TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGỤY THỊ KIM NGỌC
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN
KỸ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN
CHO HỌC SINH LỚP 3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Toán
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo, thạc sĩ Nguyễn Thị Hƣơng,
giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn
thành khóa luận. Những ý kiến của cô đã giúp em tìm ra cách tốt nhất để giải
quyết những vấn đề khó khăn.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu cùng các giáo viên
trường Tiểu học Xuân Hòa, phường Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh
Phúc đã giúp em thực hiện đề tài.
Do thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những hạn chế và thiếu
sót. Em rất mong tiếp tục nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn để
khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Ngụy Thị Kim Ngọc
1.1.4 Tư duy ................................................................................................ 7
1.1.5 Tưởng tượng ...................................................................................... 7
1.2 Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3 ...................................................................... 7
1.2.1 Mục tiêu ............................................................................................. 7
1.2.2 Nội dung dạy học giải toán có lời văn ............................................... 8
1.2.3 Đặc điểm nội dung dạy học ............................................................. 10
1.2.2 Phương pháp dạy học giải toán có lời văn ....................................... 12
1.3 Kỹ năng giải toán có lời văn của học sinh lớp 3 .................................................15
1.3.1 Kỹ năng ............................................................................................ 15
1.3.1.1 Khái niệm................................................................................... 15
1.3.1.2 Phân biệt kỹ năng và kỹ xảo ...................................................... 16
1.3.2 Kỹ năng học tập ............................................................................. 17
1.3.3 Kỹ năng giải toán ............................................................................. 19
1.3.3.1 Khái niệm.................................................................................. 19
1.3.3.2 Các yêu cầu rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh Tiểu học
................................................................................................................ 19
1.3.3.3 Một số kỹ năng cần thiết khi giải toán ...................................... 20
1.3.4 Kỹ năng giải toán có lời văn ............................................................ 20
1.3.4.1 Quan niệm .................................................................................. 21
1.3.4.2 Cấu trúc ...................................................................................... 21
1.4 Thực trạng về giải toán có lời văn của học sinh lớp 3 ........................................23
1.4.1 Mục đích .......................................................................................... 23
1.4.2 Nội dung........................................................................................... 23
1.4.3 Phương pháp .................................................................................... 24
1.4.4 Kết quả ............................................................................................. 24
1.4.4.1 Thực trạng kỹ năng giải toán có lời văn của học sinh lớp 3...... 24
1.4.4.2 Thực trạng rèn luyện kỹ năng giải bài toán có lời văn cho học
sinh lớp 3................................................................................................ 27
3.5.2.2 Kết quả đánh giá sự khác biệt ở lớp thực nghiệm ........................ 48
3.6 Kết luận thực nghiệm sư phạm.............................................................................49
KẾT LUẬN .................................................................................................... 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 52
PHIẾU ĐIỀU TRA
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỉ 21 được xác định là thế kỉ của tri thức và giáo dục - với vai trò,
sứ mệnh lịch sử của mình càng thể hiện rõ vai trò quan trọng trong nhiệm vụ
tạo ra động lực phát triển của thế kỉ mới. Đảng và Nhà nước ta từ lâu đã thấy
rõ được điều đó. Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng
ta đã nêu rõ: “Giáo dục và Đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Đây chính là điều kiện để phát huy
nguồn nhân lực con người và là một yếu tố cơ bản để phát triển, tăng trưởng
kinh tế một cách nhanh chóng và bền vững”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định “Đổi mới căn bản, toàn
diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ
hoá và hội nhập quốc tế” và “ hát triển nhanh nguồn nhân lực, nh t là nguồn
nhân lực ch t lư ng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền
giáo dục quốc dân”.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta, giáo dục Tiểu học có vị trí
đặc biệt quan trọng, là cơ sở vững chắc, là nền tảng quan trọng. Mục tiêu của
Giáo dục Tiểu học là nhằm giúp học sinh (HS) hình thành những cơ sở ban
đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ
và các kỹ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn
bị cho HS tiếp tục học trung học cơ sở.
Mục tiêu này được cụ thể hóa trong từng môn học, từng hoạt động
HS dễ dàng tìm ra được đáp số của bài toán; nhưng lên lớp 3, HS bắt đầu làm
quen với bài toán hợp (bài toán có hai phép tính, bài toán rút về đơn vị) thì
mối quan hệ giữa các thành phần đã phức tạp hơn. Nếu không chú ý dạy cho
2
HS thì rất khó để giúp các em có thể giải được các bài toán khó hơn ở lớp 4,
lớp 5 (giai đoạn học tập sâu); và xa hơn là phương pháp giải toán nói chung.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Một số biện
pháp rèn luyện kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3” làm đề tài
khóa luận của mình. Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi mong sẽ góp một
phần nhỏ vào việc giúp các em HS có được kỹ năng giải toán tốt hơn, góp
phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học giải toán có lời văn ở HS lớp 3 nói
riêng và việc dạy học môn Toán nói chung ở trường Tiểu học.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số biện pháp rèn luyện
kỹ năng giải toán có lời văn cho HS lớp 3. Qua đó, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học giải toán có lời văn nói riêng và chất lượng dạy học toán ở
Tiểu học nói chung.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về nội dung dạy học giải toán có lời văn ở
lớp 3, kỹ năng dạy học giải toán có lời văn của HS lớp 3.
- Tìm hiểu thực trạng rèn luyện kỹ năng giải toán có lời văn của HS lớp 3.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm rèn luyện kỹ năng giải toán có lời văn
cho HS lớp 3.
- Tiến hành thực nghiệm, kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1) Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giải toán có lời văn.
diện về mọi mặt, trong đó có quá trình nhận thức. Lứa tuổi này được chia
thành hai giai đoạn: giai đoạn đầu Tiểu học (lớp 1, 2, 3) và giai đoạn cuối
Tiểu học (lớp 4, 5).
HS lớp 3 đạt được mức độ phát triển cao nhất về nhận thức của giai
đoạn đầu và bước đầu chuyển sang mức nhận thức của giai đoạn tiếp theo.
1.1.1 Tri giác
Tri giác là quá trình nhận thức của HS phân tích trọn vẹn các thuộc tính
của sự vật, hiện tượng khi đang trực tiếp tác động vào các giác quan của HS.
Tri giác của HS Tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang
tính không ổn định: Ở lứa tuổi HS Tiểu học, tri giác thường gắn với hành
động trực quan. Đến cuối năm học lớp 3, tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm:
trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn. Tri giác
của trẻ mang tính mục đích, có phương pháp rõ ràng, xuất hiện tri giác có chủ
định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm bài
tập từ dễ đến khó).
1.1.2 Chú ý
Ở đầu lứa tuổi Tiểu học, chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng
kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này, chú ý không chủ
5
định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến
những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động hấp dẫn, có những
tranh ảnh, trò chơi…Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền
vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập.
Lên lớp 3, trẻ bắt đầu hình thành kỹ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của
mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và sẽ chiếm ưu thế trong giai đoạn thứ
hai. Ở trẻ bắt đầu có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc
một bài thơ, một công thức toán hoặc một bài hát dài… Trong sự chú ý của
khái niệm phán đoán và suy lí [11, tr.1070].
Tư duy là quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, các mối liên
hệ và các quan hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng khách quan [14, tr.87].
Từ hai định nghĩa về tư duy ở trên, ta thấy: tư duy của HS Tiểu học
chuyển dần từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng. Trong quá trình học tập,
tư duy của HS Tiểu học thay đổi rất nhiều. Nếu tri giác phát triển khá mạnh ở
mẫu giáo thì lên lứa tuổi Tiểu học, tư duy phát triển mạnh mẽ hơn. Ở đây, vai
trò thúc đẩy các nội dung và phương pháp dạy học, vai trò của GV với tư cách
là người tổ chức hoạt động có tính quyết định phát triển tư duy. Vì vậy, HS sẽ
tiếp thu kiến thức tốt hơn nếu GV có những biện pháp dạy học phù hợp và
hiệu quả.
1.1.5 Tưởng tượng
Ở đầu Tiểu học, tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững dễ thay đổi.
Tưởng tượng của HS lớp 3 đã phát triển phong phú hơn so với HS lớp 1, lớp 2
nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dặn.
1.2 Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3
1.2.1 Mục tiêu
Dạy học giải toán có lời văn lớp 3 nhằm giúp HS:
- Biết giải các bài toán đơn liên quan đến phép cộng, phép trừ, phép
nhân, phép chia.
- Nhận biết được bước đầu về bài toán hợp giải bằng hai phép tính, bài
toán liên quan đến rút về đơn vị và một số dạng bài toán có nội dung hình học.
7
- Biết giải và trình bày bài toán có hai bước tính (bài toán hợp) trong đó
có bài toán liên quan đến rút về đơn vị và một số dạng bài toán có sử dụng các
kiến thức về quan hệ giữa hai đại lượng (so sánh hai số hơn kém nhau một số
đơn vị, so sánh số lớn gấp mấy lần số bé, số bé bằng mấy lần số lớn, tìm một
+ Tìm số hạng chưa biết, khi biết tổng và số hạng còn lại
+ Tìm số bị trừ, khi biết hiệu và số trừ
+ Tìm số trừ, khi biết hiệu và số bị trừ
+ Tìm thừa số chưa biết, khi biết tích và thừa số còn lại
+ Tìm số bị chia, khi biết thương và số chia
+ Tìm số chia, khi biết thương và số bị chia
- Nhóm 3: Các bài toán đơn phát triển thêm ý nghĩa mới của phép tính
số học
+ Gấp một số lên nhiều lần [5, tr.33]
+ Giảm đi một số lần [5, tr.37]
+ So sánh số lớn gấp mấy lần số bé [5, tr.57]
+ So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn [5, tr.61]
- Nhóm 4: Các bài toán đơn liên quan đến phân số và tỉ số
+ Tìm một trong các phần bằng nhau của một số [5, tr.26]
- Nhóm 5: Các bài toán đơn áp dụng các công thức (thường là các bài
toán nội dung hình học)
+ Chu vi hình chữ nhật [5, tr.87]
+ Chu vi hình vuông [5, tr.88]
+ Diện tích hình chữ nhật [5, tr.152]
+ Diện tích hình vuông [5, tr.153]
* Các bài toán hợp chia hai nhóm:
- Nhóm 1: Bài toán không điển hình
+ Bài toán được giải bằng hai phép tính (2 tiết) [5, tr.50, 51]
- Nhóm 2: Bài toán điển hình
9
+ Bài toán liên quan đến rút về đơn vị (2 tiết) [5, tr.128, 166]
1.2.3 Đặc điểm nội dung dạy học
về đơn vị).
+ Ở lớp 2, HS được học giải bài toán về quan hệ nhiều hơn, ít hơn.
Chẳng hạn bài toán: Tìm số lớn hơn (hoặc số bé hơn) khi biết số bé (hoặc số
lớn) và “phần nhiều hơn” (hoặc “phần ít hơn”). Đến lớp 3, HS được hoàn
chỉnh về bài toán về quan hệ “nhiều hơn, ít hơn”. Cụ thể là bài toán “So sánh
hai số hơn kém nhau một số đơn vị”. Biết số lớn và số bé tìm “phần nhiều
hơn” hoặc “phần ít hơn” của số lớn so với số bé hoặc số bé so với số lớn.
- Nội dung dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3 là cơ sở, nền tảng phát
triển nội dung dạy học giải toán có lời văn ở lớp 4, lớp 5.
+ Lên lớp 4 HS tiếp tục giải các bài toán bằng một phép tính liên quan
đến ý nghĩa của các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) với các số tự nhiên có
nhiều chữ số hoặc với các phân số (học ở lớp 4). Tiếp tục giải các bài toán có
không quá ba bước tính. Được tiếp cận các bài toán đa dạng đòi hỏi cách giải
quyết linh hoạt, suy nghĩ sáng tạo hơn.
+ Việc giải bài toán “Tìm một phần m y của một số”.
Ví dụ: Có 28 học sinh đang tập bơi, 1 số học sinh đó là học sinh lớp
4
3A. Hỏi lớp 3A có bao nhiêu học sinh đang tập bơi ? [5, tr.27].
Đây là sự chuẩn bị cho việc học bài toán phát triển hơn ở lớp 4 đó là
bài toán “Tìm phân số của một số”.
Ví dụ : Một rổ có 12 quả cam. Mẹ đem biếu bà 2 số cam. Hỏi trong
3
rổ còn bao nhiêu quả cam ?.
Như vậy, so với chương trình giải toán có lời văn ở lớp 2 thì hệ thống
các bài toán đơn phong phú hơn với nhiều bài tập liên quan đến ý nghĩa mới
của phép tính số học, phân số, tỉ số, áp dụng quy tắc, công thức (bài toán có nội
dung hình học). Thứ hai là trong giải toán có lời văn ở lớp 3 có thêm bài toán
12
Trước khi giải một bài toán ta phải phân tích đề bài của bài toán, rồi tìm
hiểu thấu đáo nội dung của bài toán bằng việc giải quyết các vấn đề sau:
- Đọc đề bài:
+ Hiểu được nội dung của bài toán: Bài toán cho gì? Bài toán hỏi gì?
+ Tìm những yếu tố cố định, những yếu tố không đổi, những yếu tố
thay đổi, biến thiên của bài toán xác định các ẩn và các giá trị hằng của bài
toán.
+ Xác định các dữ kiện của bài toán, mối liên hệ giữa các đối tượng đã
cho trong bài toán.
- Giải nghĩa được một số từ ngữ quan trọng có trong bài toán, từ nào
chưa hiểu hết ý nghĩa thì phải tìm hiểu hết ý nghĩa của nó.
- Tóm tắt đề bài: Việc tóm tắt đề toán sẽ giúp HS tự thiết lập đựơc mối
liên hệ giữa những cái đã cho và những cái phải tìm. HS tự tóm tắt được đề
toán nghĩa là nắm được yêu cầu cơ bản của bài toán. Việc tóm tắt đề toán có
thể thực hiện bằng sơ đồ, bằng hình vẽ tượng trưng, bằng ngôn ngữ, kí hiệu
ngắn gọn,...
Bước 2: Xây dựng chương trình giải
Để tìm được lời giải cho bài toán một cách hiệu quả thì bước xây dựng
chương trình phải là bước quyết định, đồng thời cũng là bước khó nhất. Bước
này đòi hỏi chúng ta phải biết huy động các kiến thức đã biết để tìm hiểu các
hoạt động tư duy, các hoạt động nhận xét, so sánh, bác bỏ từ đó mới có thể
tiếp cận tới lời giải của bài toán.
Có những bài toán mà ta đã sử dụng nhiều phương pháp: phương pháp
đi xuôi, phương pháp đi ngược,… thậm chí kết hợp cả hai phương pháp mà
vẫn chưa tìm ra lời giải bài toán đó. Lúc này ta cần chuyển hướng suy nghĩ
theo một hướng khác, tạm gọi là phương pháp sử dụng các phép suy luận quy
thường kết hợp cả hai phương pháp đi xuôi và đi ngược.
Bước 3: Thực hiện chương trình giải
14
Đây là quá trình tổng hợp lại của bước xây dựng chương trình, ta dùng
các phép suy luận logic để thực hiện các phép tính đã nêu trong phần xây
dựng chương trình giải và trình bày bài giải.
Đối với lời giải của một bài toán, HS có thể có nhiều cách trả lời khác
nhau. Vì thế câu trả lời trong bài toán là câu trả lời mở. Vậy cùng một phép
tính HS có thể trả lời bằng nhiều cách khác nhau.
Bước 4: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải
Đây không phải là bước bắt buộc đối với quá trình giải toán, nhưng lại
là bước không thể thiếu trong dạy học toán.
Bước này có mục đích:
- Kiểm tra, rà soát lại công việc giải bài toán
- Tìm cách giải khác và so sánh các cách giải khác
- Suy nghĩ khai thác đề toán khác
Đối với HS Tiểu học mục đích cơ bản là rèn cho HS thói quen kiểm tra,
rà soát lại công việc giải. Đối với HS khá, giỏi cần rèn luyện thói quen tìm
cách giải khác cho một bài toán và so sánh các cách giải.
1.3 Kỹ năng giải toán có lời văn của học sinh lớp 3
1.3.1 Kỹ năng
1.3.1.1 Khái niệm
Hằng ngày con người sống, phát triển và học tập tất cả đều gắn với việc
hình thành kỹ năng và thực hiện các kỹ năng. Thành công trong việc thực
hiện các kỹ năng quyết định thành công trong cuộc sống. Chính vì thế, kỹ
năng nói chung và kỹ năng học tập nói riêng từ lâu đã trở thành đối tượng
nghiên cứu quan trọng của khoa học tâm lí. Khi nghiên cứu về kỹ năng đã có
việc huấn luyện một hành động phải như thế nào để đạt đến trình độ kỹ xảo
chứ không chỉ đạt đến trình độ kỹ năng.
1.3.2 Kỹ năng học tập
- Mỗi hoạt động khác nhau đòi hỏi phải có kỹ năng tương ứng. Kỹ năng
học tập là thành phần không thể thiếu để tạo nên cách học cho HS. Căn cứ
vào tính chất của của mỗi loại hoạt động người ta có thể chia thành các loại
kỹ năng sau:
17
+ Kỹ năng hoạt động trí tuệ
+ Kỹ năng lao động sản xuất
+ Kỹ năng tổ chức hoạt động
- Kỹ năng học tập chính là một trong các thành phần của kỹ năng hoạt
động trí tuệ. Trong tâm lý học kỹ năng học tập có thể được hiểu là kỹ năng
vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức được thực hiện các hành
động học tập đã được HS lĩnh hội để giải quyết nhiệm vụ học tập đề ra phù
hợp với điều kiện và hoàn cảnh cho phép.
- Kỹ năng học tập có những đặc trưng sau:
+ Kỹ năng học tập thể hiện mặt năng lực học tập của HS, nó liên quan
chặt chẽ với kết quả học tập và có tính quyết định đến kết quả học tập.
+ Kỹ năng học tập thể hiện ở mặt kỹ thuật của hành động học tập của
HS, là sự tổ hợp các phương thức thực hiện các hành động học tập đã được
HS nắm vững và vận dụng có hiệu quả vào việc giải quyết các nhiệm vụ học
tập đề ra.
+ Kỹ năng học tập là một hệ thống phức tạp và phát triển, bao gồm trong
đó những kỹ năng chuyên biệt, có những kỹ năng chung, cơ bản cần thiết cho
nhiều môn học, có những kỹ năng riêng của từng môn học. Chẳng hạn, với HS
Tiểu học thì kỹ năng viết cần cho nhiều môn học, kỹ năng thực hiện phép tính,
quả một hệ thống hành động giải toán để đi đến lời giải bài toán một cách
khoa học”.
1.3.3.2 Các yêu cầu rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh Tiểu học
Truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của môn Toán. Rèn luyện kỹ năng toán học và kỹ năng vận dụng toán học
vào thực tiễn mà trước tiên là kỹ năng giải toán nhằm đạt được những yêu cầu
cần thiết sau:
- Giúp HS hình thành và nắm vững những mạch kiến thức cơ bản
xuyên suốt chương trình
19