Ebook nội dung và phương pháp giảng dạy ngữ âm tiếng việt thực hành cho học viên quốc tế phần 2 nguyễn chí hòa - Pdf 35

Chương 5

ÂM TIẾT VÀ GIẢNG DẠY ÂM TIẾT
5.1. Những nhận thức chung về âm tiết
Trước khi tìm hiểu âm tiết tiếng Việt, chúng ta hãy tìm hiểu âm
tiết trong một vài ngôn ngữ khác, chẳng hạn như âm tiết trong tiếng
Nga, qua đó có thể thấy được những đặc trưng khu biệt trong cấu tạo
âm tiết tiếng Việt và trên cơ sở đó có thể áp dụng những tri thức về âm
tiết vào việc giảng dạy tiếng Việt.
Âm tiết - không phải là tổng số các âm của âm tiết hình thành mà
là đơn vị mới có phẩm chất riêng. Thông qua cấu âm của âm tiết,
chúng ta không phát âm mỗi âm của âm tiết riêng rẽ ra mà kết hợp các
âm lại với nhau. Âm tiết liên kết bên trong nó các hiện tượng tác động
của một âm đối với một âm khác; cấu âm (như một dụng cụ thay đổi
của các âm) biểu thị trước hết ở các ranh giới của âm tiết.
Những đặc điểm siêu đoạn của các từ ngữ âm, các ngữ đoạn và
câu, cũng như các kiểu khác nhau của trọng âm, ngữ điệu, có liên
quan đến âm tiết và được thể hiện trong các âm tiết. Có một vài âm
tiết trọng âm trong các từ hình được phân ra trong lời nói, nhưng phần
lớn các âm tiết là không mang trọng âm; các ngữ điệu khác nhau tạo
ra sự thay đổi các đặc điểm của âm tiết trong dòng lời nói liên tục.
Khi phân biệt về tính thống nhất của cấu âm và tính thống nhất
của âm hưởng thì có thể thấy rằng âm tiết phục vụ như là một đơn vị
tối thiểu, mà ngôn ngữ âm thanh được phân bổ trên cơ sở những đơn
vị tối thiểu đó, đó là tổ hợp mang tính thành tố cấu thành ngôn ngữ âm
thanh. Âm tiết, chứ không phải âm tố là ranh giới vật lý của các thành
tố trong dòng ngữ lưu. Cấu trúc lời nói không được tổ chức theo các
âm tố riêng biệt mà theo các âm tiết. Nói một cách khác, âm tiết là
đơn vị tối thiểu, có thể phát âm (đối với phụ âm độc lập làm âm tiết thì
92


Về cấu trúc âm tiết
Để làm rõ hơn cấu trúc âm tiết tiếng Việt, chúng ta giả định một
tình huống là một sinh viên Nga học tiếng Việt, anh ta sẽ thấy những
9

Cao Xuân Hạo, sđd, tr. 34.

93


đặc điểm gì của cấu trúc âm tiết tiếng Việt. Muốn vậy, chúng ta hãy
xuất phát từ âm tiết trong tiếng mẹ đẻ của anh ta.
Vấn đề đặt ra là, những âm tiết cụ thể nào là điển hình đối với tiếng
Nga? Các từ tiếng Nga âm tiết thường có cấu trúc CCГC10 (стол), CГC
(дом) và CГCC (мост); thậm chí có những cấu trúc CCCГC (страх),
CCГ (что). Bên cạnh các từ đơn âm tiết, còn có những từ đa âm tiết.
Trong các từ đa âm tiết thì cấu trúc của âm tiết bị đơn giản hoá. Chính
những từ thông thường nhất trong văn bản tiếng Nga, là các từ gồm có
hai – ba âm tiết với mô hình của các thành tố là âm tiết có cấu trúc CГ
với âm tiết cuối mở (kiểu CГCГ – дело), sử dụng ít hơn các từ với các
âm tiết kiểu này, là các từ với âm tiết cuối đóng (CГСГСГ – xomemь).
Các từ ba âm tiết với tổ hợp phụ âm và các từ có cấu trúc phức tạp hơn
không thuộc số các từ thường dùng.
Trong các cấu trúc điển hình thì các âm tiết được bắt đầu với phụ âm
(có nghĩa các âm tiết đóng). Đối với các từ trong chỉnh thể có đặc điểm
bắt đầu bằng phụ âm, một trong những cấu trúc điển hình của âm tiết
được bắt đầu từ tổ hợp các phụ âm (смена). Trong văn bản tiếng Nga
hiếm gặp các từ với tổ hợp phụ âm đi ở cuối từ. Khó khăn trong việc học
tập, nghiên cứu âm tiết tiếng Nga, là ở chỗ, nó không phải là đơn vị có
ý nghĩa (như hình vị, từ, câu), mà chỉ được dựa trên cơ sở của các đặc

hòa hóa là nhờ thành tố này. Âm chính là âm hạt nhân của âm tiết. Nó
mang chức năng quy định âm sắc chủ yếu của âm tiết. Âm cuối là âm
mang chức năng kết thúc âm tiết. Bằng những cách kết thúc khác nhau,
âm cuối làm thay đổi âm sắc của âm tiết và khu biệt các âm tiết. Nếu
âm cuối là một phụ âm thì “Trong cấu trúc của âm tiết, phụ âm cuối
(chung âm) là một bộ phận của vận mẫu và do đó có cương vị khác với
phụ âm đầu, vốn ngang cấp với vận mẫu với tư cách là thành tố trực
tiếp của âm tiết. Vì vậy, hoàn toàn không có lý do nào cho phép đồng
nhất hai hệ thống “phụ âm đầu” và “phụ âm cuối”11.
Đa số các tác giả nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt đều thừa nhận
cấu trúc âm tiết Tiếng Việt như dưới đây12:
Thanh điệu
Vần
Âm đầu

Âm đệm

Âm chính

Âm cuối

5.3. Giảng dạy âm tiết tiếng Việt
Âm tiết như một đơn vị tối thiểu của việc giảng dạy ngữ âm
Trong thực tế, khi dạy trẻ em tiếng Việt, người ta tách các âm tiết
thành những phần khác nhau. Và trên cơ sở đó, dạy cách đánh vần.
Vậy thì, cách đánh vần mà người ta đã áp dụng đối với trẻ con có thể
áp dụng trong giảng dạy cho người nước ngoài không? Vì sao vậy? Về
phương diện lý luận, theo nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo thì “âm tiết
11
12

giản là loại bài học về âm tiết. Mục đích của bài này là sinh viên phải
nhận thức và phân biệt được các âm tiết. Yêu cầu của bài học là sinh
viên phải xác định được số lượng âm tiết và biết cách ngắt ngữ đoạn
trong câu và phát âm chính xác. Bài tập này có hai bước:
Bước một: Sinh viên được cấp một tờ phiếu như mẫu ví dụ dưới đây:
1
2
3
4
5

13

Câu
Ở Việt Nam, bánh tét và bánh chưng biểu thị sự no ấm.
Ở Hàn Quốc, người ta ăn teok kuk để lên một tuổi.
Ở Nhật Bản, người ta ăn cá chép chiên vào ngày tết.
Ở Hà Lan, người ta ăn bánh nướng với nho khô.
Ở Mỹ, người ta ăn bắp cải, cá mòi và mật ong.

Cao Xuân Hạo, sđd, tr.28 – 29.

96

Số âm tiết


Nhiệm vụ của sinh viên là xác định số lượng âm tiết của mỗi câu.
Bước 2: Sau khi xác định đúng số lượng âm tiết, từng sinh viên phải
biết phân đoạn đúng những câu trên thành các ngữ đoạn. Chẳng hạn,



Bài tập ví dụ 3
• Bài tập: Xác định ranh giới ngữ đoạn, quãng ngưng, độ ngưng
• Đồ dùng dạy học: Phiếu ghi câu
• Đối tượng áp dụng: Sinh viên năm thứ hai
Mục đích của bài học này giúp sinh viên xác định được quãng
ngưng và độ ngưng trong khuôn khổ tổ chức của một câu nói. Yêu cầu
cần đạt là sinh viên phải biết ngưng ở đâu và ngưng bao lâu. Bài học
này gồm các bước:
Bước 1: Giảng viên yêu cầu sinh viên đọc các ngữ đoạn và chú ý
đến cách phát âm đơn vị cuối cùng chẳng hạn như những ngữ đoạn
sau đây:
- /Những nhà cạnh đường đó/
- /Ba người con trai này/
- /Tất cả những cái áo của chị ấy/
- /Các sinh viên của lớp này/
- /Một người đàn ông thông minh và đẹp trai/
- /Ba cô gái xinh đẹp và khôn ngoan đó/
- /Tất cả những cô yêu anh ấy.
- /Những quyển sách trên bàn đó/
- /Những cái mũ len này/
- /Các phòng ngủ đó/
Bước 2: Giảng viên yêu cầu sinh viên tạo câu với các ngữ đoạn
trên, và phân biệt quãng ngưng trong câu.
Ví dụ: Tất cả những cô yêu anh ấy / đều rất xinh gái //
Bước 3: Xác định ranh giới giữa các từ ngữ âm, chú ý cách ngắt
quãng ngắn và dài.
Tất cả \ những cô \ yêu anh ấy / đều rất \ xinh gái //
Bài tập ví dụ 4

có tính kỹ thuật phân tích là trong tiếng Việt âm tiết là điểm xuất phát của
việc phân tích âm vị học. Về cấu trúc âm tiết, có thể thấy rằng trong tiếng
Việt âm tiết có khả năng phân xuất thành những yếu tố nhỏ hơn.
- Âm tiết như là đơn vị cơ bản trong việc giảng dạy ngữ âm
tiếng Việt cho người nước ngoài. Âm tiết tiếng Việt chính là đơn vị
99


âm vị học nhỏ nhất có tham gia vào thế đối lập về trật tự thời gian.
Trên có sở đó, có thể khẳng định rằng, âm tiết là đơn vị tối thiểu trong
giảng dạy ngữ âm tiếng Việt. Tuy nhiên, cần phải giảng dạy âm tiết
trong từ và ngữ đoạn. Tổ hợp “âm tiết - từ ngữ âm” như là một đơn vị
dạy tiếng đã được chúng tôi xem xét như một đơn vị cần yếu trong
quá trình giảng dạy ngữ âm tiếng Việt. Ngữ đoạn trong lời nói phục
vụ cho việc sản sinh câu nói - cả về ngữ nghĩa, cú pháp và cấu âm.
Phương tiện quan trọng nhất đảm bảo sự thống nhất của ngữ đoạn là
mức độ khác nhau về độ mạnh trong trọng âm.

100


Chương 6

THANH ĐIỆU VÀ GIẢNG DẠY THANH ĐIỆU
6.1. Những nhận thức chung về thanh điệu
Thời gian gần đây, trong các công trình nghiên cứu về ngữ âm và
âm vị học thì việc nghiên cứu “trọng tâm” đã có những sự thay đổi.
Người ta chú ý nhiều đến những đơn vị siêu đoạn: trọng âm, thanh
điệu và ngữ điệu.
Theo cách nói của Cao Xuân Hạo thì thanh điệu là “một tập hợp

Ngôn ngữ trình bày “hệ thống bằng hệ thống”. Các đơn vị (âm vị,
từ…) tạo thành hệ thống các đơn vị ngôn ngữ. Các đơn vị này được
nằm trong một hệ thống, chúng thường được mô tả bằng các mô hình.
Các mô hình này thực chất thể hiện cấu trúc của các đơn vị ngôn ngữ,
đó là các sơ đồ trừu tượng, phản ánh những cái cụ thể, có tính cá nhân
trong các văn bản cụ thể. Các đơn vị và mô hình của hệ thống được
tồn tại trong các hoạt động lời nói cụ thể theo quy tắc của ngôn ngữ.
Các đơn vị siêu đoạn hay điệu tính tạo thành một tiểu hệ thống có các
đơn vị, có mô hình, quy tắc riêng của mình. Cách thể hiện của các đơn
vị này trong các ngôn ngữ khác nhau thì khác nhau. Thanh điệu nằm
trong phạm vi của các đơn vị siêu đoạn. Nói một cách khác, thanh
điệu, trọng âm, ngữ điệu là những thành tố của cái gọi là các đơn vị
siêu đoạn. Chúng có tương liên là các yếu tố như giai điệu, độ dài,
cường độ, chỗ ngừng… Những mô hình thanh điệu có dấu vết riêng
của mình.
Các phương tiện âm thanh của ngôn ngữ tương ứng với các lĩnh
vực điệu tính: 1) tồn tại bên cạnh các phương tiện đoạn tính, tức là các
nguyên âm và phụ âm, các âm tiết; 2) mỗi ngôn ngữ có những quy
luật riêng của mình về các đơn vị điệu tính. Tiếng Việt là ngôn ngữ
âm tiết tính, chính vì vậy, thanh điệu được hiểu là các âm vị thanh
điệu; 3) các phương tiện điệu tính khác nhau thường đi với những đơn
vị ngôn ngữ khác nhau, nó được sử dụng với những lớp chức năng xác
định (ví dụ, thanh điệu thường đi với âm tiết hay các từ đơn, trọng âm
thường gắn với ngữ đoạn, và ngữ điệu thường gắn với câu). Tuy
nhiên, các phương tiện điệu tính lại thường xuyên có tác động qua lại
với nhau.
Chức năng của các phương tiện điệu tính là gì? Rõ ràng là các
phương tiện điệu tính khác nhau thì có những chức năng khác nhau.
102


tiếng Việt cho người nước ngoài rằng: có phải tất cả các âm tiết trong
tiếng Việt đều có 6 thanh điệu không? Người bạn đồng nghiệp của tôi
đã trả lời rằng “đúng”. Tôi lại hỏi từ “biết” đi với thanh sắc, thanh
nặng nhưng thanh không dấu, thanh huyền, thanh ngã, thanh hỏi thì
sao? Hãy phát âm thử các âm này! Anh bạn của tôi thừa nhận rằng
103


không thể phát âm được những âm này và anh ta cho rằng đó là một
ngoại lệ. Vậy là:
1) Không phải mỗi âm tiết đều có “hệ thống thanh điệu” đầy
đủ. Trong tiếng Việt, có thể có âm tiết đi với 6 thanh điệu như: ma1,
ma2 , ma3, ma4 ma5, ma6, nhưng âm tiết - từ kiểu “biết” chỉ có thể đi
với thanh sắc và thanh nặng.
2) Khả năng thanh điệu tồn tại trong tổ hợp của âm tiết nào đó có
quy luật riêng của nó. Chẳng hạn, trong tiếng Việt thì “thanh không
dấu, thanh huyền có đường nét âm điệu bằng phẳng. Đường nét này yêu
cầu có một trường độ nhất định mới bộc lộ được tính chất bằng phẳng
của chúng. Do đó, hai thanh này không bao giờ được phân bố trong các
âm tiết có âm cuối vô thanh”*.
Quy luật phân bố của thanh điệu tương tự: Thanh ngã, thanh hỏi có
đường nét thanh điệu không bằng phẳng và phức tạp - đổi hướng. Trong
điều kiện trường độ bị hạn chế thì chúng không thể đảm bảo được tính
phức tạp về đường nét của mình, do đó, thanh ngã và hỏi cũng không
bao giờ được phân bố trong những âm tiết có âm cuối vô thanh.
Như thế, không phải một âm tiết được tổ hợp với tất cả các thanh
điệu mà nằm trong những giới hạn nhất định. Theo đó, không thể coi
những âm tiết không có khả năng mang thanh điệu này hay thanh điệu
khác là những ngoại lệ. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, mỗi âm
tiết đều có thể mang ít nhất một thanh điệu.

âm đầu vô thanh cũng giống như thanh không dấu, thanh sắc. Tuy nhiên,
đây không phải là vấn đề chúng tôi quan tâm trong chuyên khảo này mà
chỉ muốn nhấn mạnh rằng các thanh có thể có những biến đổi trong
những hoàn cảnh nhất định.
Các âm tiết được tổ hợp tối thiểu với một trong số các thanh điệu,
và mỗi âm tiết cụ thể mang tối đa một thanh điệu. Ngoài sự tác động
như đã trình bày ở trên, các thanh điệu còn bị chi phối trong “tổ chức”
của một đơn vị, chẳng hạn, một số trường hợp, trong tiếng Việt, âm
tiết thứ nhất có thể quy định âm tiết thứ hai. Đó là những trường hợp
các từ ghép láy. “Nếu trong hai âm tiết tạo thành từ kép láy có thanh
điệu huyền chẳng hạn thì âm tiết còn lại chỉ có thể mang thanh huyền,
hoặc ngã hoặc nặng. Ví dụ: vui vẻ, sáng sủa, khó khăn…”15.
Như vậy, có thể thấy rằng một vài thanh điệu mang tính kế tiếp
nhau trong phạm vi của từ có hai âm tiết như từ kép láy, âm tiết đầu
tiên có thể quy định thanh điệu của âm tiết thứ hai. Nó như kết quả kết
hợp của hai mắt xích thực sự móc vào nhau, tạo ra sự kết hợp của các
đơn vị đoạn tính và siêu đoạn tính mà trước hết là sự tác động của các
thanh điệu. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, trong những trường
hợp này, các thanh điệu có sự tác động tương hỗ lẫn nhau và cũng cần
khẳng định rằng những đơn vị kiểu này có thể bắt nguồn trong quá
trình lịch sử. Tất nhiên, cần phải khẳng định lại rằng âm tiết mang
thanh điệu - đó là một đơn vị ngữ âm âm đoạn, là nơi để thanh điệu có
thể được thể hiện. Nói cụ thể hơn, đối với tiếng Việt thì vì âm đầu
15

Đoàn Thiện Thuật 1977, tr.124.

105



của thanh điệu, các thanh điệu trong hệ thống thanh điệu tiếng Việt
gồm có 6 thanh. b) Âm điệu là một trong hai tiêu chí phân loại thanh
điệu. c) Khi các từ đơn trùng với hình vị, trùng với âm tiết thì thanh
điệu của âm tiết đồng thời là thanh điệu của từ, theo cách nói của Cao
Xuân Hạo. Ông cho rằng: Nếu ta có thể hình dung hệ thống ngôn ngữ
của các thứ tiếng châu Âu như một cơ chế vận chuyển trên ba cái trục
106


chính là từ, hình vị và âm vị, thì tiếng Việt dường như kết hợp ba cái
trục ấy thành một - đó là tiếng.
6.2. Thanh điệu tiếng Việt
Cũng như tất cả các ngôn ngữ khác trên thế giới, tiếng Việt trước
hết, dùng âm thanh làm chất liệu. Chất liệu âm thanh mang một đặc
trưng quan trọng là nó trải dài theo chiều của thời gian. Tuy nhiên,
mỗi ngôn ngữ khác nhau có những đặc trưng riêng của mình. Điều đó
phù hợp với quy luật rằng không có lý do gì cho phép ta khẳng định
một cách tiên nghiệm rằng mọi ngôn ngữ đều sử dụng một đại lượng
âm thanh có kích thước nhất định làm ranh giới đánh dấu chỗ phân
chia giữa những đơn vị tuyến tính với những đơn vị phi tuyến tính.
Tuy nhiên, các nhà ngôn ngữ học càng ngày càng có nhiều cơ sở để
biết rằng trong tất cả các ngôn ngữ của nhân loại âm tiết là âm đoạn tự
nhiên nhỏ nhất. Âm tiết - theo cách nhấn mạnh của Cao Xuân Hạo - là
đơn vị cấu âm và nhận diện âm thanh nhỏ nhất; tuy có chiều dài và có
thể cắt ra từng khúc, nhưng những khúc có được bằng cách cắt âm tiết
ra như vậy không thể nào được thính giác của con người, dù nói thứ
tiếng gì, nghe như những âm thanh tách bạch của tiếng nói con người,
chứ đừng nói gì nhận diện. Chỉ có ở biên giới của âm tiết thì những
nhát cắt như vậy mới để lại những đại lượng âm thanh giống tiếng nói
của con người và có thể được người bản ngữ nhận diện. Khẳng định

với thanh [2]. Thanh [3] có cao độ xuất phát ở âm vực thấp nhưng kết
thúc ở âm vực cao.
b) Về âm điệu: Thanh ngã có âm điệu trắc và gãy. Khi xuất phát,
thanh [3] cao hơn thanh huyền, nhưng đến giữa âm tiết thì hạ xuống
một cách đột ngột, dốc đứng trong một thời gian ngắn rồi lên cao đi
qua vạch xuất phát ban đầu lên thêm một chút rồi dừng hẳn. Nó hình
giống như dấu [√].
c) Về phân bố: Đi với các âm tiết có âm cuối không vô thanh, và
không đi với âm tiết có âm cuối vô thanh.
Thanh hỏi [4]
a) Về âm vực: Thanh hỏi “thuộc về loại thanh điệu có âm vực thấp”16
Có cùng độ cao xuất phát với thanh huyền. Kết thúc ở cao độ thấp.
b) Về âm điệu: Thanh hỏi mang âm điệu trắc và gãy. Đường nét
thanh điệu thấp dần từ khi xuất phát; sau đó, chuyển sang một nét đi
lên tương đương với nét đi xuống ban đầu, kết thúc bằng với cao độ
lúc xuất phát. Có thể hình dung đường nét của thanh này như dấu [∨
∨].
Quãng thấp nhất của đường nét âm điệu nằm ở giữa phần vần. Chính
vì có sự chuyển hướng này mà người ta nói rằng, thanh [4] có đặc
16

Đoàn Thiện Thuật, Sđd, tr. 112.

108


trưng gãy, xét về mặt âm điệu. Nó được phát âm giống nhau trong
những trường hợp hỏa, hưởng, đảm, đảng... Trong những trường hợp
âm cuối là phụ âm mũi và nguyên âm chính như là “tẩn’’, “mẩn” thì
nó nằm vào âm cuối.

109


c) Về phân bố: Thanh nặng đi với các âm tiết có âm cuối không
vô thanh, và đi với cả âm tiết có âm cuối vô thanh.
Một số khái niệm được dùng ở trên, cần được giải thích thêm:
Khái niệm âm vực được dùng để chỉ độ cao của thanh điệu. Đây là
một trong hai tiêu chí thỏa đáng âm vị học của thanh điệu. Thuộc về
các thanh điệu có âm vực cao là các thanh không [1], thanh ngã [3] và
thanh sắc [5]. Thuộc về các thanh điệu có âm vực thấp là các thanh
huyền [2], thanh hỏi [4] và thanh nặng [6]. Khái niệm “bằng” dùng để
chỉ các thanh điệu có đường nét âm điệu bằng phẳng, còn khái niệm
trắc dùng để chỉ các thanh điệu có đường nét không bằng phẳng. Liên
quan tới khái niệm bằng và trắc là khái niệm âm điệu. Âm điệu là khái
niệm dùng để chỉ biến thiên của cao độ theo thời gian. Đặc trưng này
thường được nhận thấy trong sự biến thiên của thanh điệu. Thanh điệu
thường được phân loại theo đặc trưng bằng hay trắc tức là “gãy” hay
“không gãy”.
6.3. Giảng dạy các thanh điệu
Một số điểm cần chú ý khi giảng dạy thanh điệu tiếng Việt
• Thanh điệu được đưa vào ngay bài luyện âm đầu tiên
Nếu như ở trên kia ta đã chứng minh rằng, âm tiết là đơn vị nhỏ
nhất trong giảng dạy ngữ âm tiếng Việt thì tất yếu là chúng ta phải bắt
đầu dạy thanh điệu ngay từ bài học đầu tiên. Nói các khác, sinh viên
ngay từ bài học đầu tiên đã có thể học về thanh điệu. Nhưng không
phải là những giảng giải dài dòng về lý thuyết thanh điệu tiếng Việt.
Để trả lời thêm vấn đề vì sao bài học đầu tiên sinh viên đã được học
về thanh điệu, một đơn vị rất khó trong tiếng Việt? Điều này thật là
đơn giản bởi lẽ, các thanh điệu thường được thể hiện trong âm tiết mà
dạy tiếng Việt phải bắt đầu từ đơn vị cơ bản nhất, đơn vị cấu âm và

tiếng Việt
Có hai vấn đề đặt ra ở đây: thứ nhất là giảng viên giảng dạy tiếng
Việt như một ngoại ngữ có cần biết tiếng mẹ đẻ của sinh viên hay
không? Vấn đề thứ hai là, một giảng viên dạy tiếng Việt có thể đến từ
những vùng miền khác nhau, với tiếng địa phương của anh ta, có thể
có ít hơn 6 thanh điệu, trong trường hợp đó, thái độ của anh ta đối với
các thanh điệu tiếng Việt như thế nào?
Đối với vấn đề thứ nhất, khi so sánh ngôn ngữ mẹ đẻ với ngôn
ngữ thứ hai, người ta thường chỉ chú ý đến sự khác biệt quan trọng là
vốn từ vựng. Thực ra, sự khác biệt cơ bản giữa chúng chính là cấu
trúc. Mỗi ngôn ngữ đều có một hệ thống riêng về cấu trúc câu, cấu tạo
từ, ngữ điệu, trọng âm và ngữ âm. Điều lý tưởng đối với người giảng
viên là anh ta biết tiếng của người học để so sánh với tiếng Việt, thứ
tiếng mà anh ta đang dạy như một ngoại ngữ. Chẳng hạn, đối với sinh
111


viên là người Trung Quốc, người dạy biết tiếng Trung Quốc sẽ biết
lựa chọn thanh nào cần tập trung giảng dạy và thanh nào chỉ cần giới
thiệu qua vì nó đã tồn tại trong tiếng mẹ đẻ của người học.
Đối với vấn đề thứ hai, chẳng hạn như một giảng viên người
miền Nam hay Trung Bộ dạy tiếng Việt, thì khi dạy tiếng mẹ đẻ như
một ngoại ngữ, anh ta có cần phải học cách nói đầy đủ các thanh hay
không? Từ thực tế giảng dạy với đồng nghiệp người Nam Bộ, chúng
tôi đã bị sinh viên phàn nàn rằng: “khi đi với Thầy, em phải nói
giọng Bắc, khi đi với Thầy P. chúng em phải nói giọng Nam”. Từ
thực tế này, chúng tôi thấy rằng, ngoài những yêu cầu cần thiết khác,
trước hết, giảng viên phải nắm được hình thức chuẩn mực của tiếng
Việt và có thể sử dụng được trong giảng dạy, mặc dầu cá nhân giảng
viên có thể nói một phương ngữ nào đó như khẩu ngữ hàng ngày.

đoạn 1, đường nét có thể hoặc ngang, hoặc xuống, hoặc lên rồi xuống,
ở đoạn 2 đường nét bao giờ cũng đi lên. Tuy nhiên, hiện tượng tắc
họng ở giữa có thể yếu hoặc không thật rõ ràng, nhưng đường nét
thanh điệu vẫn bị gãy. Thanh 4 hay còn gọi là thanh hỏi, có đường nét
võng, lúc đầu đi xuống đều đặn, đến khoảng giữa thì đi lên và tương
đối cân xứng với đường nét đi xuống. Tuy nhiên, đường nét đi lên ở
cuối có thể yếu hơn. Thanh 5 hay còn gọi là thanh sắc, có đường nét đi
lên, nhưng tính chất và trường độ có thể khác tuỳ thuộc vào phương
thức kết thúc của âm tiết. Nếu xuất hiện trong các loại hình âm tiết
không khép, thì đường nét thanh điệu đi lên đều đặn. Ngược lại, trong
các âm tiết khép, đường nét đi lên gấp và ngắn. Thanh 6 hay còn gọi là
thanh nặng, có đường nét đi xuống thấp và ngắn. Nếu thanh nặng xuất
hiện trong các loại hình âm tiết mở, nửa mở và nửa khép, thì đường
nét được kết thúc bằng hiện tượng tắc họng. Đường nét của thanh
nặng đi xuống gấp và rút ngắn. Tuy vậy, theo giải pháp âm vị học,
hiện tượng tắc họng ở cuối là một nét ngữ âm đi kèm của thanh điệu,
có ý nghĩa khu biệt trong các loại hình âm tiết không phải là khép.
Các giảng viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cần nắm
vững và thể hiện được trong lời nói khi lên lớp, cũng như hướng dẫn
các học viên hiện thực hoá được đầy đủ và chính xác 6 thanh điệu của
tiếng Việt và những nét khái quát về đặc trưng ngữ âm cơ bản của
thanh điệu tiếng Việt như đã trình bày ở trên. Nhưng thực tiễn cho
thấy, không phải ai cũng đáp ứng được yêu cầu đó.
• Giảng dạy thanh điệu trong âm tiết gắn liền với các hiện
tượng đồng hóa giữa các âm tiết trong từ (ngữ) kép - láy
Trong giới ngôn ngữ học, có những cách gọi khác nhau cho
những cụm từ được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có
kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có. Như vậy, hiện
tượng đồng hóa các đơn vị đi sau của các đơn vị đi trước là một hiện
tượng tồn tại thực trong tiếng Việt. Những đơn vị được gạch chân

Hồng Hạnh khẳng định rằng: Trong 50 từ được đưa ra khảo sát, thanh
điệu có sự tương ứng với các sắc thái biểu cảm như sau:
Thanh
điệu /
STBC
Tích cực
Trung hoà
Tiêu cực
Tổng cộng

114

Bằng
phẳng
Ngang
4
0
1
5
50 từ

Âm vực cao
Không bằng
phẳng
Ngã
Sắc
0
10
0
2

cực, thanh có âm vực thấp (huyền) có xu hướng biểu đạt sắc thái tiêu cực.
- Những thanh có đường nét không bằng phẳng, gãy (hỏi, ngã) có
xu hướng biểu đạt sắc thái tiêu cực17.
Từ đây có thể đi đến một ý tưởng rằng, hướng nghiên cứu về mối
quan hệ giữa thanh điệu và sắc thái biểu cảm là một hướng nghiên cứu
mới và có thể áp dụng từng bước vào việc giảng dạy tiếng Việt như
một ngoại ngữ.
Bài học ví dụ
Bài học ví dụ 1
• Bài học: Tìm thanh điệu cho các từ trong bài khóa.
• Đối tượng áp dụng: Sinh viên học ở trình độ bắt đầu (A).
• Dụng cụ học tập: Phiếu ghi từ, máy ghi âm.
Mục đích của bài học này là kiểm tra hai khả năng: Kiểm tra khả
năng nhớ thanh điệu của những từ đã học và kiểm tra khả năng tri
nhận các thanh điệu của người học. Yêu cầu của bài học này là sinh
viên phải tập trung sự chú ý vào thanh điệu tiếng Việt.
Có hai bước tiến hành loại bài tập này.
Bước 1: Sinh viên được phát một tờ phiếu bài tập, trong bài khóa
của phiếu bài tập có một số từ đã học và một số từ chưa học, các dấu
thanh điệu được loại bỏ hoàn toàn, sinh viên được yêu cầu đánh dấu
thanh điệu cho các từ trong bài tập, chẳng hạn như bài dưới đây:
Nghe và điền dấu thanh điệu cho các âm tiết dưới đây.
Tôi tên la Sin Mi Lan, ngươi Han Quôc, sang Ha Nôi đê hoc tiêng Viêt.
Tôi đinh se hoc tiêng Viêt ơ đây khoang 6 thang.
Tôi co môt ngươi ban thân. Tôi quen anh ây khi tôi vưa sang Ha Nôi đươc
hơn 1 thang . Anh ây tên la Chiên. Tôi va Chiên băng tuôi nhau. Chiên sinh
17

Huỳnh Thị Hồng Hạnh, Một khảo sát về biểu tượng ngữ âm của thanh điệu ở vị từ có
yếu tố sau biểu thị mức độ cao trong tiếng Việt />

nhiệm vụ đánh dấu các thanh điệu sau khi nghe. Trong một lần thực
nghiệm, cũng với bài tập trên, chúng tôi đã yêu cầu 25 sinh viên làm
bài tập này và kết quả như sau:
Không sai
Số lượng SV
Tỷ lệ

Sai một lỗi

Sai hai lỗi

Sai trên 3 lỗi

1

1

2

21

4%

4%

8%

84%

Từ kết quả này có thể đi đến một số nhận xét:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status