Tổ chức các hoạt động dạy học toán lớp 4 theo mô hình trường tiểu học mới (vnen) - Pdf 31

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
------------

ĐOÀN THỊ HUỲNH HẠNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC HỌC

VINH, 2014


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
------------

ĐOÀN THỊ HUỲNH HẠNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc tiểu học)
Mã số: 60.14.01.01
Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHAN QUỐC LÂM

VINH, 2014

LỜI CẢM ƠN


Trang phụ bìa
Trang
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các sơ đồ, các bảng
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
NỘI DUNG .................................................................................................... 7
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ......................................... 7
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................... 7
1.2. Các khái niệm cơ bản ............................................................................. 11
1.3. Một số vấn đề về dạy học toán lớp 4 ................................................... 17
1.4. Một số vấn đề về tổ chức dạy học theo chương trình tiểu học mới .......19
1.4.1. Mục tiêu của mô hình trường tiểu học mới (VNEN)............... 19
1.4.2. Đặc điểm của mô hình trường tiểu học mới (VNEN)............

20

1.4.3. Các bước tổ chức dạy học của mô hình trường tiểu học mới
(VNEN) .............................................................................................21
1.4.4. Một số yêu cầu ........................................................................ 24
1.4.5. Các yếu tố ảnh hưởng hoạt động dạy học.............................. 25
1.5. Một số vấn đề về học sinh lớp 4 ............................................................ 26
1.6. Định hướng tổ chức hoạt động dạy toán điển hình lớp 4 theo mô hình
trường học mới VNEN ................................................................................ 29
1.6.1. Mục đích của việc tổ chức hoạt động dạy học toán điển hình lớp
4 theo mô hình VNEN ......................................................................29
1.6.2. Tổ chức các hoạt động dạy toán điển hình lớp 4 theo mô hình
VNEN .............................................................................................. 30

3.4. Kết quả thực nghiệm và phân tích kết quả .......................................... 85


6

3.5. Kết luận chung về thực nghiệm ........................................................... 99
Kết luận chương 3 ........................................................................................100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................. 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 104
PHỤ LỤC ................................................................................................... 108

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


7

BT:

Bài tập

DH:

Dạy học

GV:

Giáo viên

HS:


30

1.2

mô hình VNEN trong môn Toán điển hình lớp 4.
Mức độ, hiệu quả GV thực hiện DH theo mô hình

31

1.3

VNEN trong môn Toán điển hình lớp 4.
Cách thức GV tổ chức luyện tập nội dung toán điển

31

1.4

hình
Những khó khăn của GV khi tổ chức luyện tập nội

35

1.5
1.6

dung toán điển hình theo mô hình VNEN
Hứng thú của HS khi học chủ đề toánn điển hình
Đánh giá của HS về các bài học thuộc chủ đề toán


Bảng

0
1.11 Thực trạng về kiến thức, kĩ năng làm bài toán ĐH

39

3.1
3.2
3.1

của HS
Kết quả điểm số đầu vào của HS
Kết quả xếp loại học lực đầu vào của HS
Biểu đồ biểu diễn kết quả xếp loại học lực đầu vào

81
82
83

3.3
3.4
3.2

của HS
Kết quả điểm số bài thực nghiệm 1 của HS
Kết quả xếp loại học lực bài thực nghiệm 1 của HS
Biểu đồ biểu diễn kết quả xếp loại học lực bài thực

83

Bảng
Bảng
Biểu đồ


9

Bảng
Bảng
Biểu đồ

3.7
3.8
3.3

nghiệm 2 của HS
Kết quả điểm số bài thực nghiệm 3 của HS
Kết quả xếp loại học lực bài thực nghiệm 2 của HS
Biểu đồ biểu diễn kết quả xếp loại học lực bài thực

88
89
90

nghiệm 3 của HS

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề nổi cộm trong những năm gần
đây, kể cả ở bậc phổ thông. Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương

trường hướng tới việc đáp ứng các yêu cầu của đổi mới PPDH, thể hiện ở
chỗ: HS được học theo tốc độ phù hợp với trình độ nhận thức của cá nhân;
Nội dung học thiết thực, gắn kết với thực tiễn đời hàng ngày của HS; Kế
hoạch dạy học được bố trí linh hoạt; Môi trường học tập thân thiện, phát huy
tinh thần dân chủ, ý thức tập thể; Tài liệu học có tính tương tác cao và là tài


11

liệu hướng dẫn HS tự học; Chú trọng kĩ năng làm việc theo nhóm hợp tác;
Phối hợp chặt chẽ giữa phụ huynh, cộng đồng và nhà trường; Tăng quyền chủ
động cho GV và nhà trường, phát huy vai trò tích cực, sáng tạo của các cấp
quản lí giáo dục địa phương.
Đổi mới phương pháp dạy học phải được bắt đầu ngay từ tiểu học vì
đây là cấp học nền tảng. Mỗi môn học ở cấp học này có mục tiêu, nhiệm vụ
riêng. Trong đó, môn Toán có vai trò khá quan trọng, chiếm thời lượng nhiều
hơn hẳn so với các môn khác, chỉ đứng sau môn Tiếng Việt. Môn Toán lớp 4
có vị trí đặc biệt quan trọng vì toán 4 củng cố kĩ năng giải toán với các bài
toán hợp (toán có lời văn), nâng số lượng phép tính để giải bài toán. Các em
được học thêm các dạng toán điển hình (Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của
hai số đó; Tìm số trung bình cộng; Tìm hai số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của
hai số đó).
Khi học các loại toán điển hình, HS biết cách trình bày bài giải đầy đủ
gồm các câu lời giải, các phép tính và đáp số. Ta nói toán điển hình vì mỗi
loại toán trên có tên gọi riêng và phương pháp giải tổng quát riêng cho từng
loại. Việc dạy tốt toán điển hình là vấn đề quan trọng đang được quan tâm, và
ngoài việc củng cố kĩ năng thực hiện phép tính số học, ta cần phải củng cố kĩ
năng tiến hành các bước giải toán, rèn khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói
và viết, nó còn có vị trí quan trọng đối với môn toán nói chung và môn toán
lớp 4 nói riêng. Bởi lẽ khi giải các loại toán này, HS phải huy động toàn bộ

các trường tiểu học Quận 12 sẽ hoàn toàn lúng túng khi tiếp cận với mô hình
trường học mới VNEN, cũng như khó khăn trong việc vận dụng mô hình này
vào quá trình dạy học toán, đặc biệt dạng toán điển hình lớp 4.


13

Từ những yêu cầu về khoa học và thực tiễn đó, chúng tôi mạnh dạn đi
sâu vào nghiên cứu đề tài: “Tổ chức các hoạt động dạy học toán lớp 4 theo
mô hình trường tiểu học mới (VNEN)”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Một số biện pháp tổ chức các hoạt động dạy học môn Toán lớp 4 theo
mô hình VNEN nhằm phát huy những thế mạnh ưu việt và khắc phục những
hạn chế ở các nơi khác đã triển khai trước đó.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động dạy học toán lớp 4.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Một số biện pháp tổ chức hoạt động dạy học toán lớp 4 theo mô hình
trường tiểu học mới (VNEN).
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện được các biện pháp có tính khoa học, hợp lí
và khả thi sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả dạy học môn Toán lớp 4
theo mô hình trường tiểu học mới (VNEN).
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực trạng của việc tổ chức hoạt động dạy
học toán lớp 4 theo mô hình VNEN.
- Đề xuất các biện pháp tổ chức tổ chức hoạt động dạy học toán lớp 4
theo mô hình VNEN.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu

luận văn được bố trí trong 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2. Biện pháp tổ chức chức hoạt động dạy học toán điển hình
lớp 4 theo mô hình VNEN


15

Chương 3.Thực nghiệm sư phạm

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ngoài nước


16

Tư tưởng dạy học phù hợp với đối tượng đã có từ thời Khổng Tử (551
- 479 TCN). Theo ông, người thầy cần tìm hiểu đặc điểm nhân cách của từng
học trò để sử dụng phương pháp dạy cho phù hợp. Cùng một vấn đề nhưng
với mỗi người học, ông lại có cách dạy khác nhau. Đồng thời, cũng xuất phát
từ người học mà Khổng Tử chia ra một phần gọi là công truyền nói về luân
thường dạo lí dạy cho mọi người; một phần gọi là tâm truyền nói về những
điều cao xa, khó hiểu hơn dành cho người có tư chất đặc biệt.
J.A.Comenxki (1592-1670), nhà giáo dục lỗi lạc thời cận đại, đã khái
quát kinh nghiệm dạy học của loài người và nâng lên thành một hệ thống các
nguyên tắc chỉ đạo dạy học đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Trong đó, phải kể
đến nguyên tắc phát huy tính tích cực người học và dạy học vừa sức. Ông đã
viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát

Colbert. Chương trình cung cấp đào tạo giáo viên hiệu quả, cải thiện chương
trình giảng dạy và nuôi dưỡng môi trường lớp học là hấp dẫn và hấp dẫn cho
sinh viên. Mô hình Escuela Nueva di chuyển ra khỏi truyền thống môi trường
"giáo viên làm trung tâm", thường nhấn mạnh học thuộc lòng chỉ dẫn của
giáo viên, và thay vì khuyến khích "trẻ làm trung tâm", môi trường mà học
sinh tham gia đầy đủ và cho phép họ học theo tốc độ của riêng mình.
Escuela Nueva là một mô hình giáo dục được thiết kế ở Colombia vào
giữa năm 1970 bởi Vicky Colbert, Beryl Levinger, và Óscar Mogollón để
nâng cao chất lượng, phù hợp và hiệu quả của các trường học trong cả nước.
Chương trình bước đầu đã được nhắm vào trường cấp đa nông thôn, nơi một
hoặc hai giáo viên đồng thời dạy cho tất cả các lớp. Các trường này thường
tồn tại trong các khu vực có mật độ dân số thấp ở các nước phát triển và đang
phát triển cả. Escuela Nueva ngày nay là một sự đổi mới xã hội trên toàn cầu
công nhận và đã được chứng minh để cải thiện chất lượng giáo dục. Nó mang
lại lợi ích cho trẻ em, giáo viên, các quản trị viên, gia đình và cộng đồng


18

thông qua bốn thành phần liên quan đến nhau: chương trình giảng dạy và lớp
học, cộng đồng, đào tạo và quản lý.
Escuela Nueva thúc đẩy một môi trường lớp học, nơi học sinh tích cực
học tập, tham gia, phối hợp; và tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và
cộng đồng. Nó là một mô hình giáo dục linh hoạt phù hợp để đáp ứng các
nhu cầu của mỗi con cá nhân, cho phép sinh viên hoàn thành các đơn vị và
tiến tới các cấp lớp cao hơn tốc độ của riêng của họ. Mô hình Escuela Nueva
tập trung vào trẻ em. Nó cải thiện lưu giữ và thành tích học tập, làm giảm tỷ
lệ học sinh bỏ học và lưu ban lớp, và phát triển các giá trị và kỹ năng xã hội
của công dân, hành vi dân chủ và chung sống hoà bình .
Trong thập niên tám mươi và chín mươi, Escuela Nueva đã có một tác

trên toàn quốc, nên việc vận dụng triển khai mô hình VNEN ở một số tỉnh,
thành đến nay vẫn chỉ là vận dụng thí điểm. Do đó, chỉ có thể thực hiện báo
cáo tổng kết sau một năm thực hiện, đúc kết ra những ưu điểm và hạn chế của
mô hình VNEN, chứ chưa thể tiến hành thực hiện nghiên cứu khoa học vào
việc khắc phục những nhược điểm và phát huy những thành tựu đạt được. Vì
vậy, việc nghiên cứu một số biện pháp tổ chức các hoạt động dạy học chương
trình toán lớp 4 theo mô hình VNEN tại trường tiểu học Tân Thông huyện Củ
Chi là một bước rút ngắn thời gian, giúp giáo viên tại các trường tiểu học
quận 12 tiếp cận mô hình mới một cách nhanh chóng, dễ dàng và hiệu quả
hơn trong những năm học sau.

1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Dạy học
Nhiều tác giả cho rằng: “Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích
nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hoá mà nhân


20

loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người”.
Quan niệm này lí giải đầy đủ cách mà nền giáo dục đang cố gắng đào tạo
những con người thích ứng với nhu cầu hiện tại của xã hội. Tuy nhiên, quan
niệm này làm cho nền giáo dục luôn đi sau sự phát triển của xã hội. Bởi vì,
nó chỉ có nhiệm vụ tái hiện lại các giá trị tinh thần xã hội đã được vật chất
hoá bằng cách nào đó để trở lại giá trị tinh thần bên trong người học. Quan
niệm đó đi ngược lại quan niệm của Socrate về giáo dục, trong đó giáo dục có
nhiệm vụ “đỡ đẻ” các ý niệm vốn có trong mỗi con người, để cho ý niệm đó
được khai sinh và trở thành giá trị tinh thần chung của nhân loại. Quan niệm
đó cũng hạn chế nền giáo dục hướng đến một phương pháp giáo dục giúp cho
người giúp cho người học trở thành những con người sáng tạo, vượt qua được

năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị
tinh thần, các hiểu biết, các kĩ năng, các giá trị văn hoá mà nhân loại đã đạt
được; trên cơ sở đó, có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra
trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học”.
1.2.2. Hoạt động dạy học
Theo tác giả Phan Trọng Ngọ, quá trình dạy học là chuỗi liên tiếp các hành
động của người dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng
không gian và thời gian nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học.
Theo tác giả Thái Duy Tuyên, quá trình dạy học là một bộ phận của quá
trình giáo dục (nghĩa rộng), là quá trình tác động qua lại giữa GV và HS
nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người
(kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo…) để phát triển những năng lực và phẩm chất của
người học theo mục đích giáo dục.
Theo tác giả Cibeknetic, quá trình dạy học là quá trình điều khiển,
trong đó GV đóng vai trò điều khiển và HS đóng vai trò tự điều khiển.
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Phó Đức Hoà, dạy học là một quá trình, dưới
tác dụng chủ đạo của GV, người học tự giác, tích cực, độc lập: nắm vững những tri


22

thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, đặc
biệt là năng lực tư duy, đồng thời hình thành được những phẩm chất hoạt động trí tuệ
(tính định hướng, bề rộng, bề sâu, tính dộc lập, tính mềm dẻo, tính linh hoạt, tính
nhất quán, tính phê phán, tính khái quát, v. v…); trên cơ sở đó, hình thành và phát
triển thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức của người công dân, người
lao động.
Như vậy, dạy học là một quá trình thống nhất gồm hoạt động dạy của GV và
hoạt động học của HS. GV với vai trò chủ đạo: truyền đạt và điều khiển quá trình
nhận thức của HS. HS với vai trò tự giác, chủ động: lĩnh hội và tự điều khiển nhận

hạn chế sự cạnh tranh và tăng cường sự hợp tác giữa học sinh với nhau. Ở
mọi lớp học thông thường, sự đua tranh (tức cạnh tranh) về thành quả học tập
thường xuyên diễn ra giữa học sinh với nhau. Với những hoàn cảnh học tập
như nhau, sự khác nhau về khả năng trí tuệ và trí thông minh sẽ quyết định kẻ
“thắng”và người “thua”trong sự đua tranh đó.
Sự hợp tác trong học tập không chỉ giúp khắc phục những tác dụng tiêu
cực của cạnh tranh, mà còn tạo ra nhiều tác dụng tích cực đối với học sinh.
Theo David W.Johnson (1982), sự hợp tác trong học tập giúp cho học sinh
xây dựng “tính cách chân thực và rõ ràng, khả năng tự thể hiện và sức khoẻ
tinh thần, sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau, và bồi dưỡng tốt các mối quan
hệ làm giảm sự xung đột” [tr.556]. Sự hợp tác học tập có hiệu quả hơn nhiều
trong việc xây dựng các kỹ năng giao tiếp giữa hai người và trong xã hội, so
với sự cạnh tranh hoặc những nỗ lực cá nhân.
 Dạy học theo trình độ (Mastery Instruction):
Dạy học theo trình độ là loại hình dạy học theo kế hoạch được lập ra,
dựa trên trình độ ban đầu, khả năng nhận thức và đặc điểm tâm lý của học
sinh, nhằm đưa hầu hết học sinh đạt đến trình độ mới tương đương với nhau
sau khi hoàn thành nhiệm vụ học tập.


24

John Carroll (1963) khẳng định rằng nếu các học sinh bình thường
được phân chia theo khả năng hay năng khiếu đối với một số môn học, và
được dạy học thích ứng với đặc điểm cá nhân của mình, thì đa số các em có
thể đạt kết quả cao trong học tập bộ môn. Nhưng muốn đạt được kết quả đó,
mỗi học sinh phải có đủ thời gian cần thiết để học tập. Trong cùng một môn
học, tổng số thời gian cần thiết (dựa trên đặc điểm tâm lý của từng cá nhân)
rất khác nhau đối với mỗi học sinh.
 Phát triển khả năng và kỹ năng tư duy (Developing Thinking Abilities and

Việc áp dụng máy tính điện tử với mạng Internet vào giáo dục ngày
càng phổ biến, với hiệu quả ngày càng cao, tất yếu dẫn tới loại hình dạy học
vi tính hoá, tức dạy học bằng máy tính điện tử. Theo nhận định của John
Cook (1985), loại hình này được phát triển qua 3 cấp độ khác nhau:
- Thứ nhất, máy tính là một công cụ ở cấp độ này, máy tính được sử
dụng như một công cụ trợ giúp cho cá nhân làm phong phú thêm các hoạt
động dạy học ở trường và ở nhà. Việc dạy học vẫn diễn ra trong quan hệ chủ
yếu giữa thầy và trò, có sử dụng máy tính hay không là việc hoàn toàn do cá
nhân tự ý quyết định.
- Thứ hai, dạy học với máy tính trợ giúp ở cấp độ này, máy tính được
sử dụng một phần trong dạy học, tập trung vào các chương trình phụ đạo và
nâng cao kiến thức, hoặc các chương trình luyện tập thực hành những kỹ
năng cơ bản của các bộ môn, chuẩn bị tiến tới những trình độ học vấn cao
hơn.
- Thứ ba, dạy học bằng máy tính. Đây là cấp độ cao nhất mà việc dạy
học hầu hết các chương trình đều sử dụng máy tính. Mọi việc tổ chức, điều
hành, kiểm tra được thực hiện một cách có hệ thống qua một mạng nội bộ
(Intranet) với một máy chủ ở trung tâm. Được lập trình đúng và nhập đủ các
dữ liệu thông tin cần thiết, máy tính sẽ trắc nghiệm khả năng học tập, cung
cấp kiến thức, ra chỉ lệnh để học sinh thực hiện.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status