NGUYN CH HềA
NộI DUNG Và PHƯƠNG PHáP
GIảNG DạY NGữ ÂM TIếNG VIệT ThựC HàNH
CHO HọC VIÊN QuốC Tế
NH XUT BN I HC QUC GIA H NI
1
2
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Phần thứ nhất: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương 1: ÂM THANH NGÔN NGỮ
NHƯ MỘT PHƯƠNG TIỆN GIAO TIẾP
1.1.
Những đặc trưng cơ bản của âm thanh ngôn ngữ
1.2.
Nội dung cơ bản trong giảng dạy ngôn ngữ âm thanh
1.3.
Những vấn đề lý luận trong phương pháp giảng dạy ngôn ngữ
âm thanh
1.4.
Tiểu kết
Phần thứ hai
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
GIẢNG DẠY NGÔN NGỮ ÂM THANH TIẾNG VIỆT
Chương 2: GIẢNG DẠY PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT
Giảng dạy âm tiết tiếng Việt
5.4.
Tiểu kết
Chương 6: THANH ĐIỆU VÀ GIẢNG DẠY THANH ĐIỆU
6.1.
Những nhận thức chung về thanh điệu
6.2.
Thanh điệu tiếng Việt
6.3.
Giảng dạy các thanh điệu
5
7
7
7
15
26
31
33
33
33
35
62
64
64
67
71
77
79
79
Chương 8: NGỮ ĐIỆU VÀ GIẢNG DẠY NGỮ ĐIỆU
8.1.
8.2.
8.2.1.
8.2.2.
8.2.3.
8.2.4.
8.3.
8.4
Những nhận thức chung về ngữ điệu
Ngữ điệu trong tiếng Việt
Quan hệ giữa ngữ điệu với các bình diện khác của câu nói
Ngữ điệu và cấu trúc thông tin trong tiếng Việt
Ngữ điệu và ngữ pháp trong câu nói tiếng Việt
Ngữ điệu và cấu trúc đề - thuyết trong tiếng Việt
Giảng dạy ngữ điệu
Tiểu kết
Chương 9: PHÁT ÂM VÀ CHÍNH TẢ
9.1.
9.2.
9.3.
9.4.
4
120
123
Việt thực hành cho học viên quốc tế” bàn về nội dung, phương pháp
giảng dạy phát âm, rèn luyện kỹ năng tiếp thụ và sản sinh ngôn ngữ
âm thanh tiếng Việt cho học viên quốc tế. Đây là cuốn sách được viết
phục vụ cho đối tượng là giảng viên, sinh viên học tập tiếng Việt như
một ngoại ngữ và những người quan tâm đến lĩnh vực này.
Mục đích chính của chuyên khảo này là lựa chọn những kiến thức
cơ bản về ngữ âm tiếng Việt làm tiền đề cho việc áp dụng vào việc
giảng dạy phát âm, rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ âm
thanh. Phần nội dung có tính lý thuyết được dựa vào những kết quả
nghiên cứu của Đoàn Thiện Thuật, Cao Xuân Hạo và những tác giả
khác… Đồng thời, người viết cũng trình bày một vài kết quả nghiên
cứu của mình.
Vấn đề cách thức giảng dạy phát âm và tương tác bằng ngôn ngữ
âm thanh được dựa trên kết quả nghiên cứu có tính chất lý luận và
những kinh nghiệm thu lượm được từ thực tế làm nhiệm vụ giảng dạy
tiếng Việt như một ngoại ngữ của nguời viết trong hơn 30 năm qua.
Điều được đặc biệt chú ý trong tập tài liệu này là những ý tưởng và kỹ
năng điều hành lớp học. Khi khảo sát nội dung và phương pháp giảng
dạy các đơn vị ngữ âm, tập tài liệu này chú ý đến ba vấn đề: (1) Những
nét chung về các đơn vị được bàn, nhằm nhìn nhận các đơn vị này ở
những nét khái quát có tính phổ niệm ngôn ngữ; (2) đặc trưng của các
đơn vị đó trong tiếng Việt. Đây là một sự miêu tả các đơn vị ngữ âm có
tính đặc thù của tiếng Việt, và (3) cách thức giảng dạy các đơn vị đó.
Từ mục đích và nội dung nói trên, cuốn sách này gồm hai phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận
Phần 2: Nội dung và phương pháp giảng dạy các đơn vị âm thanh
tiếng Việt
5
niệm mô tả đầy đủ các hiện tượng của giao tiếp ngôn ngữ cũng như
đối với phương pháp giảng dạy ngôn ngữ.
Vậy, giữa giao tiếp bằng âm thanh với giao tiếp bằng ký tự có
những đặc trưng nào giống và khác nhau?
Điểm giống nhau chung nhất giữa hai hình thức nói và viết là, cả
hai hình thức này đều mang đặc trưng chung; chúng đều là hình thức
có tính vật lý của các yếu tố cấu thành các đơn vị giao tiếp hay nói
một cách chính xác hơn là, chúng đều là các sản phẩm ký hiệu hoặc
âm thanh hoặc ký tự. Tuy nhiên, chúng có sự khác nhau mà sự khác
nhau này có liên quan đến tất cả các ký hiệu có tính chất trừu tượng.
7
Sản phẩm ký hiệu âm thanh nói có hình thức vật lý ở dạng các
dao động của không khí trong biên độ của các tần số mà tai người có
thể nghe được. Các dao động này có đặc điểm là hoàn toàn không ổn
định, thể hiện ở hai khía cạnh: trước hết, khi người ta ngừng nói thì
các dao động âm thanh tắt ngay sau đó, và thứ hai là chúng giảm
cường độ đi rất nhiều tuỳ theo khoảng cách kể từ điểm người nói phát
ra. Từ đây có thể suy ra, các tính chất quan trọng nhất của giao tiếp
bằng âm thanh và có định hướng cụ thể cho việc sản sinh và tiếp nhận
các âm thanh ngôn ngữ. Những đặc điểm giao tiếp bằng âm thanh đặt
ra những vấn đề dưới đây về giao tiếp và giảng dạy lời nói.
Vấn đề thứ nhất là tính không lặp lại của âm thanh ngôn ngữ.
Người Việt thường nói "lời nói gió bay" để khẳng định một đặc trưng
của giao tiếp khẩu ngữ là không một ai có thể lấy lại lời nói của mình,
có nghĩa là, trừ các phương tiện kỹ thuật thì một khi âm thanh giao
tiếp đã bay vào không khí thì không còn cách nào quay trở lại đoạn
âm thanh với tư cách là sản phẩm của tín hiệu ngôn từ. Điều đó dẫn
đến một hậu quả là người nghe một ngoại ngữ khó mà tìm lại được
tin, phổ cập thông tin đến các thành viên của tập thể ngôn ngữ và việc
để lại thông tin từ thế hệ này sang thế hệ sau gặp nhiều khó khăn.
Một số vấn đề được nêu ra ở trên của giao tiếp bằng âm thanh
được xem như là những hạn chế và nhược điểm của nó. Trong số
nhược điểm cần phải kể thêm là khối lượng thông tin do cơ quan thích
giác nhận được trong mỗi giây đồng hồ là rất nhỏ.
Các phương tiện liên lạc hiện đại được sáng tạo ra trong mấy
chục năm trở lại đây đã cho phép vượt qua những hạn chế ấy ở một
mức độ nhất định và trong những hoàn cảnh nhất định bằng cách ứng
dụng các hệ thống tự động, mã hoá lại các tín hiệu âm thanh thành tín
hiệu khác, ổn định và thuận lợi hơn để phổ cập. Chẳng hạn, sự không
ổn định của sản phẩm ký hiệu âm thanh có thể vượt qua được một
phần nhờ vào các thiết bị ghi âm và giới hạn phổ cập của nó được mở
rộng rất nhiều nhờ vào sự liên lạc bằng kỹ thuật điện, điện thoại và
hiện nay là kỹ thuật số. Các phương tiện kỹ thuật đã mở rộng khả
năng giao tiếp bằng âm thanh rất nhiều trong hiện tại và tương lai, tuy
nhiên, hiện nay còn có những trở ngại chưa loại trừ hết được những
hạn chế của nó.
Giao tiếp bằng âm thanh ở dạng nói trực tiếp đã trải qua hàng
nghìn năm nay. Và nó là phương tiện trao đổi thông tin duy nhất giữa
người và người. Nhưng khi mà sản xuất bắt đầu phát triển nhanh và
giao tiếp bằng âm thanh thực sự không tương xứng với nhu cầu giao
tiếp ngày càng lớn của con người, giao tiếp trở thành vấn đề thời sự
thì một hình thức giao tiếp mới xuất hiện - giao tiếp viết, là loại giao
tiếp cho phép khắc phục những nhược điểm của giao tiếp bằng lời nói.
Mặc dầu vậy, giao tiếp bằng ngôn ngữ âm thanh có một loạt các ưu
điểm mà ta cần chú ý:
9
huống thay đổi nhanh của cuộc sống, trong việc biểu hiện tình cảm và
tiếp nhận thông tin ngoại ngôn, nó thống lĩnh trong môi trường các
10
quan hệ gia đình - sinh hoạt, sản xuất và dịch vụ. Nó được sử dụng
chủ yếu cho các nhu cầu của giao tiếp ngôn ngữ có định hướng.
Ngôn ngữ viết làm nhiệm vụ đảm bảo các hoạt động tri thức và xã
hội của con người, phổ biến thông tin hàng ngày và các sáng tạo văn học.
Nói cách khác, nó phục vụ chủ yếu cho giao tiếp phi định hướng.
Sự phân công chức năng này giữa giao tiếp bằng âm thanh và
bằng ký tự không hoàn toàn tuyệt đối. Một mặt, các phát kiến và liên
lạc vô tuyến điện cho phép sử dụng rộng rãi ngôn ngữ nói vào việc
định hướng trong tất cả ba loại thông tin chủ yếu (thông tin sự kiện, tri
thức, thẩm mỹ). Ngoài ra, giao tiếp nói trực tiếp (không dùng phương
tiện kỹ thuật) từ lâu được ứng dụng trong lĩnh vực giảng dạy và thông
báo khoa học (các báo cáo và phát biểu khoa học, cũng như trong đời
sống chính trị).
Một mặt khác, ngôn ngữ viết được ứng dụng trong môi trường
gia đình - sinh hoạt (thư từ) trong những trường hợp, vì lý do gì đó
không tiện dùng giao tiếp nói (có người ngoài) hoặc không thực hiện
được (ở xa mà không có điện thoại).
Và mặc dù có một sự trùng lặp nào đó về chức năng, sự “phân
công” giữa các hình thức nói và viết của giao tiếp ngôn ngữ có tính
chất cơ bản và lâu dài.
Sự thống lĩnh của ngôn ngữ nói trong dòng định hướng và ngôn
ngữ viết trong dòng không định hướng trong giao tiếp đã dẫn đến sự
khác nhau trong việc phân bổ vai trò của người truyền và người nhận
giữa các thành viên của tập thể ngôn ngữ tham gia vào hai hình thức
giao tiếp nói trên. Trong giao tiếp bằng âm thanh, mỗi cá nhân lần lượt
đại mà những dấu vết còn lại là các tác phẩm bằng chữ viết. Còn đối
tượng của phương pháp dạy ngoại ngữ trong mấy thế kỷ liền là ngôn
ngữ La tinh viết và sau nó là ngôn ngữ Hy Lạp cổ. Nếu như trong khi
học, người ta cố gắng học nói bằng các ngôn ngữ chết ấy thì đó chỉ là
công việc mang tính chất thứ yếu và điểm xuất phát vẫn là ngôn ngữ
viết được mã hoá thành thông báo âm thanh. Và sức mạnh của truyền
thống lớn đến nỗi, sau đó, khi người ta bắt đầu tổ chức dạy các ngôn
ngữ sống (sinh ngữ) thì đối tượng chính ở đây lại cũng chỉ là ngôn
ngữ viết. Truyền thống này vẫn thể hiện ở chỗ các cố gắng dạy ngôn
ngữ nói vẫn dựa vào các bài viết lấy từ sách, báo, tiểu thuyết, ngay cả
những giáo trình dạy tiếng mới mẻ nhất hiện nay cũng làm như vậy.
Về sau này, tuy hơi muộn màng nhưng các nhà ngôn ngữ, đã
nghiên cứu và mô tả cơ chế của giao tiếp ngôn ngữ âm thanh một cách
nghiêm túc. Dĩ nhiên, đối tượng chủ yếu của việc nghiên cứu bây giờ
là ngôn ngữ âm thanh, là thứ ngôn ngữ có “uy tín” cao hơn so với
ngôn ngữ viết không phải chỉ trên khía cạnh nguồn gốc ngữ văn (ngôn
ngữ âm thanh đã tồn tại hàng trăm nghìn năm, còn chữ viết thì mới chỉ
xuất hiện hai ba nghìn năm nay trên cơ sở của ngôn ngữ nói, còn việc
phổ cập rộng rãi của ngôn ngữ viết chỉ mới có trong thời đại của
chúng ta) mà cả trên khía cạnh nguồn gốc phát sinh và tiến hoá (mỗi
12
chúng ta đã học nói tiếng mẹ đẻ từ khi còn thơ ấu, còn ngôn ngữ viết
thì chậm hơn và trên cơ sở ngôn ngữ nói”). Sự tập trung chú ý vào
ngôn ngữ nói của các nhà ngôn ngữ cũng còn nhờ vào những thành
tựu của ngữ âm học, là một ngành đầu tiên của ngôn ngữ học đã mô tả
được các quy luật cấu trúc có ý nghĩa bậc nhất trong giao tiếp.
Sự chuyển hướng nghiên cứu của ngành Ngôn ngữ học vào ngôn
ngữ âm thanh được phản ánh ngay vào phương pháp dạy ngoại ngữ,
là loại giao tế có trước giao tiếp viết về mặt xã hội và trong đại đa số
các trường hợp cả về mặt cá nhân cũng như vậy.
Vấn đề về trọng lượng của giao tiếp ngôn ngữ nói và viết và tác
dụng tương hỗ giữa chúng trong quá trình dạy ngôn ngữ phải được
giải quyết không phải với một khuôn đúc cho sẵn về vai trò tuyệt đối
14
của loại hình giao tiếp này hay nọ mà phải xuất phát từ những nhiệm
vụ giao tiếp và dạy ngoại ngữ cụ thể cũng như từ các điều kiện dạy
học cụ thể.
Khi dạy ngôn ngữ nói và viết cần phải lưu ý đầy đủ đến đặc thù của
hai hình thức trao đổi thông tin này, mối quan hệ và tác dụng giữa chúng.
Trên cơ sở những nhận thức có tính lý luận như trên, phần này sẽ
giải quyết vấn đế cơ bản: Nội dung và phương pháp giảng dạy các đơn
vị âm thanh tiếng Việt.
1.2. Nội dung cơ bản trong giảng dạy ngôn ngữ âm thanh
Âm thanh ngôn ngữ gồm những thành tố nào?
Trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, công việc đầu
tiên cần tiến hành là giảng dạy phát âm. Vậy thì, những đặc điểm nào là
đặc điểm cơ bản của việc giảng dạy ngôn ngữ âm thanh nói chung và
giảng dạy phát âm nói riêng. Dưới đây chúng tôi sẽ trả lời câu hỏi này.
Để nghiên cứu bất kỳ một vật thể nào đó và xem nó hoạt động
như thế nào thì việc phân tích vật thể đó thành những bộ phận khác
nhau, tức là trả lời câu hỏi nó gồm những những thành tố nào, là một
việc luôn luôn hữu dụng. Sơ đồ dưới đây chỉ ra những thành tố chính
của âm thanh ngôn ngữ mà hầu như ngôn ngữ nào cũng có1.
1
Có thể biết một âm nào đó là vô thanh hay hữu thanh bằng việc đặt
một hoặc hai ngón tay vào yết hầu. Nếu đang sản sinh ra một âm
thanh hữu thanh thì chúng ta sẽ cảm thấy một sự chuyển động. Nếu
đang sản sinh ra một âm vô thanh thì chúng ta sẽ không thấy "quả yết
hầu" chuyển động. Thí dụ, sự khác biệt giữa /f/ và /v/ có thể được cảm
nhận bằng sự khác biệt khi đặt răng hàm trên vào vào môi của hàm
dưới rồi thở ra một dòng liên tục. Làm như thế chúng ta đã sản sinh ra
/f/. Sau đó, thêm thanh vào để tạo ra âm /v/. Có nghĩa là làm cho “quả
táo Adam” của chúng ta rung động.
1
Đoàn Thiện Thuật (1977 tr.49), Ngữ âm tiếng Việt, NXB. ĐHVTHCN.
16
Một bộ âm vị gồm có hai loại: Những âm thanh nguyên âm và
những âm thanh phụ âm. Tuy nhiên, hai bộ âm vị này không phù hợp
một cách hoàn toàn với những nguyên âm và phụ âm mà chúng ta
quen dùng trong bảng chứ cái A,B,C. Tất cả những nguyên âm (âm
thanh của nguyên âm) đều là hữu thanh, và có thể là nguyên âm đơn
(giống như /a/ trong /ta/ của tiếng Việt và /et/ trong /let/ của tiếng
Anh; hoặc là một sự liên kết bao hàm sự chuyển động từ âm thanh của
một nguyên âm đối với một nguyên âm khác, như “iê” trong từ “liên”
của tiếng Việt hoặc /ei/ như trong từ “late” của tiếng Anh. Sự liên kết
như thế tạo ra nguyên âm đôi (diphthong). Một thuật ngữ nữa còn
được sử dụng là nguyên âm ba (triphthongs), nó được miêu tả như sự
liên kết của ba nguyên âm (giống như /auƏ./ trong “our” hoặc
“power” trong tiếng Anh. Nguyên âm có thể là ngắn (như /i/, như
trong “hit” hoặc, /i:/ trong “heat” trong tiếng Anh.Người ta thường
lời nói, thuật ngữ phát ngôn hoặc câu nói được sử dụng tốt hơn là khái
niệm câu, khi nó biểu thị một ngữ đoạn bao gồm cả những câu không
hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp và có những cách khác nhau để nói về
cùng một câu).
Trọng âm của phát ngôn và những mô hình ngữ điệu thường được
liên kết lại để biểu thị ý nghĩa trong giao tiếp. Ví dụ trong phát ngôn:
[1] Bạn sống ở đâu? Thì ngữ điệu của phát ngôn sẽ được biểu thị
như dưới đây:
[1]
Bạn sống ở đâu?
Nghĩa là, ở phần cuối của phát ngôn tiếng Việt sẽ được phát âm
cao hơn so với phần đầu. Cường độ của tiếng nói sẽ cao dần lên và
đỉnh của nó là từ “đâu”.
Nhưng điều này đối với tiếng Anh lại không hẳn như vậy. Trong
phát ngôn “Where do you live?” [2] được bắt đầu từ cao và xuống
thấp ở đoạn cuối.
[2]
Where do you live?
Nhưng ở trường hợp câu hỏi lại lần thứ hai [3] thì tình hình cũng
sẽ khác:
[3]
(-Anh vừa nói gì?)
___ ____ __ ___
- (Tôi vừa nói:) Anh sống ở đâu.
18
tiếng Việt; một đứa trẻ sinh ra trong môi trường nói tiếng Anh sẽ phát
triển các âm vị của tiếng Anh, một đứa trẻ nói tiếng Pháp sẽ phát triển
một bộ âm vị khác. Chúng ta cũng có thể học được những giọng khác
nhau theo những cách khác nhau: Một đứa trẻ nói tiếng Anh sẽ học sử
dụng những mẫu trọng âm và những mẫu ngữ điệu phù hợp còn một
đứa trẻ nói tiếng Việt sẽ học cách sử dụng các thanh điệu để tạo ra
những ý nghĩa khác nhau với cùng một bộ âm thanh.
Đối với một nội dung cơ bản về âm thanh ngôn ngữ, chúng ta sẽ
học cách sử dụng các bộ phận cấu âm theo những cách thức mới để
sản sinh ra những âm thanh của ngôn ngữ đích - một ngoại ngữ mà
tạm quên đi những âm thanh của ngôn ngữ riêng của chúng ta - ngôn
ngữ mẹ đẻ, không phù hợp với ngoại ngữ đó. Nhưng dường như, sau
thời trẻ con thì khả năng tiếp nhận và sử dụng một bộ âm thanh không
quen thuộc bị hạn chế một cách đáng kể.
19
Con người có những cơ quan giúp ta phát âm ra các âm thanh
ngôn ngữ nói chung. Trong thanh quản của người có hai cái vành co
giãn (có thể đàn hồi). Khi thở thông thường cũng như trong khi sản
sinh ra những âm thanh vô thanh thì dây thanh mở. Khi cái gờ của dây
thanh đóng lại thì luồng khí đi qua giữa chúng làm cho chúng rung lên
tạo ra sự rung. Cường độ của âm thanh đó hoặc cao hoặc thấp được
kiểm soát bởi các cơ.
Người ta thường sử dụng các môi, lưỡi, răng ngạc cứng và ngạc
mềm, hàm răng để tạo âm thanh. Khoang mũi tạo ra những âm thanh cơ
bản và sự chuyển động của khoang miệng thấp hơn cũng đóng vai trò
quan trọng. Các âm được phát ra khi dòng không khí được cản, được
phát triển hoặc được định hướng. Chúng ta sẽ xem xét một số đặc điểm
sinh học của các nguyên âm và các phụ âm tại các phần dưới đây.
mô tả mức độ căng cơ.
Theo độ cao của lưỡi và độ hướng về trước hay lùi về sau của
lưỡi, các nguyên âm tiếng Anh được mô tả như sau:
Nguyên âm
trước
Nguyên âm
Nguyên âm sau
giữa (thân lưỡi
(thân lưỡi được kéo về sau)
nằm ở giữa)
Nguyên âm
/iː/ see
/uː/ boot
cao/mở (thân
/ɪ/ sit
/ʊ/ cook
lưỡi được nâng
lên)
Nguyên âm
Theo độ căng lơi của cơ:
Nguyên âm căng (được tạo do cơ căng nhiều): /iː/, /ɔː/, /uː/, /ɜː/,
/ɑː/. Độ dài nguyên âm căng có thể thay đổi và thường dài hơn nguyên
âm lơi.
Nguyên âm giãn (được tạo do cơ căng ít): /ɪ/, /e/, /æ/, /ʊ/, /ɒ/, /ʌ/,
/ə/. Nguyên âm lơi thì luôn luôn ngắn.
2. Nguyên âm đôi (nguyên âm lướt): âm bắt đầu từ một nguyên
âm đơn và chuyển sang một nguyên âm đơn khác, bao gồm:
/ɪə/, /əʊ/, /eə/, /eɪ/, /ɔɪ/, /aɪ/, /əʊ/ & /aʊ/”3
Hai bảng sơ đồ này là sự thể hiện của "không gian nguyên âm" ở
phần trung tâm của miệng mà ở đó các âm nguyên âm được phát âm.
Nghiên cứu âm vị nguyên âm cần chú ý một số thuật ngữ "đóng"
"hơi mở" và “mở” biểu thị cho khoảng cách giữa lưỡi và vòm miệng;
“hàng trước” “hàng giữa” “ hàng sau”… biểu thị vị trí cho một phần
của lưỡi; Vị trí của mỗi một âm vị thể hiện bằng độ cao của lưỡi và
cũng như một phần của lưỡi được nâng lên.
Chẳng hạn, trong tiếng Việt: Nguyên âm /i/ có đặc trưng cấu âm:
đóng, dòng trước, không tròn môi. Nguyên âm / / là nguyên âm đóng,
dòng giữa không tròn môi. Nguyên âm /u/ là nguyên âm đóng, dòng
sau, tròn môi. Nguyên âm /e/ là nguyên âm có độ mở trung bình, dòng
trước, không tròn môi. Nguyên âm / / là nguyên dòng giữa, không
tròn môi, độ mở trung bình rộng hơn / / hẹp hơn /a/. Nguyên âm /ε/
là nguyên âm mở, dòng trước, không tròn môi. Nguyên âm /a/ là
nguyên mở, dòng giữa, không trong môi. Nguyên âm / / là nguyên âm
mở, dòng trước, tròn môi.
Trong tiếng Anh thì nguyên âm /i:/ trong “bead”” là nguyên âm đóng
hàng trước được sản sinh khi mặt trước của lưỡi là bộ phận cao nhất, và
gần với vòm miệng. Nguyên âm /æ/ “hat” là nguyên âm mở hàng trước
được sản sinh khi gốc của lưỡi ở phần cao nhất nhưng bản thân lưỡi ở vị trí
(plosive)
Có một sự đóng kín hoàn toàn được tạo ra ở một số
chỗ trong bộ máy phát âm và ngạc mềm được nâng
lên. Áp suất luồng hơi đóng phía sau lại và được thả
ra theo kiểu bật hơi, tạo ra các âm /p/ và /b/.
Tắc xát
(affricate)
Có một sự đóng kín hoàn toàn được tạo ra ở một số
chỗ trong khoang miệng; ngạc mềm thì được nâng
lên; áp suất luồng hơi đóng phía sau lại và sau đó
được thả ra một cách chậm chạp hơn so với bật hơi,
tạo ra các phụ âm /ʈ/ và //.
Xát (fricative)
Hai bộ phận cấu âm khép chặt lại với nhau. Vì sự
chuyển động của không khí bị giữ lại nên khi phát ra
hơi có thể nghe thấy tiếng, chẳng hạn như khi tạo
âm /f/ và /v/.
23
Mũi (nasal)
Hai môi khi đóng lại, hoặc lưỡi ép vào ngạc và ngạc
mềm thấp xuống, áp Suất luồng hơi thoát qua mũi
tạo ra các âm /m/, /n/.
Sử dụng môi dưới và răng trên ví dụ: /f/;
/v/ (tiếng Việt và tiếng Anh).
Mặt lưỡi đặt sát với lợi, thí dụ /t/, /s/
(tiếng Việt và tiếng Anh).
Mặt trước của lưỡi hoặc đầu lưỡi được
đặt gần sát sau lợi, thí dụ /t∫///.
Mặt của lưỡi được nâng sát vòm miệng
(palate) thí dụ /j/.
Phần sau cña lưỡi được sử dụng gần với
vòm mềm (ngạc mềm), thí dụ /k/ và /ŋ/.
Khe giữa các bộ phận cấu âm được sử
dụng để tạo ra sự cọ xát có thể nghe
được, thí dụ /h/.
Trong tiếng Anh có âm răng được mô tả như sau:
Âm thanh phát ra nhờ chóp lưỡi Sử dụng chóp lưỡi sát với giữa hoặc
sát hoặc chạm vào răng của gần với răng trên, thí dụ /θ/,/ð/.
hàm trên (âm răng - denttal)
24
Ghi âm thanh chữ viết (chuyển mã)
Khi viết tiếng Việt, chúng ta dùng 16 chữ nguyên âm gồm: 13
nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi và 23 âm vị phụ âm.
Trong một số ngôn ngữ, có mối quan hệ một - một giữa chính tả
và phát âm và cũng sẽ có một số ngôn ngữ không có quan hệ một –
một giữa chính tả và phát âm.
Việc thiếu quan hệ một - một giữa cách viết chính tả và phát âm trong
tiếng Việt đặt ra cho người học rất nhiều khó khăn. Những khó khăn mà cá