TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
TRẦN VÂN ANH
TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA
CHỈ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG SÁNG TÁC
CỦA THẠCH LAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI - 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
TRẦN VÂN ANH
TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA
CHỈ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG SÁNG TÁC
CỦA THẠCH LAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
TS. ĐỖ THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI - 2017
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 5
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu......................................................................... 5
6. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 6
7. Đóng góp của khoá luận .................................................................................... 6
8. Cấu trúc của khoá luận ...................................................................................... 6
NỘI DUNG ........................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ TRƯỜNG NGHĨA.............. 7
1.1 Khái niệm trường nghĩa .................................................................................. 7
1.2 Các loại trường nghĩa ...................................................................................... 8
1.2.1 Trường nghĩa dọc ..................................................................................... 8
1.2.2 Trường nghĩa ngang ( Trường nghĩa tuyến tính)................................... 11
1.2.3 Trường liên tưởng .................................................................................. 11
1.3 Trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương ........................................................ 12
1.3.1 Trường nghĩa biểu vật với ngôn ngữ văn chương ................................. 12
1.3.2 Trường nghĩa biểu niệm với ngôn ngữ văn chương............................... 14
1.3.3 Trường nghĩa liên tưởng với ngôn ngữ văn chương .............................. 15
1.4 Vài nét về nhà văn Thạch Lam ..................................................................... 16
CHƯƠNG 2. MIÊU TẢ TRƯỜNG TỪ NGỮ CHỈ NGƯỜI PHỤ NỮ ............. 18
TRONG SÁNG TÁC CỦA THẠCH LAM ........................................................ 18
2.1 Kết quả thống kê ........................................................................................... 18
2.2 Miêu tả trường từ vựng chỉ hình dáng bên ngoài của người phụ nữ ............ 19
2.2.1 Trường từ vựng chỉ đặc điểm khuôn mặt ............................................... 19
2.2.2 Trường từ vựng chỉ đặc điểm dáng người ............................................. 20
2.2.3 Trường từ vựng chỉ đặc điểm đôi tay ..................................................... 20
2.2.4 Trường từ vựng chỉ đặc điểm của một số bộ phận khác như: mày, tóc,
phải gợi cảm xúc sâu sắc đó là nhờ tính hàm súc. Ngôn ngữ trong tác phẩm
văn học thường được sử dụng một cách có hệ thống. Tiêu biểu cho hệ thống
ngữ nghĩa của từ ngữ trong tác phẩm văn học là các trường nghĩa. Khi các từ
ngữ có ý nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau sẽ tạo nên các trường nghĩa,
điều này không chỉ làm cho ngôn ngữ trong tác phẩm sự kết nối với nhau mà
nó còn tạo ra cái hay, cái riêng, cái độc đáo cho một tác giả văn học.
Cuộc đời ngắn ngủi, sáng tác trong một khoảng thời gian ngắn nhưng
Thạch Lam vẫn được coi là một tác giả lớn của văn học hiện đại nói riêng và
văn học Việt Nam nói chung. Ông đã mang đến cho văn xuôi Việt Nam
những năm 30-45 một làn gió mới, mà nó đã trở thành đặc trưng trong phong
cách viết văn của ông. Đó là, ông thường viết những truyện không có cốt
1
truyện. Để tiếp cận được tác phẩm của Thạch Lam chúng ta có thể tiếp cận
trên nhiều phương diện. Đề tài của chúng tôi tìm hiểu tác phẩm của ông trên
phương diện ngôn ngữ. Đó là vấn đề sử dụng trường từ vựng ngữ nghĩa trong
sáng tác của Thạch Lam. Tìm hiểu trường nghĩa trong sáng tác của Thạch
Lam không chỉ có ý nghĩa trong việc tiếp nhận văn chương nói chung, mà nó
có ý nghĩa thiết thực đối với giáo viên dạy văn trong tương lai khi giảng dạy
về các tác phẩm của Thạch Lam. Nhận thấy tính thiết thực của vấn đề này nên
chúng tôi đã lựa chọn đề tài: Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người phụ nữ
trong sáng tác của Thạch Lam.
2. Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu ngữ nghĩa của ngôn ngữ đã được các nhà nghiên cứu
trên thế giới quan tâm từ cuối thế kỉ XIX cho đến ngày nay. Khởi đầu phát
triển lý thuyết trường có nguồn gốc từ nghiên cứu của các nhà nhân học Mỹ
và các nhà ngôn ngữ học Đức vào đầu thế kỉ XX. Những học giả này chịu ảnh
hưởng của học thuyết dạng lời nói bên trong của ngôn ngữ mà tác giả của nó
phân biệt, tên gọi có tác dụng phân biệt các loại với nhau hay các loại nhỏ
trong các loại lớn. Dựa trên kết quả thống kê, tác giả thu được 21 nét nghĩa.
Từ đó tác giả phân tích quá trình chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong
tiếng Việt và tiếng Nga. Cuối cùng, tác giả nêu ra ý nghĩa biểu trưng của các
từ ngữ chỉ động vật và của các thành ngữ so sánh có tên động vật.
Bùi Minh Toán cũng vận dụng lí thuyết trường nghĩa để xem xét vận
động chuyển hóa về nghĩa, về trường nghĩa của từ tiếng Việt trong hoạt động
giao tiếp. Tác giả đã xác lập một loạt các trường từ vựng trong Truyện Kiều
như: trường lửa, trường mùi vị, trường cỏ cây, tác giả đã chỉ ra sự chuyển
nghĩa, chuyển trường của chúng và giá trị thẩm mĩ mà chúng đạt được trong
quá trình chuyển nghĩa. Ngoài ra, cũng có nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu
về trường nghĩa nhưng nhìn chung, các công trình nghiên cứu của họ đều theo
hướng nghiên cứu mà Đỗ Hữu Châu đã đưa ra.
3
Vận dụng các thành tựu nghiên cứu về trường nghĩa, một số khóa luận
đi sâu tìm hiểu trường nghĩa trong tác phẩm văn học. Tiêu biểu là những khóa
luận sau:
Khóa luận “Khảo sát trường nghĩa nông thôn trong tiểu thuyết Mảnh
đất lắm người nhiều ma của Vũ Khắc Trường” do sinh viên Vũ Thị Oanh
thực hiện. Trong đề tài này, tác giả đã khảo sát một số trường nghĩa chỉ văn
hóa tâm linh, tín ngưỡng dân gian; trường nghĩa chỉ cơ quan hành chính nhà
nước; trường nghĩa miêu tả tâm lí con người ở nông thôn. Từ đó, tác giả khai
thác hiệu quả sử dụng của các trường từ ngữ trong việc tìm hiểu bức tranh đời
sống tâm linh đa dạng và phong phú ở nông thôn. Qua đó, chúng ta có thể
thấy được cái nhìn mới về nông thôn Việt Nam sau năm 1986.
Tiếp theo đề tài “Khảo sát trường nghĩa chiến tranh trong tiểu thuyết
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh ” do sinh viên Lê Thị Là thực hiện. Ở đề
tác của Thạch Lam, từ đó thấy được giá trị của trường nghĩa trong việc khắc
họa chân dung nhân vật.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Ứng với mục đích trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp, nghiên cứu các vấn đề lý thuyết về trường nghĩa.
- Khảo sát trường từ ngữ chỉ người phụ nữ trong sáng tác của
Thạch Lam.
- Phân tích, đánh giá, hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng từ ngữ
trong sáng tác của Thạch Lam.
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ
người phụ nữ trong sáng tác của Thạch Lam.
- Phạm vi nghiên cứu: Ngữ liệu được khảo sát trong toàn bộ các sáng
tác của Thạch Lam, được tập hợp trong hai cuốn “Tuyển tập Thạch Lam”
(Nxb Văn học 2012) và “Tuyển tập Thạch Lam” (Nxb Văn học 2015).
5
6. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ.
- Phương pháp hệ thống.
- Phương pháp miêu tả.
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu.
- Thủ pháp thống kê, phân loại.
7. Đóng góp của khoá luận
- Về mặt lí luận:
Đề tài góp phần làm sáng tỏ vấn đề tính hệ thống của từ ngữ trong tác
phẩm văn chương. Qua đó, góp phần hoàn thiện cơ sở lí thuyết về trường
cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học. Trường nghĩa không phải là phạm vi các
khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về
nghĩa. Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này là Ipsen.
Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất là nhóm từ vựng- ngữ nghĩa. Người có
ảnh hưởng lớn và nghiên cứu chuyên sâu vấn đề này là giáo sư Đỗ Hữu Châu.
Theo ông những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đạt được các
từ nói chung (ý nghĩa của nó) vào những hệ thống con thích hợp. Trong Từ
vựng- ngữ nghĩa Tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “ Mỗi tiểu hệ thống ngữ
nghĩa được coi là một trường nghĩa” [2].
Như vậy, để tìm ra một khái niệm trường nghĩa trọn vẹn và đầy đủ
vẫn đang là một vấn đề mà các nhà nghiên cứu đặt ra. Nhưng để phục vụ
cho phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi đã dựa trên ý kiến của các nhà
ngôn ngữ học và thống nhất khái niệm trường nghĩa như sau: Trường
nghĩa là tập hợp các từ và ngữ cố định của một ngôn ngữ dựa vào sự đồng
nhất nào đấy về ngữ nghĩa.
7
Ví dụ:
- Nắng, mưa, gió, sấm, chớp, bão, lốc, lũ, giông, vòi rồng, ráng mỡ
gà, …là các từ chỉ hiện tượng tự nhiên, chúng được coi là trường nghĩa.
- Nấu, nướng, kho, xào, luộc, quay, chiên, rang, hấp, đun,…là các
từ chỉ hoạt động tác động với lửa làm chín thức ăn, chúng được coi là
trường nghĩa.
1.2 Các loại trường nghĩa
Khi nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ nói chung và từ vựng nói riêng, nhà
ngôn ngữ học F.de Saussure đã chỉ ra hai dạng quan hệ ngang (hay quan hệ
hình tuyến, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (hay quan hệ tộc tuyến, quan
hệ ngữ hình).
Ví dụ 2: Với từ mắt chúng ta có các trường nghĩa biểu vật sau:
1. Ngoại hình của mắt: Xanh, đen, nâu, xám, ti hí, bồ câu, mắt lươn, lá
dăm, mắt phượng, trắng, lợn luộc, một mí, hai mí,…
2. Bộ phận của mắt: Lông mi, đồng tử, con ngươi, thuỷ tinh thể, kết
mạc, bọng mắt, lông mày,…
3. Hoạt động của mắt: Lườm, nhìn, ngó, liếc, chớp, nháy, nheo, mở,
nhắm, quắc, đảo, dòm, hé, ngủ, trợn, đánh mắt, ngước, đong đưa,…
4. Năng lực của mắt: Sắc sảo, tinh anh, trong trẻo, trong veo, mờ, kém,
loá, đục, kèm nhèm, sáng,….
5. Cảm giác về mắt: Ngứa, rát, nhức, mỏi, đau, cộm, chói, xót,…
6. Bệnh về mắt: Mắt lé, đau mắt hột, đau mắt đỏ, viêm giác mạc, kết
mạc, cận thị, viễn thị, quáng gà, toét, viêm tuyến lệ, mù,…
7. Hoạt động thẩm mĩ: Uốn mi, kẻ, vẽ, cắt, phun, thêu, xăm, nối,…
1.2.1.2 Trường nghĩa biểu niệm
Trường nghĩa biểu niệm là: Trường nghĩa tập hợp các từ dựa trên ý
nghĩa biểu niệm của từ.
9
Căn cứ để tập hợp các từ về trường nghĩa biểu niệm là dựa trên các nét
nghĩa của từ hay còn gọi là cấu trúc biểu niệm.
Ví dụ: Ta có cấu trúc biểu niệm (hoạt động), (dời chỗ)
- Dời chỗ bằng chân: Đi, bước, chạy, bò, nhảy,…
- Dời chỗ trong không khí: Chao, liệng, lượn, bay,…
- Dời chỗ trong nước: Bơi, lặn, lội, ngụp,…
Vì tiêu chí tập hợp trường biểu niệm là cấu trúc biểu niệm nên một
trường biểu niệm lớn hoặc nhỏ có rất nhiều từ thuộc các trường biểu niệm
khác nhau.
Ví dụ: Trường biểu niệm đồ dùng gồm các trường nhỏ sau:
Chúng ta có thể rút ra một số nhận xét về trường nghĩa ngang như sau:
- Các từ trong một trường nghĩa ngang là những từ thường kết hợp theo
chuẩn mực ngữ nghĩa của một ngôn ngữ chung.
- Một từ nhiều nghĩa có thể lập những trường nghĩa ngang khác nhau
về tính chất tuỳ theo nghĩa nào đó được lấy làm trung tâm.
- Các từ trong một trường nghĩa ngang là sự cụ thể hoá các nét nghĩa
trong nghĩa biểu vật của từ.
- Có rất nhiều từ đi với một từ trung tâm nào đó lập thành trường nghĩa
ngang có mức độ chặt, lỏng khác nhau.
1.2.3 Trường liên tưởng
Sự phân lập các trường biểu vật, biểu niệm như trên là vấn đề cần thiết
để tìm hiểu quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa- ngữ pháp, phát hiện những đặc
điểm nội tại và hoạt động của từ. Nhưng đó mới chỉ là sự phân tích “cấu trúc
bề mặt” của ngôn ngữ. Ngôn ngữ còn có cấu trúc bề sâu. Đó là lí do để xác
định trường liên tưởng.
Tác giả đầu tiên của khái niệm này là nhà ngôn ngữ học người Pháp
Ch.Bally. Theo ông, mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng như
từ bò của tiếng Pháp chẳng hạn có thể gợi ra do những liên tưởng sau:
11
Thứ nhất: Bò cái, bò mộng, bê, sừng gặm cỏ, nhai trầu.
Thứ hai: Sự cày bừa, cái cày, cái ách.
Thứ ba: Những ý niệm về tính thụ động mà chúng ta gặp trong các lối
so sánh các thành ngữ Pháp.
Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hoá, sự cố định bằng
các từ liên hội có thể có của từ trung tâm. Các từ này trong một trường liên
tưởng trước hết là những từ nằm trong trường biểu vật, các trường biểu niệm
và trường tuyến tính tức là những từ có cấu trúc quan hệ đồng nhất và đối lập
theo các từ hừng hực, rực, bốc, nhen nhóm, kéo, tàn,…cũng chuyển sang
trường đó.
Trường lửa cũng có thể chuyển sang trường chỉ các cuộc đấu tranh xã
hội. Nhiều từ cùng trường với lửa cũng chuyển theo như: lửa đấu tranh giải
phóng dân tộc, phong trào đấu tranh vẫn còn âm ỉ, không thể dập tắt được,…
Nên chú ý, khi trường nghĩa được dùng đúng với trường của chúng thì
tác dụng gợi hình ảnh kém đi hoặc không có bởi có sự trung hoà về ngữ cảnh.
Khi từ ngữ chuyển trường thì ngoài cái nghĩa riêng của nó mang theo cả
những ấn tượng, những liên tưởng của trường cũ sang trường mới, làm cho
trường mới cũng có những ấn tượng liên tưởng của trường cũ.
Trong văn chương, các từ trong một câu văn, đoạn văn thường kéo
nhau theo cùng một trường để tạo ra sự phù hợp về trường nghĩa biểu vật. Có
thể nói tới hình thức chủ đạo (tức ẩn dụ, hoán dụ) của đoạn văn, câu văn (hay
một tác phẩm), hình ảnh chủ đạo thuộc trường biểu vật nào thì kéo theo các từ
khác cùng trường với nó:
Ví dụ: “ Không đâu, gió nén từ tâm hướng đang bung ra. Một cơn bão
đang đến lao vào Nam Lào, con thuyền Việt Nam hoá chiến tranh của Nich
Xơn đã lao vào trung tâm một cơn bão lớn. Bão nổi ở Cha Kia, La
Tương…Bão quật sang đỉnh cao 500 xoáy vụn tiểu đoàn 39…Bão dập xuống
đồi 456 xé nát tiểu đoàn 3 và cuốn sạch chỉ huy lữ đoàn 4…Bão xoáy lốc trên
13
ngọn 550 vùi luôn tất cả những khẩu pháo hạng nặng của lữ đoàn số
147…Bão dồn gió thép về biển Đông”.
(Báo Quân Đội nhân dân, ngày 9-4-1971)
Hình ảnh chủ đạo trong đoạn văn trên là bão táp kéo theo các từ gió,
nén, hướng trung tâm, nổi, quật, dồn, cuốn, lốc,…
Hình ảnh chủ đạo có khi được nói rõ ra có khi được hiểu ngầm qua các
che môi, cười
- Trạng thái: Tưng bừng, lặng lẽ, vui vẻ, lom xom, lom khom
Tất cả những trường nghĩa nói trên từ màu sắc như: trắng, xanh, đỏ,
hồng kết hợp, hòa quyện với nhau tạo nên một gam màu rực rỡ, cùng với các
hiện tượng tự nhiên như: mây, sương, núi đồi e ấp trong sương, lồng vào các
hoạt động của con người cùng tâm trạng vui vẻ, tưng bừng. Chúng phối hợp
với nhau, để làm nổi bật bức tranh phiên chợ tết đông vui, nhộn nhịp ở miền
quê thanh bình trước cách mạng.
Sự cộng hưởng ngữ nghĩa không chỉ xảy ra đối với các từ. Nó có thể
chi phối cả cấu trúc cú pháp, cả ngữ âm tiết tấu. Nói một cách khác, người
viết thường phối hợp tất cả các yếu tố, các phương tiện ngôn ngữ để tạo ra sự
toàn bích về hình thức cho tác phẩm của mình.
1.3.3 Trường nghĩa liên tưởng với ngôn ngữ văn chương
Đây là một trường có hiệu lực lớn, giải thích cách dùng từ, nhất là cách
dùng từ trong tác phẩm văn học, giải thích những hiện tượng sáo ngữ, sự ưa
thích lựa chọn những từ ngữ nào đó để nói hoặc viết, sự né tránh hoặc kiêng
kị những từ ngữ nhất định…Không nói đến những sai biệt về chủ đề, tư
tưởng, về các chi tiết thực tế về hình tượng… chỉ riêng diện mạo ngôn ngữ
cũng đủ làm chúng ta không thể lẫn được một tác phẩm văn học của thời đại
này với tác phẩm văn học của thời đại khác. Muốn thành công các tác giả
không cần chỉ có tài mà còn phải có sự thích ứng nhanh nhạy với thời đại, đặc
biệt là ngôn ngữ, nó thay đổi theo thời gian, kéo theo các trường nghĩa cũng
15
thay đổi. Vì vậy, người nghệ sĩ không nên chỉ đi theo những lối mòn mà còn
cần đi trước thời đại có như vậy tác phẩm của họ mới được công chúng đón
nhận.
Sự gắn bó với cuộc sống, với thời đại là việc không chỉ của các nhà văn
viết cho thiếu nhi Quyển sách (1940) và Hạt ngọc (1940). Riêng tuỳ bút Hà
Nội băm sáu phố phường được in thành sách sau một năm ông qua đời
(1943). Ngoài ra, Thạch Lam còn hơn chục truyện ngắn khác đăng rải rác trên
các báo Phong hoá, Ngày nay; một tập truyện dài viết dở dang (Thúy Mai); và
dự định viết về đề tài cuộc sống trụy lạc Thập niên đăng hoả, tuy nhiên đó
cũng chỉ mãi mãi là dự định, nhà văn không thể thực hiện được khi đã ra đi ở
độ tuổi còn trẻ.
Thạch Lam mất khi ngòi bút đang ở độ chín muồi, khi sức sáng tạo của
ông đang dồi dào, mãnh liệt. Chỉ trong vòng mười năm sáng tác (1932-1942)
Thạch Lam đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị trường tồn. Nhiều bạn đọc yêu
mến Thạch Lam, bởi các tác phẩm của ông mang những vẻ đẹp có giá trị vĩnh
hằng mà còn tìm thấy bóng dáng của đời sống tinh thần, đời sống nội tâm
phong phú của chính bản thân mình trong đó. Hơn hết là tiếng nói đồng cảm
với những thân phận, những kiếp người nhỏ bé trong xã hội nhất là người phụ
nữ.
Tiểu kết chương 1
Ở chương này chúng tôi đã tổng hợp những vấn đề cơ bản về lý thuyết
trường nghĩa, các loại trường nghĩa, ngữ nghĩa của trường nghĩa, quan hệ ngữ
nghĩa giữa các trường, đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa các trường nghĩa và
ngôn ngữ văn chương. Nêu một vài nét cơ bản về cuộc đời của nhà văn Thạch
Lam. Những hiểu biết trên sẽ được chúng tôi vận dụng khi tiến hành phân
tích, đánh giá hiệu quả sử dụng và nhận xét về hoạt động của trường nghĩa
trong sáng tác của Thạch Lam.
17
CHƯƠNG 2. MIÊU TẢ TRƯỜNG TỪ NGỮ CHỈ NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG SÁNG TÁC CỦA THẠC LAM.
2.1 Kết quả thống kê
Má
40
1,9
4
Dáng người
42
1,9
5
Đôi tay
64
2,9
6
Mày
5
0,2
3,8
11
Hoạt động
852
39,2
12
Lời nói
148
6,8
13
Tính cách
146
6,7
14
Tâm trạng
dễ coi, già nua, phúng phính, xinh, hồng, hồng hào, đỏ hồng
- Trạng thái tâm lý thể hiện qua khuôn mặt: Đăm đăm, vui vẻ, thẫn thờ,
vui tươi, nghiêm trọng, tươi, hiền hậu, xám đi, cau có, giận dữ, mệt nhọc,
buồn, sầm, mơ màng, rầu rầu, mệt mỏi, hoan hỉ, lo nghĩ, vui vẻ, hân hoan, đỏ,
sung sướng,…
- Hoạt động của khuôn mặt: Cúi, ngẩng, úp, ngoảnh, ngửng, quay, cau
2.2.1.2 Trường từ vựng chỉ đặc điểm đôi mắt
Thống kê về trường từ vựng chỉ đôi mắt chúng tôi thu được 129 phiếu,
chiếm 5,9% và được chia ra làm các trường nhỏ hơn như:
- Đặc điểm của mắt: To, đen nhánh, mắt nhung, mắt bồ câu, quầng
thâm
- Trạng thái tâm lý thể hiện qua đôi mắt: Hơi đỏ, thẹn, buồn rầu, oán
trách, sung sướng
19