LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này tôi không khỏi lúng
túng và bỡ ngỡ. Nhưng dưới sự giúp đỡ tận tình của cô giáo TS. Phạm Thị
Hòa, tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài Tích cực hóa
vốn từ cho học sinh lớp 4 theo quan điểm giao tiếp. Tôi xin chân thành cảm ơn
sự giúp đỡ nhiệt tình của cô.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa Giáo dục
Tiểu học, các thầy cô trong khoa Ngữ văn và các thầy cô giáo trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2, cùng các thầy cô giáo và học sinh trường Tiểu học Trưng Nhị Phúc Yên đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2013
Tác giả
Đinh Thị Phương Thảo
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
căn cứ, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực.
Đề tài chưa được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác.
Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2013
Tác giả
Đinh Thị Phương Thảo
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
TT
SGV
Sách giáo viên
6
tr
trang
7
TV
Tiếng Việt
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................ 1
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI .................................................................................... 1
II. LỊCH SỬ VẦN ĐỀ........................................................................................ 2
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU .............................................. 4
IV. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ........................................................................ 4
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.......................................................................... 4
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................ 5
NỘI DUNG ........................................................................................................ 6
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ THUYẾT.................................................................... 6
1.1 Cở sở ngôn ngữ học...................................................................................... 6
1.1.1 Ngôn ngữ là một hệ thống. ........................................................................ 6
2.3. Dạy học sinh sử dụng từ ngữ theo quan điểm giao tiếp.............................. 31
2.3.1 Điền khuyết thông tin .............................................................................. 31
2.3.2 Thu thập và xử lí thông tin ...................................................................... 33
2.3.3 Chuyển đổi thông tin ............................................................................... 35
2.3.4. Trò chơi .................................................................................................. 36
2.3.5. Thuyết trình – tranh luận ........................................................................ 38
KẾT LUẬN...................................................................................................... 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 45
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Từ có vai trò rất quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ. Việc dạy từ ngữ
ở tiểu học sẽ tạo cho học sinh có năng lực từ ngữ, giúp cho HS nắm được tiếng
mẹ đẻ, có phương tiện giao tiếp để phát triển toàn diện. Vốn từ của HS càng
giàu bao nhiêu thì khả năng sử dụng từ càng lớn, càng chính xác, hoạt động giao
tiếp sẽ thể hiện rõ ràng và nhạy bén bấy nhiêu.Việc tích cực hóa vốn từ cho HS
Tiểu học nói chung và HS lớp 4 nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi vì,
từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ, không có một vốn từ đầy đủ thì không nắm
được ngôn ngữ - một phương tiện giao tiếp. Việc học từ ngữ ở tiểu học sẽ tạo
cho HS năng lực tư duy, giúp HS nắm vững tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện để học
tiếp thu kiến thức và phát triển toàn diện. Hiện nay chương trình Tiếng Việt cấp
Tiểu học đang nhấn mạnh vào định hướng: dạy học Tiếng Việt thông qua hoạt
động giao tiếp.Trong dạy học Tiếng Việt, giao tiếp là mục đích của việc dạy
học, là nguyên tắc chỉ đạo việc dạy học, đồng thời là phương pháp, phương tiện
để tổ chức các hoạt động học tập của HS. Dạy học Tiếng Việt theo định hướng
giao tiếp vừa hướng dẫn HS nắm được những kiến thức lí thuyết về tiếng Việt
vừa chú ý đến rèn luyện phát triển bốn kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết)
trong các hoạt động giao tiếp cụ thể. Dạy học theo định hướng giao tiếp sẽ tạo
được các tình huống giao tiếp khác nhau để kích thích động cơ và nhu cầu giao
- 1981, Nguyễn Xuân Khoa “ Phát biểu năng lực hoạt động ngôn ngữ
trong việc dạy tiếng Việt ở nhà trường ” đã chỉ rõ năng lực hoạt động lời nói bao
gồm năng lực lĩnh hội ( nghe, đọc ) và sản sinh lời nói ( nói, viết ). Việc cung
cấp tri thức ngôn ngữ học và thực hành tri thức này chưa làm phát triển năng lực
ngôn ngữ. Hoạt động lời nói chịu sự chi phối của nhiều nhân tố : trong ngôn
ngữ, ngoài ngôn ngữ, chủ quan, khách quan mà quy tắc cấu trúc nội bộ chỉ là
một yếu tố.
2
- 1992, Bùi Minh Toán “ Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt
” – Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 11/ 1992, đưa ra yêu cầu của việc dạy tiếng
Việt theo quan điểm giao tiếp cho HS nhằm cung cấp cho HS tri thức tiếng Việt,
các quy tắc hoạt động sử dụng ngôn ngữ, các kĩ năng trong việc rèn luyện năng
lực sử dụng ngôn ngữ (lĩnh hội, sản sinh lời nói ).
- 2000, Lê A “ Đổi mới phương pháp dạy học tiếng Việt ở trường phổ
thông ” – NXB Giáo dục, quan tâm đến vấn đề : dạy ngôn ngữ khi nó thực hiện
chức năng giao tiếp.
- 2009, Nguyễn Trí “ Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt theo quan điểm
giao tiếp ở Tiểu học ” – NXB Giáo dục Hà Nội, ông đã giới thiệu, xem xét các
chương trình dạy học tiếng mẹ đẻ của nhiều nước trên thế giới dưới góc độ giao
tiếp.
- 2009, Hoàng Anh “ Hoạt động giao tiếp nhân cách ”- NXB Đại học Sư
phạm, đã đề cập đến phạm trù giao tiếp trong tâm lí học.
- 2011, Phan Phương Dung, Đặng Kim Nga “ Hoạt động giao tiếp với dạy
học Tiếng Việt ở Tiểu học ” – NXB Đại học Sư phạm, chú ý đến hoạt động giao
tiếp với dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.
Hướng nghiên cứu thứ hai : dạy phân môn Luyện từ và câu theo quan
điểm giao tiếp.
Do điều kiện và năng lực có hạn nên tôi cũng giới hạn nghiên cứu trên đối
tượng HS lớp 4 trường Tiểu học Trưng Nhị - nơi tôi thực tập giảng dạy trong
thời gian làm đề tài.
IV. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tích cực hóa vốn từ cho HS theo quan
điểm giao tiếp.
- Đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học của Bộ giáo dục và đào
tạo: khẳng định việc dạy học tích cực, HS phải sáng tạo trong giáo dục hiện nay.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu được những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài.
4
- Tìm ra biện pháp tích cực hóa vốn từ cho HS lớp 4 theo quan điểm giao
tiếp.
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp tổng hợp lí thuyết.
- Phương pháp điều tra, khảo sát.
- Phương pháp phân tích thống kê.
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ.
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Cở sở ngôn ngữ học.
1.1.1 Ngôn ngữ là một hệ thống.
1.1.1.1 Khái quát về hệ thống ngôn ngữ.
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới quanh con người không tồn tại trong
nào có thể tồn tại một cách biệt lập, đơn lẻ, không có quan hệ gì với hệ thống.
Nguyên tắc hệ thống được bộc lộ và thực hiện trong nhiều hoạt động dạy
– học Tiếng Việt. Ở cấp độ ngữ âm ( và chữ viết ) có hoạt động chính âm và
chính tả. Thật ra không thể dạy từng trường hợp chính âm và chính tả. Cũng
không thể rèn luyện chính âm và chính tả theo kinh nghiệm. Có thể dựa vào
những mối quan hệ hệ thống và các quy luật âm thanh để đúc rút thành các quy
tắc chính tả ( mẹo chính tả ). Các quy tắc này bao trùm một phạm vi khá rộng,
do đó có thể có hiệu quả khá lớn. Trong việc dạy từ ngữ có hàng loạt hoạt động
cần dựa vào nguyên tắc hệ thống. Trước hết là hoạt động MRVT ( phát triển số
lượng từ ngữ ). Như đã biết, số lượng từ trong một ngôn ngữ là vô cùng lớn.
Không thể dạy và học từng từ một. Cần phải MRVT theo mối quan hệ hệ thống
và tạo ra năng lực phát triển vốn từ theo những mối quan hệ hệ thống. Cũng
trong việc dạy – học từ ngữ, GV thường xuyên cần tiến hành giải nghĩa từ ( tức
xác định nghĩa của từ ) trong hệ thống và trong hoạt động giao tiếp cụ thể.. Đặc
biệt nguyên tắc hệ thống đòi hỏi hoạt động dạy HS sử dụng từ ngữ cần chú ý đạt
từ trong các mối quan hệ hệ thống của nó. Trong việc xác định nghĩa của từ gốc,
nghĩa đen của một từ nào đó, cần đặt từ đó trong quan hệ với các từ gần nghĩa
đồng nghĩa hoặc trường nghĩa rồi đối chiếu so sánh các nét nghĩa của chúng để
rút ra nét nghĩa đồng nhất và đối lập. Có như thế việc xác định nghĩa mới đạt
được sự chính xác. Khi xác định nghĩa phát sinh, nghĩa chuyển đổi ( hay nghĩa
bóng ) của từ, cần dựa vào mối quan hệ với nghĩa gốc để phát hiện ra nghĩa cốt
7
lõi mà từ đã duy trì khi phát triển nghĩa. Đó là việc làm căn cứ vào quan hệ hệ
thống giữa các nghĩa của từ nhiều nghĩa. Sự giải thích nghĩa như thế có cơ sở và
có sức thuyết phục. Trong hoạt động ngôn ngữ, con người cần thường xuyên
tiến hành tháo tác lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ để tạo lập ngôn bản. Sự lựa
chọn chỉ có thể diễn ra khi có nhiều yếu tố cùng một loại ( một hệ thống ). Trong
sự lựa chọn, người nói ( hay người viết ) phải thực hiện các thao tác đối chiếu so
thực hiện chương trình học tập, nhằm giúp người học thụ đắc năng lực này một
cách nhanh chóng và bền vững.
Một hoạt động giao tiếp được hình thành bởi những nhân tố: nội dung giao
tiếp, nhân vật giao tiếp, hình thức giao tiếp, phương tiện giao tiếp, kênh giao tiếp
và hoàn cảnh giao tiếp… các nhân tố này có mối quan hệ hữu cơ với nhau cùng
hướng tới mục đích giao tiếp. Có thể khái quát bằng sơ đồ sau:
Kênh giao tiếp
Người phát
Người dùng
Người
Mục
giao tiếp
nhận
đích
giao tiếp
Phương tiện
giao dịch
a. Nhân vật giao tiếp
Đó là những người tham gia giao tiếp, gồm người phát (người nói/người
viết) và người nhận (người nghe/người đọc). Những người tham gia giao tiếp
tuy vẫn mang theo những kinh nghiệm riêng của mình về thế giới, những niêm
kênh viết- đọc thông qua chữ viết…
d. Hoàn cảnh giao tiếp
10
Giao tiếp bao giờ cũng diễn ra trong một hoàn cảnh nào đó. Hoàn cảnh
giao tiếp để nhận biết nhất là thời điểm cụ thể, không gian cụ thể của một cuộc
giao tiếp cụ thể. Ví dụ, hoàn cảnh giao tiếp của hai HS trong lớp hoàn toàn khác
với hoàn cảnh giao tiếp của hai HS đó trong giờ giải lao.
Hoàn cảnh giao tiếp cũng bao gồm cả những hiểu biết của người tham gia
giao tiếp, đó là những hiểu biết về thế giới tự nhiên, về xã hội, về sinh lí, tâm lí,
văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, những quy định thành văn và bất thành văn,…gắn
với môi trường xã hội của sự giao tiếp: môi trường giao tiếp có tính chất lễ nghi,
trang trọng và môi trường gia đình không có tính chất lễ nghi, thân tình.
e. Đích của giao tiếp:
Căn cứ vào mục đích giao tiếp có giao tiếp công việc, giao tiếp nhân cách,
giao tiếp nhận thức. Giao tiếp công việc là loại giao tiếp trong đó người ta hợp
tác với nhau cùng tham gia vào một công việc gì đó nhằm đạt tới mục đích
chung…giao tiếp nhân cách là loại giao tiếp trong đó con người tiếp xúc với
nhau với tư cách là những nhân cách, đánh giá lẫn nhau trên cương vị là những
thành viên xã hội theo quy tắc, luật lệ, phong tục, tập quán của xã hội, còn lại
giao tiếp mà ở đó con người tìm hiểu lẫn nhau và tìm hiểu thế giới bên ngoài là
giao tiếp nhận thức.
Quan điểm dạy giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung
và phương pháp dạy học.
Về nội dung, quan điểm giao tiếp chi phối quá trình biên soạn nội dung
chương trình và SGK Tiếng Việt. Thông qua các phân môn, SGK tạo ra những
môi trường giao tiếp có chọn lọc để HS MRVT theo định hướng, trang bị những
kiến thức nền và phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp.
Về phương pháp dạy học, các kĩ năng nói trên được dạy thông qua hệ thống
năng, tới mức tự động hóa, như một hành động vô thức. Chỉ khi nào chủ thể nói
năng “cảm thấy” có sự tương ứng giữa ý nghĩ và từ ngữ, giữa ý và lời, thì thao
tác lựa chọn – thay thế mới dừng lại. Thường khi chủ thể nói năng đã ý thức
được một cách rõ ràng, thấu đáo cụ thể về điều mình muốn diễn tả thì cũng dễ
12
dàng tìm được những từ ngữ thích hợp, thỏa đáng để thực hiện hóa những ý định
diễn tả ấy. Sau thao tác lựa chọn từ ngữ là thao tác kết hợp từ ngữ (cũng có thể
hiểu là hai thao tác này diễn ra song song, đồng thời ) để tạo thành các đơn vị
ngôn ngữ lớn hơn ( cụm từ, câu và các đơn vị trên câu ). Sự kết hợp các từ ở đây
cũng bị quy định bởi những quy tắc nhất định của ngôn ngữ ( ví dụ,các từ kết
hợp với nhau phải có sự tương hợp về ý nghĩa, phù hợp về quan hệ ngữ pháp…).
Tóm lại, lựa chọn và kết hợp từ ngữ để tạo ra những sản phẩm lời nói đúng đắn
và biểu cảm – đó là hai thao tác cơ bản, trọng yếu của hoạt động sử dụng từ ngữ.
Từ hiểu biết về quan điểm tích cực hóa vốn từ như trên, trong khóa luận
này chúng tôi cho rằng để giúp HS tích cực hóa vốn từ trong môi trường giao
tiếp của lứa tuổi, GV cần phong phú hóa, hệ thống hoá vốn từ cho các em đồng
thời chính xác hóa vốn từ cho các em trước khi yêu cầu các em tích cực hóa vốn
từ ấy trong hoạt động giao tiếp.
Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực.
a. Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động
"dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt
động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những
điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo
viên sắp đặt. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học
trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách
suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được
phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu
càng lớn. Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ
đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi
HS.
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều
được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường
giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên
14
con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong
tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người
học nâng mình lên
một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm
sống của người thầy giáo.
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm,
tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác
trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất
là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối
hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo
nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành
viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương
trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các
thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia,
liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà
trường phải chuẩn bị cho HS.
d. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực
trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận
định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Việt 4 không trình bày kiến thức như là những kết quả có sẵn mà xây dựng hệ
thống câu hỏi, bài tập hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động nhằm chiếm lĩnh
kiến thức và phát triển kĩ năng sử dụng tiếng Việt; SGV Tiếng Việt 4 hướng dẫn
thầy, cô cách thức cụ thể tổ chức các hoạt động này.
1.2. Cơ sở tâm lí
Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi
Tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt
16
động vui chơi sang hoạt động học tập. Tuy nhiên, song song với hoạt động học
tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:
+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật
sang các trò chơi vận động.
+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân
và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,...Ngoài ra, trẻ còn còn
tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,...
+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của
trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,...
1.2.1 Tư duy của học sinh tiểu học
Ở độ tuổi 9 – 10 tư duy của các em mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm
ưu thế ở tư duy trực quan hành động.
Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng
khái quát.
Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết
khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ
đẳng ở phần đông HS Tiểu học.
1.2.2 Tưởng tượng của học sinh tiểu học
Tưởng tượng của HS Tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm
của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện
tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng,....đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe
hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách
viết nhật kí,...Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và
đa dạng.
18
CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP TÍCH CỰC HÓA VỐN TỪ CHO
HỌC SINH THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
Tích cực hóa vốn từ cho HS nghĩa là giúp HS sử dụng từ thích ứng trong
mọi hoàn cảnh giao tiếp. HStrước hết phải được phong phú hóa vốn từ; các em
hiểu được chính xác nghĩa của từ mình đã có để từ đó sử dụng đúng. Vì vậy
trước khi đưa ra các biện pháp dạy HS sử dụng từ trong các hoàn cảnh giao tiếp
cụ thể biện pháp tích cực hóa vốn từ đầu tiên chúng tôi thấy cần thiết phải cung
cấp cho HS đó là MRVT. Thông qua hoạt động MRVT (ở tất cả các phân môn
nhưng tập trung nhất là Luyện từ là câu ) HS được :
+ Cung cấp thêm các từ ngữ mới theo chủ điểm, học nghĩa của yếu tố Hán
Việt;
+ Rèn luyện khả năng huy động vốn từ theo chủ điểm;
2.1. Phong phú hóa vốn từ cho học sinh theo quan điểm giao tiếp
Vốn từ phong phú là yếu tố quan trọng để giúp HS có thể tham gia vào
các hoạt động giao tiếp ngôn từ một cách có hiệu quả. Một trong những nhiệm
vụ quan trọng của nhà trường là đào tạo con người phát triển toàn diện, hoàn
thiện năng lực ngôn ngữ cho HS, bao gồm cả việc làm giàu vốn từ tiếng mẹ đẻ
cho các em.
Để làm giàu vốn từ cho HS, trước hết chúng ta phải tìm hiểu các khả năng
tiếp nhận từ ngữ của mỗi HS. Mỗi em có một khả năng tiếp nhận một số lượng
từ nhất định.
a, Từ láy có hai tiếng giống nhau ở âm đầu.
b, Từ láy có hai tiếng giống nhau ở vần.
c, Từ láy có hai tiếng giống nhau ở cả âm đầu và vần.
* Cung cấp cho HS một tiếng có nghĩa ( một hình vị ), yêu cầu HS tìm các
từ có chứa tiếng đó.
Ví dụ :
Tìm các từ :
a, Chứa tiếng hiền. M : dịu hiền, hiền lành.
20