Dạy học các bài ngữ cảnh và nghĩa của câu cho học sinh lớp 11 theo quan điểm tích hợp - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO
DỤC

NGUYỄN THỊ THU

DẠY HỌC CÁC BÀI „„NGỮ CẢNH" VÀ „„NGHĨA CỦA
CÂU‟‟
CHO HỌC SINH LỚP 11 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ
VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY
HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. Đỗ Việt Hùng


HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt
tới GS. TS Đỗ Việt Hùng - người thầy đáng kính, đã tận tình hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐH Giáo Dục - Đại
học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường THPT
Yên Phong số 1, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ
tôi trong thời gian làm luận văn.

: Phương pháp

PPDH

: Phương pháp dạy học

THCS

: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

VH

: Văn học

i
i


MỤC LỤC
Lời cảm ơn ......................................................................................................... i
Danh muc cchữ viết tắt ....................................................................................... ii
Mục lục............................................................................................................. iii
Danh muc cbảng.................................................................................................. v
Danh muc c biểu đồ ............................................................................................ vi
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.....................................

2.3.4. Tích hợp trong kiểm tra đánh giá.......................................................... 66
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 72
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ...............................................
73
3.1. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm......................................................... 73
3.2. Đối tượng, địa bàn thực nghiệm............................................................... 74
3.3. Quy trình thực nghiệm ............................................................................. 74
3.3.1. Nội dung thực nghiệm........................................................................... 74
3.3.2. Cách thức tiến hành............................................................................... 74
3.3.3. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 85
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ............................................................... 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 93
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 95

iv


DANH MUC BẢNG
Bảng: 1.1. Đanh giá của giao viên Ng ữ văn THPT về m ức đô c cần thiết của
viêc c vâṇ dung quan điểm tich hợp vao daỵ hoc c .............................................
22
Bảng: 1.2. Mức đô c th ường xuyên vâṇ dung quan điểm tich h ợp vao daỵ hoc c
Ngữ văn của GV THPT .................................................................................. 24
Bảng: 1.3. Nguồn cung cấp tri thức về tích hợp cho GV THPT.................... 25
Bảng: 1.4. Ứng dung quan điểm tích h ợp trong sáng kiến kinh nghiêm của
GV Ngữ văn THPT ........................................................................................ 26
Bảng: 1.5. Mức độ vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học các bài "Ngữ
cảnh" và "Nghĩa của câu" .................................................................... 29 Bảng:
1.6. Mức độ cần thiết của việc vận dụng tích hợp vào dạy học các bài "Ngữ

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Trong những năm qua, ngành giáo dục đã có nhiều cải cách quan trọng
từ giáo dục ở bậc tiểu học cho đến đào tạo đại học và sau đại học. Riêng ở
phổ thông, sự đổi mới thể hiện trên nhiều phương diện, rõ nhất là về chương
trình, sách giáo khoa và đặc biệt là phương pháp dạy học. Mục đích của việc
đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học
truyền thụ một chiều sang dạy học theo "phương pháp dạy học tích cực"
nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn
luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến
thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn, tạo niềm tin,
niềm vui hứng thú trong học tập. Chương trình THPT môn Ngữ văn năm
2002 do Bộ giáo dục và Đào tạo dự thảo đã ghi rõ: "Lấy quan điểm tích hợp
làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo
khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy (Bộ GD và ĐT), "nguyên tắc
tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học từ Đọc văn, Tiếng Việt
đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt
trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích cực trong chương trình; tích hợp
trong sách giáo khoa; tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và
tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trong các sách đọc
thêm, sách tham khảo" (Bộ GD và ĐT). Thực hiện đổi mới giáo dục, đặc biệt là
đổi mới về phương pháp dạy học theo hướng tích hợp nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục. Tích hợp trong dạy học Tiếng Việt là một phương pháp góp
phần đổi mới phương pháp dạy học nói chung và nâng cao chất lượng dạy học
Ngữ văn nói riêng.

1


1.2. Xuất phát từ vai trò của phân môn Tiếng Việt trong nhà trường

giáo dục. Trước đây, ba phân môn: Văn học, tiếng Việt, làm Văn tách biệt
nhau, không gắn bó với nhau trong một chỉnh thể, không hỗ trợ nhau nhằm tạo
ra kết quả thống nhất. Việc biên soạn chương trình mới đã góp phần rất lớn
trong việc thực hiện quan điểm tích hợp, hỗ trợ lần nhau giữa các phân môn.
Tiếng Việt đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành, rèn luyện ngôn ngữ,
lĩnh hội và tạo lập văn bản. Nói cách khác, có thể coi tiếng Việt là nền tảng của
văn học và làm văn, làm văn là thực hành của tiếng Việt, phần Văn học là tinh
hoa của tiếng Việt do các bậc thầy văn chương thực hiện.
Theo tác giả Nguyễn Tú trong Một số vấn đề về đổi mới dạy học văn tiếng Việt thì "dạy văn thực chất là dạy cho HS phương pháp đọc văn. […]
Để dạy và học đọc văn, không chỉ dựa vào những kiến thức lịch sử với lí luận
văn học mà còn phải trang bị cho HS các kiến thức Việt ngữ với tất cả các
đơn vị và cấp độ ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, đoạn văn, văn
bản. Chính những đơn vị ngôn ngữ này tạo nên thế giới hình tượng của tác
phẩm văn học" [23, Tr. 24].
Như vậy việc dạy tiếng Việt theo chương trình và quan điểm mới của
Bộ giáo dục và Đào tạo không chỉ góp phần quan trọng trong việc hướng dẫn
học sinh đọc tìm hiểu các tác phẩm văn học mà hơn thế nó còn có ý nghĩa
quan trọng trong quá trình giao tiếp, phát triển ngôn ngữ của các em.
1.3. Xuất phát từ vai trò của Ngữ cảnh và nghĩa trong học tập, đời sống
Trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ, điều kiện mang tính tiên
quyết nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp là người phát phải sử dụng ngôn ngữ để
truyền tải đầy đủ nội dung giao tiếp, người nhận phải lĩnh hội trọn vẹn nội dung
mà người phát đã phát. Muốn như thế, cả người phát và người nhận đồng thời
phải nắm chắc, hiểu rõ, hiểu đầy đủ về ngữ cảnh cũng như nghĩa của văn bản,
phát ngôn được phát ra.
Trong phân tích văn bản, diễn ngôn, ngữ cảnh quy định đến việc xác
định cái được nói ra. Song nghĩa của phát ngôn lại vượt ra ngoài những gì
thực tế được nói ra (Nó bao gồm cả nghĩa tường minh và nghĩa hàm ý). Vì
3


pháp dạy học của giáo viên; tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh và
tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo. Đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu, giáo trình, tài liệu nghiên cứu về vấn đề này. Có thể kể đến
6


như: Giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt của Nguyễn Thanh Hùng nêu
lên các phương diện tích hợp và nguyên tắc tích hợp trong dạy học Ngữ văn;
Tác giả Đoàn Thị Kim Nhung trong Phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường
THCS đã đưa ra cơ sở lý luận để áp dụng tích hợp vào dạy học Ngữ văn và
phương pháp dạy Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn theo hướng tích hợp.
Trong bộ sách Thiết kế dạy học Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp; Bài tập
rèn luyện kĩ năng tích hợp Ngữ văn THCS của Trương Dĩnh đã nêu lên những
phương diện tích hợp trong dạy học Ngữ văn, năng lực tích hợp, kiểu văn bản
tích hợp, phương pháp tích hợp, tích hợp và hiệu quả dạy học tích hợp. Ngoài
ra còn có rất nhiều bài viết của các tác giả như Trần Bá Hoành, Đỗ Chu Ngọc,
Nguyễn Khắc Phi, Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử trên các báo và tạp chí, ở
đó các tác giả đã trình bày các quan niệm về tích hợp, các hướng tích hợp
trong chương trình và SGK Ngữ văn về việc triển khai các nội dung dạy học
theo quan điểm tích hợp. Đây là những gợi ý rất tốt để triển khai những
nghiên cứu cụ thể cho các phương diện của để tài.
2.2. Những nghiên cứu về việc dạy học Tiếng Việt ở trường phổ thông
Chương trình giáo dục THPT hiện hành đã tích hợp ba phân môn: văn
học, làm văn và tiếng Việt trước đây thành bộ môn duy nhất: Ngữ văn. Trên
quan điểm dạy học tích hợp ở ba phân môn này, nhiều công trình nghiên cứu
về phương pháp dạy học tích hợp bộ môn Ngữ văn nói chung và phương pháp
dạy học tiếng Việt nói riêng ở nhà trường phổ thông đã có những thành tựu
đáng kể.
Trước tiên phải kể đến một số công trình như: Dạy học ngữ pháp ở tiểu
học của tác giả Lê Phương Nga; Phương pháp dạy học tiếng Việt (2 tập) do

"hình thành và rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng các đơn vị ngôn
ngữ trong câu tiếng Việt trong nói cũng như viết theo một kiểu văn bản nào
đó". Tác giả nhấn mạnh nguyên tắc tích hợp trong giờ dạy học tiếng Việt thể
hiện ở chỗ "khi cung cấp tri thức về một đơn vị ngôn ngữ nào đó, người giáo
viên luôn hướng học sinh liên hệ với các tác phẩm văn học đã và đang học, đặt
đơn vị đó, yếu tố tiếng Việt đó trong văn cảnh cụ thể của tác

8


phẩm, vận dụng một cách thành thạo để nghe hiểu, đọc hiểu, nói đúng và viết
đúng" [16;Tr.134]…
Như vậy, qua các công trình và tài liệu nghiên cứu về dạy học tích hợp
nói chung và phương pháp dạy học tiếng Việt nói riêng, có thể thấy các tác
giả đã chú ý phân tích về vai trò, nguyên tắc và phương pháp dạy học tích hợp
cũng như dạy học tiếng Việt. Nhưng vấn đề vận dụng vận dụng quan điểm
tích hợp để dạy học tiếng Việt, đặc biệt là dạy học về Ngữ cảnh và nghĩa của
câu giúp học sinh hình thành một vốn kiến thức để có thể lĩnh hội, đọc hiểu các
tác phẩm văn chương trong nhà trường và vận dụng vào thực tế cuộc sống thì
chưa có tài liệu nào chuyên sâu.
Trong luận văn này, chúng tôi kế thừa những kết quả nghiên cứu nói
trên và đưa ra một số giải pháp cho việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy
học bài "Ngữ cảnh và Nghĩa của câu" ở khối 11 trường THPT.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết tích hợp và tìm hiểu, đánh giá thực
trạng dạy học bài Ngữ cảnh, Nghĩa của câu ở khối 11 trường THPT theo quan
điểm tích hợp, luận văn đề xuất một số biện pháp dạy học bài Ngữ cảnh,
Nghĩa của câu ở khối 11 trường THPT theo quan điểm tích hợp góp phần giúp
giáo viên có được những định hướng cần thiết để triển khai giờ học có hiệu
quả, đáp ứng được những yêu cầu tích hợp của chương trình và SGK. Đồng

+ Phương pháp quan sát, dự giờ
+Phương pháp điều tra, khảo sát những tài liệu thu thập được cũng như những
kết quả thu nhận qua hồi cứu tài liệu về thực trạng dạy học đoạn trích. Trên cơ
sở những dữ liệu có được khóa luận sử dụng các phương pháp thống kê, phân
loại, so sánh để nhận xét.
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm để khẳng định giá trị và khả năng thực
thi của một công trình nghiên cứu lí luận cần phải đưa vào thực tiễn để kiểm
chứng hiệu quả. Với một đề tài khoa học về giáo dục, thực nghiệm là khâu rất
quan trọng trong quy trình. 7. Giả thuyết nghiên cứu

10


Nếu vận dụng có hiệu quả quan điểm tích hợp vào dạy học các bài
"Ngữ cảnh và Nghĩa của câu" sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của
tiết học nói riêng, khả năng lĩnh hội, cảm thụ tác phẩm văn học, khả năng giao tiếp
ngoài thực tế cuộc sống của học sinh nói chung.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học các bài Ngữ
cành và Nghĩa của câu ở khối 11 trường THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

11


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận

một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực
tiễn được đề cập trong các môn học đó.
- Theo Nguyễn Thanh Hùng [15] thì: Tích hợp là quan điểm hòa nhập,
được hình thành từ sự nhất thể hóa những khả năng, một sự quy tụ tối đa tất cả
những đặc trưng chung vào một chỉnh thể duy nhất.
Dạy học tích hợp các khoa học được UNESCO định nghĩa là một cách
trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống
nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm giữa
các lĩnh vực khoa học khác nhau. Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận
khái niệm và nguyên lí khoa học chứ không phải là hợp nhất nội dung.
Quan điểm tich hơp trong daỵ hoc c thường đươc thể hiê c
cạnh sau:
- Tích hợp nhiều kĩ năng trong một môn học.

n ở cac khia

- Tích hợp kiến thức các môn học khác nhau qua môn học đang dạy Tích hợp chương trình chính khóa và ngoại khóa. - Tích hợp kiến
thức lí thuyết và thực tiễn.
- Tích hợp những kiến thức , kĩ năng, thái độ cần được dạy trong tất cả
các môn học, bao gồm khả năng sử dung ngôn ngữ, tình cảm với gia đình, quê
hương, đất nước, những hiểu biết cơ bản về môi trường , khoa hoc ,c năng lưc
suy nghĩvànăng lưc tìm tòi, nghiên cứu…
Với những khía caṇ h trên , dạy học tích hợp là hoạt động dạy học đòi
hỏi nhiều sự đầu tư của GV cho mỗi bài dạy

, không chỉvềkiến thức , về

phương pháp màcòn cảvềho ạt động tìm hiểu HS . GV cần biết HS đãđươc
trang bi cnhững kiến thức gì trước khi hoc môṭ
c bài cu c thể, HS cần đươc hoc cái

quan sat, phân tich, nêu nhâṇ xet…và nhiều kĩ năng như: cách ửng xử khi làm
viêc với
c tâp cthể, cách tranh luận, bày tỏ ý kiến, huy đông kiến thức đã biết về
môn hoc hoăc
những
kiến thức có liên quan đểgiai quyết vấn đề…Còn GV có
c
c
vai trò là người hướng dẫn , điều chinh, nhâṇ xet để giúp HS nhâṇ ra vấn đề
(về kiến thức , về cach thức lam viêc ,c về thai đô c cần có khi tham gia thao
luâṇ …).
Thêm vao đó , trong quá trinh hoc c, HS cần đươc ren luyêṇ phat triển
c̣̀
năng lưc tư duy đểluôn biết cách đăṭra vàtìm câu trảlời cho các tình huống
nảy sinh như : Tại sao? Như thế nào? Có tác dụng gì? Nó có những biểu hiện
như thế nào trong thực tế ?...Nhu cầu về viêc mở
c rông kiến thức sẽ tự đến với
HS qua các câu hỏi đó . Vì vậy, HS vừa đươc hoc cách
suy nghĩ, vừa đươc
c
trang bi cthêm môṭ kiến thức mới và đồng thời cảm thấy hứng thú

, có thể tự

mình tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về kiến thức ấy.
Như vậy, trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các đối
tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự
thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học
tốt nhất. Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác
động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh


15


tình huống, còn quan điểm xuyên môn lại tìm cách phát triển ở học sinh
những kĩ năng có thể áp dụng ở mọi nơi.
Theo Xavier Roegiers, có 4 cách tích hợp môn học:
+ Cách 1: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở
cuối năm học hay cuối cấp học.
Ví dụ các môn Văn - Sử - Địa vẫn được dạy riêng rẽ nhưng ở thời điểm
cuối năm học hay cuối cấp học có những chương/ phần nói về những vấn đề
chung của các môn học xã hội, học sinh được đánh giá bằng một bài thi kiến
thức.
+ Cách 2: Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực
hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học,
Ví dụ: Các môn Lý, Hóa, Sinh vẫn được giảng dạy riêng rẽ do từng
giáo viên đảm nhận. Tuy nhiên, các nhà giáo dục sẽ bố trí xen một số chương
trình tích hợp liên môn vào chỗ thích hợp để học sinh quen với việc sử dụng
kiến thức của những môn học gần gũi nhau.
+ Cách 3: Phối hợp quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau
bằng những đề tài tích hợp. Cách này áp dụng cho các môn học gần nhau về
bản chất, mục tiêu hoặc những môn đóng góp, bổ sung cho nhau, thường dựa
vào các môn học công cụ. Cách tích hợp này có giá trị chủ yếu ở tiểu học, ở
đó, những vấn đề cần xử lí là những vấn đề đơn giản, có giới hạn.
Ví dụ: bài Tập đọc tích hợp các kiến thức về lịch sử, địa lý, khoa học,
văn học, giáo dục nhân cách.
+ Cách 4: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng
các tình huống tích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm
môn, tạo thành môn học tích hợp. Cách tích hợp này được tiến hành trên cơ
sở đề xuất các mục tiêu chung cho nhiều môn học. Những mục tiêu này gọi là

chỉ đạo, tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa đòi hỏi giáo
viên phải có những thay đổi về hình thức và phương pháp dạy học. Trong thời
gian qua, nhiều thầy cô giáo đã quá quen với lối giảng dạy tách rời Văn, Tiếng
Việt, Làm văn theo từng giờ và từng cuốn sách riêng biệt. Yêu cầu đổi mới hiện
nay là phải dạy ba phần Văn, Tiếng Việt, Làm văn như một thể

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status