Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
PHẠM THỊ THƯ TRANG
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU THƠ THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIÉP
CHO HỌC SINH LỚP 5
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2015
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
m
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
_________»_____•____________»________ •
PHẠM THỊ THƯ TRANG
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU THƠ THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIÉP
CHO HỌC SINH LỚP 3
Chuyên ngành: Giáo dục học (tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN YĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐỖ HUY QUANG
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2015 Tác giả luận văn
1
1
1
MỤC LỤC
1.1................................................................................................................
1.1.1.
Bài tập đếm số chữ trên mỗi dòng thơ, xác định thể thơ của
bài... 54
1.1.2.
Bài tập nhận ra vần trong mỗi khổ thơ, cách ngắt nhịp ở
từng dòng thơ
................................................................................................................... 56
1.1.3.
Bài tập nhận diện tên bài thơ, tên tác giả, số khổ thơ của bài
thơ.. 58
Bài tập xác định người nói và hoàn cảnh nói trong bài thơ
59
1.2................................................................................................................
6
1.3...........................................................................................................................
GV
1.7. 2
1.10. 3
1.11. phương pháp dạy học
1.12. PPDH
1.13. 4
1.14. sách giáo khoa
1.15. SGK
1.16. 5
1.17. hướng dẫn
1.18. HD
1.19. 6
1.22. 7
1.20. nhà xuất bản
1.21. NXB
1.23. đối chứng
1.34. 45
1.35. Bảng 2.3: kết quả khảo sát
1.36. 49
1.37. Bảng 2.4: Khảo sát kết quả hoạt động học của học sinh
1.38. 50
1.39. Bảng 3.1: Kỹ năng nhận diện ngôn ngữ của văn bản (số
1.40. 86
lượng/%)
1.41. Biểu đồ 3.1. Biểu đồ thể hiện kĩ năng nhận diện ngôn ngữ
1.42. 87
của văn bản của lóp TN và lóp ĐC
1.43. Biểu đồ 3.2. Biểu đồ thể hiện kĩ năng làm rõ nghĩa trong
1.44. 88
văn bản của lóp TN và lóp ĐC
1.45. Biểu đồ 3.3. Biểu đồ thể hiện kĩ năng thực hiện hành động
1.46. 89
có nhiều đề xuất giá trị, có thể vận dụng hiệu quả vào thực tiễn dạy
học Tập đọc ở tiểu học. Đe bổ sung thêm vào những đề xuất này,
chúng tôi nghiên cúu đề tài 'Dạy học đọc hiểu thơ theo quan điểm
giao tiếp cho học sinh lớp 3”.
2. Lịch sử vấn đề
2.1.
về phương pháp dạy đọc hiểu ở tiểu học
1.10. Từ sau năm 2000, chương trình Tiếng Việt và Văn học (Ngữ văn)
ở trường phổ thông, xác định dạy Văn là dạy “đọc hiểu” văn bản, không phải
phân tích tác phẩm như trước nên vấn đề PPDH đọc hiểu được nhiều tác giả
quan tâm nghiên cứu. Riêng lĩnh vực đọc hiểu ở tiểu học, có thể kể đến một
1.11. Số công trình tiêu biểu như sau:
-
Cuốn "'Dạy học đọc hiểu ở tiểu học” của Nguyễn Thị Hạnh (NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2002) là một tài liệu chuyên khảo về phưong pháp
dạy học môn Tiếng Việt và kỹ năng đọc hiểu. Sách gồm 3 chưong xoay
quan vấn đề dạy đọc hiểu ở tiểu học. Chương 1 : Những cơ sở khoa học
của việc dạy học đọc hiếu ở tiếu học. Chương 2: Những cơ sở thực tiễn
của việc dạy học đọc hiếu ở tiểu học. Chương 3: Những yêu cầu và cách
thức dạy đọc hiểu ở tiểu học. Vói quan điểm “Dạy học đọc hiểu ở tiểu học
là dạy một kỹ năng học tập”, tác giả đã đề xuất các thao tác, kỹ năng đọc
hiểu cho HS từ lóp 1 đến lóp 5 gồm đọc thầm, đọc lướt; nhận diện ngôn
11
ngữ; làm rõ nội dung; hồi đáp văn bản.
trúc ngôn từ, đọc hiểu giá trị, ỷ nghĩa tầng cấu trúc hình tượng nghệ
12
thuật, đọc hiểu giá trị, ỷ nghĩa tầng cấu trúc tư tưởng và ỷ vị nhân sinh
của tác phẩm.
-
Giáo sư Trần Đình Sử, Giáo sư Phan Trọng Luận là tổng chủ biên sách
giáo khoa Ngữ văn THPT sau năm 2000 cũng có nhiều cuốn sách, bài báo
viết về đọc hiểu. GS Phan Trọng Luận viết: Văn chương -bạn đọc sáng
tạo (2011) NXB ĐHSP, Văn học nhà trường, những điểm nhìn (2011)
NXB ĐHSP, Phương pháp luận giải mã văn bản văn học (2014) NXB
ĐHSP. GS Trần Đình Sử có nhiều bài viết in trong Tài liệu tập huấn giáo
viên THPT: Đọc hiếu văn bản-Một khâu đột phá trong nội dung và
phương pháp dạy Văn hiện nay (2003), Đổi mới phương pháp dạy học
môn Ngữ văn (2008), Văn bản văn học và đọc hiếu văn bản (2011).
2.2.
-
về quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
Giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việr (tập 2, NXB Giáo dục,
2001) do nhóm tác giả Nguyễn Trí - Lê Phương Nga biên soạn có tất cả
tám chương, trong đó các tác giả dành hẳn một chương để nói về quan
điểm giao tiếp trong dạy học TV. Trong chương này (chương một) các tác
giả nói khá rõ về: Giao tiếp và hoạt động giao tiếp; Những cơ sở của
quan điểm giao tiếp trong dạy học TV; Sự thể hiện của quan điểm giao
bài viết đã được công bố cách đây nhiều năm, nhưng những quan điểm ấy
vẫn còn nguyên giá trị và có thể định hướng cho việc biên soạn SGK và
giảng dạy Tiếng Việt trong tương lai đúng với mục tiêu của môn Tiếng
Việt.
1.17. Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề dạy đọc hiểu ở tiểu
học và dạy Tiếng Việt ở tiểu học theo quan điểm giao tiếp, tuy nhiên chưa có
những nghiên cứu đi sâu vào vấn đề dạy đọc hiểu thơ theo quan điểm giao tiếp ở
một khối lóp cụ thể. Vì vậy, chúng tôi quyết định triển khai đề tài “Dạy học đọc
hiểu thơ theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 3”.
3. Mục đích nghiên cứu
1.18. Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nhằm góp phần nâng cao
chất lượng dạy và học phân môn Tập đọc ở tiểu học, góp phần hỗ trợ cho GV và
HS tiểu học nâng cao khả năng đọc hiểu nội dung, ý nghĩa, giá trị của các văn
bản thơ trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lóp 3 một cách hiệu quả.
14
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là quá trình dạy học đọc hiểu thể loại
thơ trong phân môn Tập đọc ở tiểu học.
-
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là xây dựng hệ thống bài tập để dạy học
đọc hiểu thơ theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 3 ở một số trường
tiểu học thuộc địa bàn huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
thơ theo quan điểm giao tiếp trong phân môn Tập đọc ở trường tiểu học.
15
1.23. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm được dùng để xem xét lại
những thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận
bổ ích cho thực tiễn và cho khoa học.
7. Cấu trúc luân văn
1.24. Ngoài Mở đầu và Kết luận, Nội dung luận văn được chia thành ba
chương:
1.25. Chương 7. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
1.26. Chương 2. Hệ thống bài tập hướng dẫn học sinh lóp 3 đọc hiểu văn
bản thơ theo quan điểm giao tiếp.
1.27. Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
1.28. CHƯƠNG 1
1.29. Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐÈ TÀI
1.1.
Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1.
Quan điểm giao tiếp
1.1.1.1.
Định nghĩa về giao tiếp
1.35. Đặc điểm của các nhân vật giao tiếp về lứa tuổi, về nghề nghiệp,
về giới tính và trình độ hiểu biết, về vốn sống, về địa vị xã hội... đều luôn luôn
ảnh hưởng và để lại dấu ấn trong hoạt động giao tiếp, nhất là trong các ngôn
bản, sản phẩm của giao tiếp. Nhân tố nhân vật giao tiếp trả lời cho các câu hỏi:
ai nói (ai viết)?, nói với ai? (viết cho ai?).
b. Hoàn cảnh giao tiếp
1.36. Hoàn cảnh giao tiếp là hoàn cảnh diễn ra cuộc giao tiếp. Hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ cũng như những hoạt động khác của con người luôn luôn diễn ra trong những hoàn cảnh nhất định. Đó là hoàn cảnh không
gian, thời gian với những đặc điểm của môi trường mà hoạt động giao tiếp diễn
ra (hoàn cảnh giao tiếp hẹp). Đó còn là hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội, văn
hoá... của dân tộc, của đất nước (hoàn cảnh giao tiếp rộng). Các nhân tố trong
hoàn cảnh giao tiếp luôn luôn chi phối các phương diện của hoạt động giao
tiếp: từ việc lựa chọn nội dung đến cách thức thể hiện, và cả những nghi thức
trong giao tiếp. Nhân tố hoàn cảnh trả lời cho câu hỏi: nói (viết) trong hoàn
cảnh nào, tình huống nào? Khi nào, ở đâu?
c. Nội dung giao tiếp
1.37. Đây là hiện thực được nói tới trong văn bản. Nó bao gồm những
sự kiện, hiện tượng, sự vật trong thực tế khách quan và cả những tình cảm, tâm
trạng của con người. Hiện thực được nói tới tạo thành đề tài và nội dung của
hoạt động giao tiếp.
1.38. Nhân tố này cũng luôn luôn ảnh hưởng đến những hình thức và
đặc điểm của hoạt động giao tiếp, của ngôn ngữ và trả lời các câu hỏi: nói (viết)
về cái gì/ về vấn đề gì? Chẳng hạn, nếu nói về một vấn đề khoa học thì ngôn
ngữ, cách diễn đạt, cách cấu tạo ngôn bản có nhiều điểm khác với việc nói về
tình cảm, cảm xúc của con người.
d. Mục đích giao tiếp
1.39. Giao tiếp có thể nhằm nhiều mục đích khác nhau, có thể nhằm
mục đích làm quen, bày tỏ nỗi vui mừng, lo sợ, thông báo cho người nghe một
Bản chất của quan điểm giao tiếp
1.43. Quan điểm giao tiếp trong việc dạy học ngôn ngữ xuất phát từ
đặc trưng bản chất của đối tượng và phù họp với đối tượng. Vì ngôn ngữ là
phương tiện giao tiếp quan họng nhất của con người, có chức năng cơ bản là
chức năng giao tiếp. Ngôn ngữ vừa tồn tại trong hạng thái tĩnh như một hệ
thống - kết cấu tiềm ẩn trong năng lực ngôn ngữ của mỗi người, đồng thời nó
cần phải hoạt động để thực hiện chức năng giao tiếp. Trong hoạt động giao tiếp,
ngôn ngữ vừa là phương tiện, vừa tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sự giao tiếp.
Dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp chính là dạy về một phương tiện
giao tiếp quan trọng nhất của con người.
1.44. Quan điểm giao tiếp cũng phù họp với mục tiêu của môn học:
môn ngôn ngữ nói chung và phân môn TV nói riêng. Mục tiêu đó không chỉ có
mục đích trang bị kiến thức khoa học về ngôn ngữ, về TV cho HS, mà điều
quan trọng là rèn luyện và nâng cao năng lực sử dụng TV trong các hoạt động
tư duy, giao tiếp. Ngay trong lĩnh vực kiến thức thì môn ngôn ngữ cũng không
phải chỉ cung cấp những kiến thức có tính chất lí thuyết về cơ cấu tổ chức, về
hệ thống ngôn ngữ, về nguồn gốc và sự phát triển lịch sử, về loại hình các ngôn
ngữ ... mà còn không thể thiếu được những hiểu biết về quy tắc sử dụng, về các
thao tác và kĩ năng sử dụng ngôn ngữ. Do đó, quan điểm giao tiếp thống nhất
với mục tiêu của môn học.
1.45. Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội
dung dạy học và phương pháp dạy học.
1.46.
+ về nội dung,
văn bản nghệ thuật như văn bản tự sự (truyện), văn bản biểu cảm (thơ), văn bản
miêu tả, văn bản thuyết minh, văn bản lập luận.
1.53. Đọc hiểu văn bản theo quan điểm giao tiếp cũng là đọc hiểu theo
lý thuyết tiếp nhận. Theo sách Ngữ văn 12 tập 2 (nâng cao), tiếp nhận là hoạt
động nắm bắt thông tin trong quá trình giao tiếp. Trong giao tiếp văn học từ
trước đến nay, quan hệ giữa người đọc với tác phẩm thường được gọi bằng các
từ “đọc”, “cảm thụ”, “phê bình”... Lý thuyết tiếp nhận đề xuất khái niệm “tiếp
nhận văn học” với ý thức đề cao vai trò của người đọc, người đọc là trung tâm,
người đọc bằng hoạt động đọc đã biến văn bản thành tác phẩm.
1.54. Người đọc có vai trò “đồng sáng tạo”. Hoạt động đọc là hoạt động giao
tiếp im lặng, thầm lặng giữa chủ thể đọc với nhà văn, với thế giới nghệ thuật
trong văn bản. Tác giả Đỗ Đức Hiểu cho rằng “Đọc, trước hết là phát hiện
trong văn bản và từ văn bản một thế giới khác, những con người khác. Người
đọc sống trong thế giới tưởng tượng của mình, xây dựng cho mình thông qua
tác phẩm một xứ sở riêng. Đọc là một hoạt động tích cực, người đọc “nhập
cuộc”, “hóa thân”, với những cảm xúc riêng của mình, những kỷ niệm, ký ức,
khát vọng riêng. Đọc có nghĩa là chuyển đổi tác phẩm nghệ thuật thành một vũ
trụ tình cảm, cảm xúc, tư duy, hình tượng riêng của người đọc”. [13, 61]
1.55. Trong các văn bản thơ, truyện, miêu tả, khi đọc các con chữ trên
văn bản, ngưòi dọc nhận ra tiếng người nói trong văn bản. Trong văn bản thơ,
người nói là chủ thể trữ tình, nhân vật trữ tình đang tâm sự, giãi bày, trải lòng.
Trong văn bản truyện, người nói là ngưòi kể chuyện, người dẫn chuyện đang
kể, tả, dẫn dắt người đọc. Trong văn bản miêu tả, người nói như một người
hướng dẫn tham quan đang cùng người đọc quan sát, khám phá, phát hiện từ
đối tượng miêu tả những điều mói lạ. Nếu đọc văn bản, như cách tác giả Đỗ
Đức Hiểu nêu ở trên, người đọc vừa đọc vừa lắng nghe người nói trong văn
bản, hình dung, tưởng tượng như được nhập cuộc, được chứng kiến, được sống
trong thế giói nghệ thuật của tác phẩm, được gặp gỡ các nhân vật, giao tiếp với
hiện một điểm nhìn, một cách tiếp cận khác nhau nên sẽ có cách triển khai vấn
đề khác nhau, và tổng họp lại sẽ có một cách tiếp cận về đọc hiểu đầy đủ nhất.
1.58. Trong luận văn này, chúng tôi muốn trình bày vấn đề đọc hiểu
như một hoạt động và triển khai cơ sở lý luận về đọc hiểu theo cấu trúc của
hoạt động gồm: đối tượng của hoạt động đọc (văn bản nghệ thuật, văn bản thơ),
chủ thể của hoạt động đọc (học sinh tiểu học, học sinh lóp 3), hoạt động đọc và
các hành động đọc (hành động nhận diện ngôn ngữ trên văn bản và đọc, hành
động làm rõ nghĩa của văn bản, hành động hồi đáp và vận dụng).
1.1.2.1.
Lí luận về văn bản, đổi tượng của hoạt động đọc hiểu
a. Văn bản là gì?
1.59. Đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn bản. Tuy nhiên,
quan niệm sau của nhà ngôn ngữ học người Nga I.R.Galperin được nhiều ngưòi
sử dụng làm cơ sở để nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến văn bản: “Văn
bản - đó là tác phẩm của quá trình đào tạo lòi, mang tính hoàn chỉnh, được
khách quan hóa dưới dạng tài liệu viết, được trau chuốt văn chương theo loại
hình tài liệu ấy, là tác phẩm gồm tên gọi (đầu đề) và một loạt đơn vị riêng
(những thể thống nhất trên câu), hợp nhất lại bằng những loại hình liên hệ khác
nhau về từ vựng, ngữ pháp, lôgic, tu từ, có một hướng đích nhất định và một
mục tiêu thực dụng” [35, 38]. Định nghĩa của I.R. Galperin đã chỉ ra những đặc
điểm quan trọng của văn bản: văn bản thuộc về lời nói, tồn tại ở dạng chữ viết,
có tính chỉnh thể, có tính khả phân, có đích cụ thể. Những đặc điểm trên rất cần
thiết cho việc nghiên cứu văn bản nói chung và việc nghiên cứu lĩnh hội văn
bản nói riêng như đọc hiểu. Tuy nhiên cách phân tích văn bản và phân loại các
nội dung của I.R. Galperin còn bộc lộ những điểm chưa hoàn thiện.
1.60. Sau đây là một quan niệm về văn bản được soi sáng bởi lý thuyết
của ngữ dụng học: “Văn bản là một chỉnh thể hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn
hước châm biếm kèm theo ngôn ngữ viết” [9]. Văn bản theo quan điểm của
PISA được gọi là văn bản đa phương tiện.
1.65. Sau đây là một số đặc trưng của văn bản đã được sự nhất trí cao
của giới nghiên cứu ngữ pháp văn bản.
1.66. +
về mặt nội dung: Tính hoàn chỉnh của văn bản làm cho văn
bản dễ có tên gọi (tựa đề) nhất định. Một văn bản hoàn chỉnh về nội dung
thường là vãn bản diễn đạt một thông tin trọn vẹn gồm thông tin hiển ngôn và
thông tin hàm ngôn. Tựa đề của văn bản thường là dự báo một trong hai thông
tin ấy. Thông tin hiển ngôn là thông tin bề nổi, là ý nghĩa có thể thấy được trực
tiếp từ câu chữ. Đó là sự kiện, quá trình đã, đang, sẽ diễn ra trong thực tế khách
quan hoặc trong trí tưởng tượng của người viết được biểu hiện trên câu chữ.
Thông tin hàm ngôn là thông tin bề sâu, là cách hiểu, là chủ ý của người viết
khi thể hiện nội dung trong thông tin hiển ngôn và còn là cách hiểu của xã hội,
của người đọc khi tiếp nhận văn bản. Tùy loại hình văn bản mà hiển ngôn và
hàm ngôn có sự thể hiện khác nhau. Trong văn bản khoa học, người ta cố gắng
tối đa để loại trừ càng nhiều càng tốt thông tin hàm ngôn. Trong văn chương,
nghệ thuật hai loại thông tin trên cùng tồn tại và đôi khi chính sự lung linh
trong thông tin hàm ngôn lại làm nên giá trị. về một phương diện khác, nội
dung trong văn bản được chia thành hai thành phần. Thành phần sự vật (thành
phần miêu tả, phản ánh) và thành phần liên cá nhân. Thành phần sự vật là
những hiểu biết, những nhận thức mà người nói đưa vào trong ngôn ngữ nhằm
thông tin cho người nghe. Thành phần liên cá nhân là thái độ, tình cảm, sự đánh
giá sự vật, hiện tượng được nói tới và những ý muốn về hành động mà người
nói muốn thực hiện hay muốn người nghe thực hiện. Nội dung sự vật quan hệ
tới đích thuyết phục về nhận thức. Nội dung liên cá nhân liên quan tới đích