nghĩa từ vựng chân thực, không tham gia vào cấu trúc cụm từ và câu mà chỉ
đóng vai trò liên kết các đơn vị ngôn ngữ để tạo nên những đơn vị lớn hơn.
Chẳng hạn, liên kết từ với từ để tạo cụm từ, liên kết vế câu và vế câu để tạo
câu ghép.
Căn cứ theo tính chất, quan hệ giữa các thành tố cú pháp với nhau, có
thể chia quan hệ từ thành hai loại.
- Loại biểu thị quan hệ chính phụ gọi là giới từ.
- Loại biểu thị quan hệ liên hợp gọi là liên từ.
Cũng có thể nói rằng giới từ luôn luôn dùng để nối hai thành tố khác
loại còn liên từ thì dùng để nối hai thành tố cùng loại.
- Giới từ
+ Giới từ của dùng để biểu thị quan hệ sở hữu trong phạm vi danh ngữ.
VD: - Sách của tôi.
- Sinh viên của khoa Giáo dục.
Nếu quan hệ sở hữu đã rõ rệt, nghĩa là giữa yếu tố chính và yếu tố phụ
ngoài quan hệ sở hữu còn có thể có quan hệ sở hữu thì có thể bỏ của.
VD: - Tay của tôi --> tay tôi
- Cha của tôi --> cha tôi
Ngược lại nếu quan hệ sở hữu chưa được xác định rõ rệt thì nhất thiết
phải dùng của.
VD: - Chính sách của Đảng.