BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Quyên
DẠY TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH CHO HỌC
VIÊN CAMPUCHIA TẠI TRƯỜNG SĨ QUAN
LỤC QUÂN 2 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Quyên
DẠY TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH CHO HỌC
VIÊN CAMPUCHIA TẠI TRƯỜNG SĨ QUAN
LỤC QUÂN 2 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn học
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Đặng Ngọc Lệ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy PGS. TS. Đặng Ngọc Lệ. Mặc dù
tuổi đã cao, nhưng thầy rất nhiệt tình hướng dẫn, hỗ trợ hết mình và đôn đốc tôi trong suốt
quá trình làm luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Khoa Ngữ Văn, quý thầy cô
Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi
thực hiện luận văn trong thời gian cho phép.
Dù đã cố gắng thực hiện để hoàn thành luận văn bằng tất cả tâm huyết và nỗ lực của
mình, nhưng luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến
đóng góp xây dựng chân thành của quý thầy cô. Tôi xin cảm ơn!
TP.HCM,ngày 30 tháng 9 năm 2013
Lê Thị Quyên
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................ 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................................. 6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................. 8
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................. 13
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 13
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 14
6. Đóng góp của luận văn ................................................................................................. 14
7. Kết cấu của luận văn .................................................................................................... 15
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM............................................................ 80
3.1. Mục đích, yêu cầu thực nghiệm sư phạm ................................................................ 80
3.1.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................................... 80
3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm ............................................................................................ 80
3.2. Quy trình thực nghiệm sư phạm .............................................................................. 81
3.2.1. Xác định thời gian và phạm vi thực nghiệm ......................................................... 81
3.2.2. Xác định đối tượng tham gia thực nghiệm ........................................................... 81
3.2.3. Phương pháp thực nghiệm .................................................................................... 82
3.2.4. Soạn giáo án thực nghiệm ..................................................................................... 82
3.2.5. Tổ chức thực nghiệm sư phạm.............................................................................. 93
3.2.6. Nhận xét kết quả thực nghiệm sư phạm ............................................................... 94
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 108
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 111
4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TỪ NGỮ
STT
VIẾT TẮT
1.
Dạy học thực hành tiếng Việt
HĐ
7.
Học viên Sĩ quan Lục quân 2
HV SQLQ 2
8.
Học viên
HV
9.
Kiến thức
KT
10.
Kĩ năng
KN
11.
Nhà xuất bản
TNSP
17.
Tiếng Việt
TV
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong tiến trình hội nhập và giao lưu quốc tế, ngôn ngữ luôn là vấn đề đặt ra với bất cứ
mối quan hệ quốc tế nào. Nó là rào cản trước tiên với mỗi người, với mỗi cuộc tiếp xúc khi có
yếu tố nước ngoài. Biết được tiếng nói của đối tác luôn là điều kiện và cũng là nhu cầu của tất
cả mọi người. Người nước ngoài đến Việt Nam muốn hiểu biết, nghiên cứu về Việt Nam đều
có nhu cầu biết và học tiếng Việt (TV).
Mục tiêu chung của việc dạy tiếng là cung cấp cho người học những kiến thức cơ
bản, bao gồm vốn từ vựng cơ bản, chuẩn văn hóa, một hệ thống quy tắc ngữ pháp cần thiết,
cao hơn là những thủ pháp tu từ nhằm nâng cao khả năng sử dụng TV trong giao tiếp và xa
hơn nữa là những tri thức về đất nước, con người, văn hóa Việt Nam… thông qua ngôn ngữ
Việt. Mục tiêu cụ thể là những kĩ năng sử dụng ngôn ngữ với bốn kĩ năng cơ bản là nói –
nghe - đọc – viết. Kĩ năng này sẽ được người học sử dụng trong hoạt động giao tiếp như là
công cụ thông tin. Phương châm chung của việc dạy tiếng cũng xem người học là chủ thể
tức là lấy người học làm trung tâm, lấy lợi ích của người học làm mục đích.
Trong những năm qua, Trường Sĩ quan Lục quân 2 (SQLQ 2) ngoài nhiệm vụ tăng
cường hợp tác, đối ngoại quân sự, còn thực hiện chức năng đào tạo cán bộ quân sự cho quân
đội Hoàng gia Campuchia. Cùng với những nội dung huấn luyện quân sự, môn Thực hành
điều kiện hiểu chắc, hiểu sâu TV và biết cách sử dụng phù hợp, hiệu quả. Để phát huy tính
tích cực, sáng tạo của người học trong học tập, quan điểm giao tiếp trong DH rất được coi
trọng. Quan điểm giao tiếp chi phối toàn bộ quá trình DH như: xác định mục tiêu, nội dung
DH tới việc lựa chọn hình thức, PP DH và kiểm tra, đánh giá… Mặc dù vậy, GV vận dụng
quan điểm giao tiếp vào dạy THTV với tư cách là một ngoại ngữ còn có nhiều khó khăn và
hạn chế nhất định. Về lí luận, chưa có công trình nghiên cứu đúng theo yêu cầu thực tiễn.
Về thực tiễn dạy và học, GV vẫn chưa thực sự ý thức được mục đích của dạy THTV là dạy
cho học viên kĩ năng giao tiếp. Vì vậy việc lựa chọn hình thức, cách tổ chức và phương
pháp DH còn chưa phù hợp, mang hiệu quả không cao.
Tư tưởng chủ đạo của việc dạy học THTV theo quan điểm giao tiếp chính là lấy giao
tiếp làm môi trường, cách thức và mục đích cho toàn bộ quá trình DH.
Là cơ sở quan trọng cho những môn học tiếp theo nên môn THTV phải được tổ chức
DH theo quan điểm giao tiếp một cách có hiệu quả. Việc DH TV theo hướng giao tiếp thực
chất là đưa HV vào tình huống giao tiếp, tạo nên môi trường giao tiếp cụ thể để thúc đẩy
nhu cầu sản sinh lời nói, ngôn bản, rèn luyện cho học viên kĩ năng định hướng, dùng từ, đặt
câu, viết đoạn… phù hợp với các tình huống giao tiếp. Dạy TV theo hướng giao tiếp tức là
dạy phát triển lời nói cho từng cá nhân người học. Trong việc rèn luyện lời nói, cần sử dụng
7
triệt để phương pháp hỏi đáp. Hỏi có thể yêu cầu người học thực hiện một hành vi hồi đáp
mà còn có thể là nêu vấn đề để người học trình bày vấn đề đó theo nhận thức của mình.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là "Dạy tiếng Việt
thực hành cho học viên Campuchia tại Trường Sĩ quan Lục quân 2 theo quan điểm giao
tiếp" nhằm áp dụng vào quá trình DH, làm cơ sở để nâng cao chất lượng giảng dạy đáp ứng
nhu cầu thực tiễn, thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ quốc phòng giao.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc dạy học theo quan điểm giao tiếp, vận dụng ngôn ngữ vào hoạt động dạy đã
hướng nguồn dữ liệu cho học viên trong quá trình giao tiếp – nghĩa là người học không chỉ
rèn luyện những kĩ năng nghe – nói – đọc – viết mà qua đó còn có vốn hiểu biết nhất định
để áp dụng vào thực tiễn.
Ở Việt Nam và một số nước trên thế giới, một số giáo trình, tài liệu về tiếng
Việt được biên soạn với sự đa dạng về trình độ, về mục đích, phạm vi đào tạo, chẳng
hạn Giáo trình Tiếng Việt cho người nước ngoài (nhiều quyển), Thực hành Tiếng Việt 1,
2, 3, 4, Tiếng Việt nâng cao, Tiếng Việt đọc hiểu, Truyện đọc Tiếng Việt, Tiếng Việt
trong giao dịch, thương mại, Tiếng Việt du lịch, Tiếng Việt căn bản (dùng cho
người Trung Quốc ở Đài Loan)… Hầu hết tác giả của các giáo trình này đều là những
11
nhà nghiên cứu Việt ngữ, những giảng viên giảng dạy ngôn ngữ học và Việt ngữ học.
Theo Đề án Hỗ trợ việc dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài của Bộ
Giáo dục và Đào tạo 2006, hai bộ giáo trình Tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài
(một cho đối tượng là người lớn, một cho đối tượng là thanh thiếu niên) đã được
biên soạn với sự tham gia của nhiều giảng viên, chuyên viên của nhiều trường đại
học, viện nghiên cứu trong cả nước; bộ sách cũng đã được dạy thử nghiệm ở một số
nước trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn rất cần những bộ giáo trình tiếng Việt có hệ
thống, cập nhật những từ ngữ thuộc nhiều lĩnh vực của cuộc sống hiện đại cũng như
văn hóa truyền thống Việt, những kiến thức ngữ pháp, vận dụng những thành tựu
về phương pháp dạy tiếng trên thế giới; đặc biệt là giáo trình nâng cao hoặc chuyên sâu.
Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học đối chiếu
hoặc mang tính ứng dụng nghiên cứu việc dạy và học tiếng Việt đã được công bố:
“Về việc dạy và học tiếng Việt tại Hàn Quốc” của Kim Ki Tae (Tạp chí Ngôn ngữ
1996), “Trật tự từ trong tiếng Hàn so sánh với tiếng Việt” của Ahn Kyong Hwan
(Nxb Giáo dục 1997), “Dạy tiếng Việt với tư cách một ngoại ngữ” của Mai Ngọc Chừ
(Tạp chí Ngôn ngữ 2002), “Lỗi loại từ trong tiếng Việt của người nước ngoài”
(Trong Những vấn đề Ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006)… Công trình
tập thể “Tiếng Việt như một ngoại ngữ” của Trung tâm nghiên cứu Việt Nam– Đông
đích trên, luận văn hướng tới hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Trình bày cơ sở lí thuyết cũng như thực tiễn của việc vận dụng quan điểm giao tiếp
vào dạy tiếng Việt thực hành cho học viên Campuchia.
- Thiết kế các hoạt động dạy học và một số giáo án dạy học tiếng Việt theo hướng
vận dụng quan điểm giao tiếp nhằm phát huy tinh thần tự học, tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của HV trong học tập và rèn luyện.
- Thực nghiệm và đánh giá hiệu quả của việc vận dụng quan điểm giao tiếp vào
THTV cho học viên Campuchia, từ đó rút ra những ưu, khuyết điểm và đề xuất những giải
pháp có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn THTV cho HV Campuchia tại
trường SQLQ 2.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vận dụng quan điểm giao tiếp để dạy THTV
cho HV Campuchia tại trường SQLQ 2.
Phạm vi nghiên cứu: Do giới hạn về thời gian nên chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu
vấn đề vận dụng quan điểm giao tiếp để dạy THTV cho HV Campuchia tại trường SQLQ 2.
Đề tài giới hạn ở phạm vi khảo sát về hoạt động dạy THTV của GV và hoạt động học
của HV. Bao gồm các khía cạnh sau: mức độ truyền đạt nội dung lí thuyết, nội dung thực
hành TV của GV trên lớp và mức độ hiểu, vận dụng lí thuyết vào thực hành TV của HV;
13
khả năng HV vận dụng những kiến thức TV đã học vào trong sinh hoạt hàng ngày và khả
năng sử dụng linh hoạt tiếng Việt vào từng hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp cụ thể.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:
5.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Hệ thống hóa những kiến thức cơ bản về quan điểm giao tiếp. Khảo sát thêm các tài
Luận văn gồm phần mở đầu, kết luận và ba chương:
Chương1: Cơ sở lí luận và thực tiễn. Chương này, chúng tôi trình bày ngắn gọn lí
thuyết về giao tiếp, dạy THTV theo quan điểm giao tiếp, cơ sở thực tiễn của việc dạy học
THTV cho HV Campuchia tại Trường SQLQ 2. Đồng thời, trình bày phương DH hiện nay ở
nhà trường làm cơ sở thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Thiết kế một số bài tập và giáo án dạy – học các bài THTV theo quan
điểm giao tiếp. Chương này, chúng tôi tiến hành triển khai ý đồ sư phạm. Cụ thể là chỉ ra
cách khai thác dạy học theo quan điểm giao tiếp.
Chương 3: Thực nghiệm.
Ngoài phần nội dung chính, luận văn còn kèm theo một số phụ lục (1) Giáo án đối
chứng. (2) Thiết kế giáo án thực nghiệm. (3) Đề thi và kiểm tra. (4) Phiếu tham khảo ý kiến
HV (5) Phiếu tham khảo ý kiến GV. (6) Kết quả thu nhận từ phiếu tham khảo ý kiến GV.
(7) Kết quả thu nhận từ phiếu tham khảo ý kiến HV. (8) Một số hình ảnh về hoạt động của
lớp thực nghiệm. (9) Một số kết quả bài tập của học vên. (10) Bài tập vui, trò chơi.
15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Quan điểm giao tiếp và việc dạy thực hành tiếng Việt theo quan điểm giao
tiếp
1.1.1.1. Lí thuyết về giao tiếp
Giao tiếp được hiểu là hoạt động trao đổi thông tin nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu
biết, cộng tác… giữa các thành viên trong xã hội. Hoạt động giao tiếp gồm các hành vi giải
mã (nhận thông tin) và kí mã (phát thông tin). Trong ngôn ngữ, mỗi hành vi này đều có thể
thực hiện được bằng hai hình thức: khẩu ngữ (nghe, nói) và bút ngữ (đọc, viết).
Giao tiếp là một hoạt động liên cá nhân giữa người nói với người nghe, ở đó diễn ra
sự trao đổi về tư tưởng, tình cảm, nhận thức của con người.
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là một cấu trúc động gồm có bốn giai đoạn: định
(Người đọc)
Giải mã
Mã hóa
Phương tiện giao tiếp
Hiệu quả giao tiếp
Sơ đồ 1.1. Cơ chế hoạt động giao tiếp
Từ sơ đồ trên cho thấy việc hình thành của ngôn bản chịu sự tác động rõ rệt của các
yếu tố giao tiếp khách quan (hoàn cảnh giao tiếp, phương tiện giao tiếp) và chủ quan (mục
đích giao tiếp, đối tượng giao tiếp). Ngôn bản được tạo lập phải thỏa mãn mong muốn bộc
lộ hiểu biết, tình cảm, tâm tư của người nói (người viết) nhưng cũng phải đáp ứng được
những nhu cầu cơ bản là phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, có khả năng tác động và tạo ra
phản ứng ở người nghe. Tạo lập ngôn bản và tiếp nhận ngôn bản thành công có nghĩa là HĐ
giao tiếp đã đạt được mục đích.
17
Dựa trên cơ chế của hoạt động giao tiếp, chúng tôi nhận thấy hoạt động DH trong
nhà trường cũng là một hoạt động giao tiếp song hoạt động này có một số điểm khác với
HĐ giao tiếp thông thường trong đời sống.
Thứ nhất, tuy cả hai dạng HĐ giao tiếp đều có chung một bối cảnh giao tiếp rộng
(thời đại, lịch sử, phong tục…) nhưng HĐ giao tiếp trong DH luôn diễn ra ở một hoàn cảnh
giao tiếp, không đổi là lớp học, trường học trong khi hoàn cảnh giao tiếp của xã hội lại rất
phong phú và đa dạng.
Thứ hai, HĐ giao tiếp trong đời sống xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau, tùy vào
mà còn bị chi phối bởi các nhân tố giao tiếp, vì vậy nếu không đặt tiếng Việt vào HĐ giao
tiếp thì không thể thấy được bản chất, quy tắc sử dụng tiếng Việt. Hơn nữa, chức năng của
một ngôn ngữ là để giao tiếp và ngay khi giao tiếp ngôn ngữ sẽ thể hiện được những nét bản
chất của nó. Vì vậy, đặt ngôn ngữ vào chính môi trường hoạt động của nó để xem xét là một
cách làm tối ưu.
1.1.1.2. Dạy THTV theo quan điểm giao tiếp
Một trong những nguyên tắc của dạy học theo quan điểm giao tiếp là đặt đơn vị
ngôn ngữ cần nghiên cứu vào hệ thống hành chức của nó. Theo đó khi dạy một đơn vị ngôn
ngữ cần phải đặt nó vào một đơn vị bậc cao hơn để xem xét, ví dụ khi dạy từ, ta đặt từ vào
trong câu; khi dạy câu, ta đặt câu trong đoạn; khi dạy đoạn, ta đặt đoạn trong bài… Đồng
thời, đơn vị ngôn ngữ khi xem xét cũng cần được đặt trong mối quan hệ với các nhân tố
giao tiếp (nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp,
phương tiện giao tiếp). Ngoài ra, việc áp dụng PP giao tiếp trong dạy học THTV là thật sự
cần thiết. Đây là một trong những PP đặc thù của việc dạy tiếng. PP này nhằm rèn luyện cho
người học kĩ năng giao tiếp thông qua việc thực hiện một vai giao tiếp trong một tình huống
cụ thể. Nếu cho HV trực tiếp sử dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp thì việc hình thành,
rèn luyện kĩ năng sẽ có hiệu quả hơn, chưa kể là người học sẽ hứng thú hơn bởi những điều
được học được gắn liền với những giao tiếp trong đời thường. DH theo quan điểm giao tiếp
rất quan trọng đối với việc DH nói chung và nó càng quan trọng hơn đối với việc dạy tiếng
Việt cho người nước ngoài.
Quan điểm giao tiếp trong việc dạy – học ngôn ngữ TV xuất phát từ đặc trưng bản
chất của đối tượng và phù hợp với đối tượng. Vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan
trọng nhất của con người, có chức năng cơ bản nhất là chức năng giao tiếp. Ngôn ngữ vừa tồn
tại trong trạng thái tĩnh như một hệ thống – kết cấu tiềm ẩn trong năng lực ngôn ngữ của mỗi
người, đồng thời nó cần phải hoạt động để thực hiện chức năng giao tiếp. Trong hoạt động
giao tiếp, ngôn ngữ vừa là phương tiện, vừa tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sự giao tiếp.
Dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp chính là dạy về phương tiện giao tiếp quan trọng
nhất của con người.
19
Hoạt động dạy ngoại ngữ
Hoạt động học ngoại ngữ
(1) Tuy vận hành theo cơ chế sáng (1) Hoạt động học ngoại ngữ là hoạt động có
tạo
đối tượng.
(2) Tái tạo thứ ngoại ngữ đã và (2) Đối tượng của hoạt động học ngoại ngữ
đang được các dân tộc nào đó sử được người học ý thức rõ ràng.
dụng nhưng không phải để cho (3) Hoạt động học ngoại ngữ hướng vào làm
mình mà để tổ chức quá trình tái thay đổi chính chủ thể của người học (làm
tạo này ở người học.
phát triển ngôn ngữ ở người học).
(4) Vận hành theo cơ chế lĩnh hội.
(5) Hoạt động học ngoại ngữ không chỉ nhằm
vào việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo lời
nói tiếng nước ngoài, mà còn lĩnh hội cả
phương pháp học ngoại ngữ (không có trong
học ngoại ngữ tự phát).
1.1.1.3. Đặc trưng của việc dạy và học ngoại ngữ
Hoạt động dạy và học ngoại ngữ là hoạt động đặc thù. Vì vậy đối tượng của hoạt
động dạy là thứ ngôn ngữ cần học, cụ thể là hoạt động lời nói bằng tiếng nước ngoài. Đối
với GV dạy THTV cho người nước ngoài thì đó là ngôn ngữ tiếng Việt.
Học tiếng mẹ đẻ, người học luôn luôn tiếp xúc với nó, nói cách khác đó là môi
trường tiếng để giao tiếp rất rộng và thường xuyên xảy ra ở mọi lúc mọi nơi. Đây là một
điều kiện tốt để người học có thể vận dụng những kiến thức đã được học vào môi trường
giao tiếp cụ thể để từ đó hình thành kĩ năng, kĩ xảo và sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo.
Trong khi đó, học tiếng nước ngoài không có môi trường tiếng, cơ hội giao tiếp ít, khó vận
Thứ ba là năng lực văn hóa- xã hội: khả năng biểu đạt hành động lời nói một cách
phù hợp trong bối cảnh văn hóa – xã hội cụ thể.
Mỗi năng lực trên đều bao gồm hai khía cạnh tạo lập và tiếp nhận văn bản hoặc diễn
ngôn. Đó là những năng lực cần hình thành khi dạy ngoại ngữ cũng như dạy tiếng mẹ đẻ.
Tuy nhiên, dạy THTV cho người bản ngữ và người nước ngoài có những điểm khác nhau rõ
rệt. Dạy TV cho người nước ngoài với tư cách là một ngoại ngữ thì chúng ta chủ yếu là dạy
để họ có thể giao tiếp tốt. Dạy TV cho người nước ngoài là dạy các kiến thức mà họ chưa
biết đến biết sử dụng và vận dụng TV vào trong giao tiếp hàng ngày. Dạy TV cho người bản
ngữ là dạy các kiến thức về TV mà người học đã biết. Trên cơ sở những kiến thức đã biết
ấy, người dạy giúp người học hiểu sâu hơn về tiếng bản ngữ và vận dụng nó một cách thuần
thục trở thành kĩ năng, kĩ xảo trong việc lựa chọn từ ngữ vào trong giao tiếp.
22
Các mục tiêu trên quy định nhiệm vụ của dạy học TV trong nhà trường: thứ nhất là
giúp người học nhận biết được âm, từ, cấu trúc ngữ pháp, cách sử dụng các loại từ tiếng
Việt… Thứ hai, việc dạy THTV phải giúp học sinh thực hành được các nội dung đã học
nghĩa là giúp họ có thể giao tiếp, từ đó hình thành kĩ năng, kĩ xảo trong quá trình sử dụng
tiếng Việt nói cách khác, giúp người học có thể vận dụng những kiến thức được học vào
trong các tình huống, giao tiếp cụ thể. Nhiệm vụ này đòi hỏi GV phải tổ chức tốt các hoạt
động học tập để học sinh thực hành vận dụng ngôn ngữ, kiến thức tiếng Việt, kĩ năng sử
dụng vốn từ… vào trong thực hành giao tiếp. Như vậy, mục tiêu của môn học được triển
khai từ chính bản chất của nó: lấy thực hành làm trọng tâm khi hướng dẫn người học hoàn
thành quá trình giao tiếp.
Qua hoạt động thực hành, những mảng kiến thức tách rời được gắn kết hài hòa,
những kĩ năng riêng lẻ được phối hợp nhuần nhuyễn, những thao tác tư duy được vận dụng
một cách khéo léo để đưa đến sản phẩm cuối cùng là quá trình giao tiếp thành công. Vì vậy,
bản chất của quá trình DH THTV là đi sâu vào thực hành, tổ chức các hoạt động thực hành
cho HV trở thành ngườu chủ động, tự tin trong quá trình giao tiếp.
1.1.3. Nhiệm vụ của việc DH THTV