PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Là một nhà văn suốt đời khao khát khám phá cái đẹp và sự chân thật của
cuộc sống, Nguyễn Minh Châu đã cống hiến hết mình cho nghệ thuật và ông có một
vị trí đặc biệt quan trọng - “người tiền trạm đổi mới” (GS Phong Lê) trong nền văn
học hiện đại Việt Nam.
So với một số nhà văn thuộc thế hệ mình, Nguyễn Minh Châu là người chậm
chân hơn nhưng không phải người đi sau. Từ những sáng tác đầu những năm 60 đến
sáng tác những năm 70 và đặc biệt là đến những năm 80 của thế kỷ XX, Nguyễn
Minh Châu thực sự trở thành một trong những cây bút tiêu biểu cho quá trình vận
động, đổi mới của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Tài năng của Nguyễn Minh Châu được phát lộ, tỏa sáng ở giai đoạn sau 1975
với một loạt các tác phẩm: Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ
lau, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát… Vẫn những trăn trở suy tư về con người
nhưng nhà văn đã khai thác ở khía cạnh mới hơn, đưa ra những con người đời
thường như nó vốn có. Nguyễn Minh Châu đã thể hiện cảm hứng thế sự đời thường
với nỗi lo âu thật lớn lao và đầy khắc khoải về con người trong sự khám phá, tìm tòi
về thế giới nhân tính, về cái chân – thiện – mỹ của con người bên trong con người.
Trong tiến trình văn học dân tộc, hình tượng người phụ nữ với những phẩm
chất cao đẹp của họ cũng đã trở thành nguồn mạch cảm hứng trong trẻo, đậm sâu,
góp phần khẳng định nền tảng nhân văn của cả nền văn học và cốt cách cao đẹp của
con người Việt Nam. Người phụ nữ Việt Nam từ cuộc sống bước vào văn học trở
thành một hình tượng lớn của văn học Việt Nam. Văn học hôm nay viết về người
phụ nữ là sự tiếp nối cội nguồn văn học dân tộc, hoàn thiện hơn chân dung người
phụ nữ Việt Nam.
Nguyễn Minh Châu đã cảm nhận ngày càng rõ nét những chuyển động có ý
nghĩa của thời đại của cuộc sống và của văn học, và ông đã mạnh dạn tự phủ định
mình, đổi mới cách viết từ một cách nhìn mới về con người, về cuộc sống. Điều này
thể hiện nổi bật nhất khi nhà văn viết về người nông dân, người dân chài cần cù lao
1
trái ngược cho rằng nhân vật Quỳ “Thật tự nhiên, rất đời, mẫu mực, có bản lĩnh,
2
một con người mới” (Trao đổi về truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn
Minh Châu, tạp chí văn nghệ Hà Nội, 1985). Tác giả Đinh Trí Dũng trong bài viết
“Nguyễn Minh Châu và sự trăn trở của một ngòi bút đầy trách nhiệm” đã nhìn thấy
ở Quỳ một “gương mặt lạ, vừa điên rồ, lại vừa tỉnh táo, vừa ảo tưởng lại vừa thực
tế, vừa là một người đàn bà cụ thể lại vừa có cái phần sâu thẳm như một thứ thiên
phú của tâm hồn nữ giới”.
Trong luận văn “Nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu”
Vương Thị Thuỷ Nguyên đã khảo sát hình tượng người phụ nữ ở nhiều khía cạnh
và đã khẳng định người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu “sống có
chiều sâu, có bản sắc riêng”.
Có thể nhận định rằng: Nguyễn Minh Châu không đặt vấn đề người phụ nữ
thành vấn đề trung tâm trong sáng tác, tuy nhiên trong từng tác phẩm, loại hình
nhân vật này xuất hiện dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp đều để lại một ấn
tượng khó quên trong lòng bạn đọc.
Trên báo Văn Nghệ số 32/1984, nhân “Đọc Người đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành” Huỳnh Như Phương đã thấy được những mảnh đời, những tâm trạng,
những số phận khác nhau và nhận xét truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành là một “thể nghiệm mới về nghệ thuật của nhà văn”.
Năm 1985, trên tạp chí Văn Học số 3, Nguyễn Thị Minh Thái trong bài “Ấn
tượng về nhân vật nữ của Nguyễn Minh Châu” đã nêu nhận xét: “Ấn tượng về
truyện ngắn thuộc về một người đàn bà, trong tất cả các tác phẩm của Nguyễn
Minh Châu, dù nhân vật nữ ở bất cứ vị trí nào đều là nhân vật khó quên”.
Trong bài viết “Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn
về con người” nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh đã khá nhạy cảm nhận ra “người
phụ nữ, nhân vật thường trực và đầy sức hấp dẫn trong tác phẩm của Nguyễn Minh
văn học Việt Nam mới chiếm lĩnh, đề tài về người phụ nữ trong chiến tranh và số
phận của họ sau chiến tranh, một số phận không giản đơn, không ngọt ngào, bởi
tấm bi kịch của những năm chiến tranh vẫn còn lại với con người cho đến chót
cuộc đời” [10;474].
Trong “Nguyễn Minh Châu và di sản văn học của ông”, qua hình tượng nhân
vật phụ nữ, Mai Hương đã nêu nhận xét: “có lẽ không ai có thể nói về những di
chứng của chiến tranh, những mất mát, éo le, những bi kịch khủng khiếp của chiến
4
tranh hằn sâu trong từng số phận con người một cách da diết, đau đớn và sâu sắc
được như Nguyễn Minh Châu”.
Tuy vậy, những công trình và bài viết nói trên phần lớn cũng chỉ mới dừng lại
phân tích một vài khía cạnh và ở một số tác phẩm nhất định. Tiếp thu ý kiến của
những người đi trước, trên cơ sở khảo sát sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước và
sau 1975, luận văn muốn có một cái nhìn hệ thống, toàn diện về hình tượng người
phụ nữ trong thế giới nghệ thuật của ông, để từ đó có dịp tìm hiểu sâu sắc thêm chiều
sâu vẻ đẹp nhân văn của một tác gia lớn trong nền văn xuôi hiện đại luôn “bị ngập
chìm trong lo âu, một nỗi lo âu sao mà lớn lao và đầy khắc khoải về con người”.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Phạm vi tư liệu
Sáng tác của Nguyễn Minh Châu gồm:
- Cửa sông (Tiểu thuyết - Nxb Văn học Hà Nội - 1966)
- Dấu chân người lính (Tiểu thuyết - Nxb Thanh niên - 1972)
- Miền Cháy (Tiểu thuyết - Nxb Quân đội nhân dân - 1977)
- Lửa từ những ngôi nhà (Tiểu thuyết - Nxb Văn học - 1977)
- Những người đi từ trong rừng ra (Tiểu thuyết - Nxb Quân đội nhân dân - 1982)
- Mảnh đất tình yêu (Tiểu thuyết - Nxb Tác phẩm mới - 1987)
- Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Tập truyện ngắn - Nxb tác phẩm
chính làm nên sự vận động và hấp dẫn của “hình tượng nhân vật nữ trong sáng tác
Nguyễn Minh Châu trước và sau 1975”.
- Nguyễn Minh Châu là một trong những tác giả có tác phẩm được chọn
giảng ở trường Phổ thông nên kết quả luận văn nghiên cứu sẽ có những đóng góp
nhất định cho việc nghiên cứu và giảng dạy của người giáo viên đứng lớp sau này.
6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Quan niệm nghệ thuật về con người và việc xây dựng hình tượng
người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu
Chương 2: Hình tượng người phụ nữ trong sáng tác Nguyễn Minh Châu
trước 1975
Chương 3: Hình tượng người phụ nữ trong sáng tác Nguyễn Minh Châu sau 1975
6
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VỀ CON NGƯỜI CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
1.1 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
1.1.1 Hình tượng người phụ nữ trong văn học dân gian và văn học trung
đại
Phụ nữ là một nửa của nhân loại, là biểu tượng của cái đẹp, hiện thân của sự
sinh tồn và luân chuyển sự sống. Trong dòng chảy văn chương, từ cổ chí kim, hình
tượng người phụ nữ vẫn luôn là một đề tài quen thuộc. Dường như phụ nữ là một
nguồn cảm hứng vô tận mà văn học muôn đời vẫn chưa khai thác hết. Văn học Việt
Nam có truyền thống viết về người phụ nữ. Thông qua hình tượng này ta thấy được
giá trị nhân bản của con người qua các thời đại.
Trong văn học dân gian nhân vật nữ đại diện cho lý tưởng thẩm mỹ của nhân
- Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
- Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày
- Thân em như chổi đầu hè
Phòng khi mưa gió đi về chùi chân
Chùi rồi lại vứt ra sân
Gọi người hàng xóm có chân thì chùi.
Có biết bao nhiêu nỗi khổ mà người phụ nữ phải chịu đựng, nỗi khổ vật chất
“ngày ngày hai buổi trèo non”, “ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương”. Nhưng nỗi
khổ lớn nhất, xuất hiện với tần số cao nhất vẫn là nỗi khổ về tinh thần, nỗi khổ của
thân phận mong manh, bị động, ít giá trị. Những người phụ nữ ở đây bị “đồ vật
hoá”, được định giá theo giá trị sử dụng. Thân phận họ chỉ được ví với “hạt mưa
sa”, “chổi đầu hè”... Ta có thể cảm nhận được bao nỗi xót xa của người phụ nữ khi
cất lên những lời ca ấy. Không phải người phụ nữ không ý thức được vẻ đẹp và
phẩm giá đáng quý của mình. Họ luôn ví mình với “tấm lụa đào”, “giếng nước
8
trong”... nhưng những phẩm chất ấy không được xã hội và người đời biết đến, coi
trọng. Cả đời họ chỉ lầm lũi, cam chịu trong sự đau khổ, nhọc nhằn. Và dường như
sự bất hạnh ấy của người phụ nữ trong xã hội xưa là một hàm số chung ở tất cả các
vùng miền. Người phụ nữ dân tộc Thái cũng từng đau đớn thốt lên: “thân em chỉ
bằng thân con bọ ngựa, con chão chuộc thôi”.
Nhưng dù sống trong bất hạnh, tâm hồn người phụ nữ vẫn sáng lên lấp lánh
ánh sáng của trái tim đôn hậu, cao thượng, vị tha. Từ trong khổ đau, bất hạnh, từ
trong tiếng hát than thân đầy tủi cực, tâm hồn trung hậu, đẹp đẽ, thuỷ chung của
người phụ nữ vẫn vươn lên, toả sáng khiến cho tiếng hát than thân kia không mang
vẻ bi luỵ mà vẫn toả sáng ấm áp tình người. Ca dao đã phản ánh đầy đủ những vẻ
cha, tự ý kết hôn cùng chàng Chử Đồng Tử nghèo khó không mảnh khố che thân;
hay nàng quận chúa A Kim yêu say đắm Hà Ô Lôi – một người vừa xấu vừa đen
nhưng có giọng hát mê hồn. Trong lĩnh vực thơ ca cũng thấy có một số bài vịnh
ngâm về nhân vật lịch sử như các bài vịnh Mị Ê, vịnh nàng Điêu Thuyền, vịnh
Chiêu Quân, hoặc các bài nói về nỗi buồn thương của các thiếu phụ, kẻ thì bị tình
duyên dang dở như các bài Chức nữ nhớ Ngưu Lang, Tiên Tử mong Lưu Nguyễn,
Hoàng Giang điếu Vũ Nương. Tuy nhiên, ở giai đoạn này nhân vật phụ nữ chưa trở
thành đối tượng quan tâm chính của văn học mà chỉ mới xuất hiện lẻ tẻ trong văn
xuôi lịch sử, trong thần phả, trong truyện dân gian hoặc trong các bài thơ điếu
vịnh…
Đến thế kỷ XVI, đặc biệt là thế kỷ XVIII, phụ nữ đã trở thành một trong
những đề tài lớn của văn học. Các thể loại văn học dường như đều xoay quanh việc
phản ánh số phận người phụ nữ. Vì vậy, trong văn học giai đoạn này, hình tượng
người phụ nữ hiện lên khá đầy đủ và toàn diện trên nhiều bình diện. Về văn xuôi,
các tác phẩm nổi tiếng viết về đề tài phụ nữ có Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
(nửa đầu thế kỷ XVI), Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm (1705 - 1948), Kiến
văn lục của Vũ Trinh (1759 - 1828)... Truyện Nôm cũng có rất nhiều tác phẩm viết
về đề tài này, nhưng tiêu biểu hơn cả là các truyện: Tống Trân - Cúc Hoa, Phạm
Tải - Ngọc Hoa, Quan âm thị kính... và các truyện Song tinh bất dạ của Nguyễn
Hữu Hào (?-1713), Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự (1743 - 1790), Truyện Kiều của
Nguyễn Du (1766 - 1820)... Thơ ca viết về phụ nữ, nổi bật là thơ ca của Hồ Xuân
10
Hương, Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm,
Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741 - 1798)...
Từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX trong các thể loại văn học, thơ ca cũng
như văn xuôi tự sự, tác phẩm viết bằng chữ Hán cũng như viết bằng chữ Nôm
dường như nở rộ đề tài viết về người phụ nữ và hình tượng người phụ nữ nổi bật lên
đẹp, tài hoa, khát khao hạnh phúc thì bị nhà vua bỏ rơi, sống cô đơn mòn mỏi, lạnh
lẽo nơi cung cấm, chôn vui tuổi thanh xuân trong cung điện thâm u (Cung oán
ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều). Người phụ nữ chỉ có một khát vọng rất bình
thường là được chung sống cùng với người chồng thân yêu, song lại rơi vào cảnh
đau đớn, sinh ly tử biệt, đằng đẵng chờ đợi không biết có ngày gặp lại (Chinh phụ
ngâm - Đặng Trần Côn). Nàng Kiều của Nguyễn Du xinh đẹp, tài hoa là thế, cũng
bị dập vùi trong cảnh “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, liên tiếp bị đọa đầy cả
thể xác và tâm hồn để rồi phải thốt lên rằng “thân lươn bao quản lấm đầu/ chút
lòng trinh bạch từ sau xin chừa”. Đây không chỉ là bi kịch của riêng nàng Kiều mà
còn là bi kịch chung của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đặc biệt văn
học thời kỳ này đã bước đầu phản ánh quan niệm con người cá nhân trong xã hội.
Nhiều nhà văn nữ trong giai đoạn này đã thể hiện sự chống đối lại quan điểm của xã
hội phong kiến (tiêu biểu hơn cả là thơ Hồ Xuân Hương). Văn học còn chú ý khám
phá nội tâm nhân vật. Các tác giả Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ
Xuân Hương khi mô tả người phụ nữ thường để cho nhân vật bộc bạch trực tiếp
những đau khổ, những nỗi niềm riêng tư: “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc
mệnh cũng là lời chung” hoặc bộc lộ những phản ứng “Chém cha cái kiếp lấy
chồng chung, Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” (Hồ Xuân Hương). Có thể khẳng
định rằng cảm giác mất mát hạnh phúc và nỗi khát khao hạnh phúc là hai tâm trạng,
hai nỗi niềm thường gặp nhất ở các nhân vật nữ trong văn học trung đại.
1.1.2 Hình tượng người phụ nữ trong văn học hiện đại
Như một nguồn mạch dạt dào bất tận, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã đi
vào văn học một cách hết sức tự nhiên và cứ thế xuất hiện xuyên suốt trên hầu khắp
các trang viết của mọi thế hệ từ xưa tới nay. Ta biết nhiều tới người phụ nữ trong
truyện cổ, ca dao với những phẩm chất cao quý và thiên tính nữ cao đẹp. Đáng trân
trọng biết bao là người phụ nữ trong văn học trung đại, dù chịu nhiều bất hạnh đắng
cay mà vẫn giữ vẹn tấm lòng sắt son trinh bạch, vẫn không thôi khát khao hạnh
12
13
pha giết giặc cứu nước. Chị là nét son chói lọi về người phụ nữ Việt Nam thương
con và yêu nước tha thiết... Và còn rất nhiều những người mẹ, người chị anh hùng
nữa: Chị Sứ trong Hòn đất của Anh Đức, cô giao liên trong Chiếc lược ngà của
Nguyễn Quang Sáng... Không thể kể hết những hy sinh thầm lặng của những người
bà, người mẹ, người chị ấy khi họ đã cống hiến cả tuổi xuân và cuộc đời cho Tổ
quốc. Những người phụ nữ ấy chính là niềm tự hào của đất nước, là niềm yêu mến,
kính trọng của nhân dân, là biểu tượng của cái đẹp mà Bác Hồ đã trao tặng tám chữ
vàng “Anh hùng - bất khuất - trung hậu - đảm đang”.
Có thể nói, người phụ nữ ở đây là con người của xã hội, của cộng đồng gắn
với cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, được soi chiếu dưới cái nhìn lý tưởng mang
tính sử thi. Đi dọc chiều dài lịch sử dân tộc không đâu là không thấy bóng dáng
người phụ nữ Việt Nam, đi dọc chiều dài lịch sử thơ văn không đâu là không thấy
bóng dáng những con người đảm đang, bất khuất. Nhà thơ Huy Cận trong bài thơ
Ca ngợi người phụ nữ Việt Nam (1966) đã viết nên những câu thơ xúc động, chân
thành:
Chị em tôi toả nắng vàng lịch sử
Nắng cho đời và cũng nắng cho thơ
Sau năm 1975, văn học có xu hướng trở về với cái đời thường muôn mặt,
cảm hứng sử thi nhạt dần thay vào đó là cảm hứng thế sự đời tư. Vấn đề các nhà
văn quan tâm không phải là cuộc sống chiến đấu dũng cảm vì dân vì nước nữa mà
là con người của cuộc sống đời thường với những nỗi lo toan rất nữ. Người phụ nữ
hiện lên với tư cách con người cá nhân, những mảng đời riêng lẻ. Nhân vật nữ xuất
hiện đa dạng và phong phú, mỗi nhà văn tìm thấy cho mình một hướng đi riêng khi
khai thác đề tài này. Nhà văn Nguyễn Khải chú ý nhiều đến vai trò người vợ, người
mẹ nhỏ bé lặng lẽ can trường chống chọi với cuộc đời để tạo dựng một gia đình yên
ấm. Nhân vật nữ của nhà văn đẹp trong khó khăn thử thách, trong sự hy sinh. Đó là
nền văn học Việt Nam, gắn liền với sự vận động trong quan niệm nghệ thuật về con
người qua các giai đoạn văn học.
1.2 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VỀ CON NGƯỜI TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
1.2.1 Vị trí của nhân vật nữ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu
15
Trong cuộc đời cầm bút của mình, Nguyễn Minh Châu không đặt vấn đề
người phụ nữ thành vấn đề trung tâm trong sáng tác. Nhưng qua thế giới nhân vật
nữ trong tác phẩm của ông ta lại nhìn thấy sự cảm thông sâu sắc đối với mỗi số
phận, đồng thời mỗi tác phẩm là một khúc ca về phẩm chất cao đẹp của người phụ
nữ. Mỗi nhân vật, mỗi cuộc đời là một khám phá mới của nhà văn. Họ hiện lên với
gương mặt rất riêng nhưng đều thể hiện cái nhìn ấm áp của nhà văn đối với người
phụ nữ Việt Nam nói chung. Qua khảo sát và thống kê bước đầu chúng tôi nhận
thấy trong số 6 tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết thì có 4 tác phẩm nhân vật chính
là người phụ nữ. Nhà văn cũng giành 14/25 truyện ngắn để viết về thế giới bí ẩn của
nữ giới. Ngay trong cuốn tiểu thuyết đầu tay là Cửa sông những gương mặt nữ nhân
vật như Thuỳ, bác Thỉnh, Tốt, chị Quý... đã để lại ấn tượng ấm áp trong lòng bạn
đọc. Bước đầu, các nhân vật này đã chứng tỏ ưu thế của nhà văn khi xây dựng hình
tượng người phụ nữ mà càng về sau chân dung người phụ nữ càng trở nên sinh
động, hấp dẫn.
Một đặc điểm dễ nhận thấy là người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Minh
Châu hiện lên rất phong phú, đa dạng, ở nhiều tư cách khác nhau, với những lứa
tuổi, nghề nghiệp tầng lớp khác nhau. Bên cạnh những bà mẹ trầm lặng, ưu tư, cuộc
đời đầy đau khổ, trắc trở như mẹ Êm, mụ Khởi (Miền cháy), bà Lập (Lửa từ những
ngôi nhà), sư già Thiện Linh (Mùa trái cóc ở miền Nam), bà mẹ xóm nhà thờ trong
truyện ngắn cùng tên... chúng ta còn bắt gặp nơi trang văn của ông hình ảnh những
cô gái thanh niên xung phong hồn nhiên, trẻ trung như Nguyệt (Mảnh trăng cuối
Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải
tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con
người được thể hiện trong tác phẩm của mình” [24; 15]. Nghĩa là, quan niệm nghệ
thuật về con người sẽ đi vào phân tích, mổ xẻ đối tượng con người, được thể hiện
thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp trong sáng tác văn học. Từ đó, thấy
được giá trị và chiều sâu triết lí của tác phẩm. Đó thực chất là khả năng sáng tạo,
cảm thụ và miêu tả đời sống bằng sự nhạy cảm và chiều sâu tâm hồn, bằng khả
năng nắm bắt quy luật và bản chất cuộc sống. Đây được coi là tiêu chuẩn quan trọng
nhất để thẩm định giá trị nhân văn vốn có của văn học, là cơ sở để nghiên cứu tính
độc đáo của các sáng tác cũng như sự tiến bộ nghệ thuật. Những biến đổi trong quan
niệm, cách tư duy của con người tất yếu tạo nên và biểu hiện những nét mới trong
17
việc xây dựng và miêu tả thế giới nhân vật. Sự đổi mới và đa dạng của văn học
trước hết là trên phương diện quan niệm nghệ thuật về con người: “Nền văn học
mới bao giờ cũng ra đời cùng với con người mới” (J. Bêsơ). Quan niệm nghệ thuật
về con người luôn mang dấu ấn sáng tạo riêng của người nghệ sĩ và với một nhà văn
có quá trình sáng tác trải dài qua nhiều giai đoạn thì quan niệm nghệ thuật về con
người cũng có sự biến động và biến đổi chi phối sự biến đổi thế giới nghệ thuật của
nhà văn. Bởi vậy, quan niệm nghệ thuật về con người của văn học trung đại sẽ khác
văn học hiện đại, quan niệm nghệ thuật về con người của Nhà văn Nguyễn Khải
không giống nhà văn Nguyên Ngọc. Quan niệm nghệ thuật về con người tạo thành
nhân tố vận động của nghệ thuật. Và khi nhà văn miêu tả những con người là kết
quả của sự vận động ấy thì sẽ làm văn học đổi mới. Quan niệm nghệ thuật về con
người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu
chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn của tác phẩm văn học nói riêng
và thành tựu của văn nghệ sĩ nói chung.
Cách mạng tháng tám là một bước ngoặt lịch sử, mở ra một trang mới đối
văn học từ sau 1975. Giai đoạn 1954 – 1975, tài năng Nguyễn Minh Châu được
khẳng định với sự ra đời của hai cuốn tiểu thuyết Cửa sông (1966), Dấu chân người
lính (1972), và tập truyện ngắn Những vùng trời khác nhau (1970). Nhà văn đã kịp
thời phản ánh không khí sôi động của cuộc chiến đấu và hình tượng cao đẹp của
con người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ, đồng thời ông cũng có những phát hiện
đáng suy ngẫm về nhiều vấn đề của đời sống xã hội và số phận con người trong
chiến tranh. Ngay sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận ra những hạn
chế của nền văn học thời chiến tranh và dũng cảm tìm kiếm con đường đổi mới
sáng tác của chính mình. Hai cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1977: Miền cháy, Lửa
từ những ngôi nhà đã đem lại một sắc diện mới trong sáng tác của nhà văn. Các
truyện ngắn ra mắt bạn đọc đầu những năm 1980 của Nguyễn Minh Châu thực sự là
những tìm tòi mới, với cái nhìn mới về hiện thực và con người. Như nhiều cây bút
cùng thời khác, được đắm mình trong không khí náo nức, sôi sục và hào hùng của
thời đại “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”,
Nguyễn Minh Châu đã viết những trang văn đầy mê say, hào sảng ngưỡng vọng về
dân tộc, thời đại và thế hệ trẻ. Nhân vật nữ trong sáng tác của nhà văn giai đoạn này
là những cô gái thanh niên xung phong, những cô du kích, những cô giáo trẻ nhiệt
19
tình cống hiến và say mê lí tưởng, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc. Giữa
chiến trường ác liệt, họ vẫn thật lạc quan, hồn nhiên, mơ mộng, giàu ước mơ, nhiều
khát khao lãng mạn. Nhân vật nữ của Nguyễn Minh Châu thời kì này không chỉ có
vẻ đẹp ngoại hình mà tâm hồn họ cũng vô cùng trong sáng thánh thiện, ấp ủ trong
lòng một tình yêu thuỷ chung, vẹn nguyên một niềm tin bất diệt ở tương lai tươi
sáng của Tổ quốc.
Trong những năm chiến tranh, khi hướng tới sự khái quát bức tranh lịch sử
với cảm hứng sử thi lãng mạn, Nguyễn Minh Châu đã tập trung thể hiện những vẻ
đẹp cao cả cùng với “những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”.
đàn bà nông thôn xấu xí (bác Thỉnh trong Cửa sông). Vẻ đẹp tâm hồn của người
phụ nữ được Nguyễn Minh Châu miêu tả như một dạng của cái cao cả hào hùng, có
lúc toả ra chói chang thành một thứ ánh sáng kỳ lạ nơi Cửa sông, có khi huyền ảo,
mờ xa như Mảnh trăng cuối rừng hay vĩnh viễn là điều bí ẩn theo Dấu chân người
lính chìm sâu trong lòng đất. Miền đất phát lộ ánh sáng tâm hồn là nơi chiến trường
bom đạn, cũng có thể là vùng nông thôn thơ mộng, hiền hoà. Mỗi hạt ngọc tâm hồn
óng ánh một vẻ đẹp riêng nhưng không hoàn toàn lạ lẫm, bởi soi thấu vào trong có
thể thấy cả chiều sâu của truyền thống văn hoá, của tinh thàn dân tộc.Tư tưởng ấy
thể hiện qua suy nghĩ của Thuỳ trong Cửa sông: “… mỗi tấc đất làng Kiều, mỗi con
người quen biết mà mình từng chung sống, từng dạy dỗ con cái họ đều có một cuộc
đời gắn liền với lịch sử đất nước đầy thử thách, mỗi con người đều mang trong lòng
biết bao điều tốt đẹp mà mình có thể học hỏi, có thể khám phá suốt đời không hết
để tìm hiểu nhân dân mình” [49; 288].
Sự thuỷ chung đến mức khó tin của Nguyệt thực ra vẫn nằm trong mạch
truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, tài thu vén và lòng nhân hậu lạ thường
của bác Thỉnh vẫn là một biểu hiện của tinh thần giặc đến nhà đàn bà cũng đánh
xưa nay. Những biến cố của chiến tranh có tác dụng như một thứ thuốc hiện hình
màu nhiệm làm sáng lên những vẻ đẹp tiềm ẩn ấy. Về khía cạnh này, Nguyễn Minh
Châu tâm sự: “… đừng cho rằng ở bên trong những con người bình thường vừa
làm nên lịch sử ấy lại không có cái gì đáng gọi là kỳ diệu, cao cả, đáng để cho ngòi
bút nhà văn tìm tòi, khám phá (…) ở trong những con người chưa quen biết ấy đang
ẩn chứa một cái gì hết sức quý báu mà chỉ khi đất nước có giặc ngoại xâm tràn đến
21
hoặc trải qua khó khăn, gian khổ mới bộc lộ hết. Ở trong mỗi con người Việt Nam
có một đức Thánh Gióng” [51; 69 – 70].
Để xây dựng được những hình tượng nữ như vậy, Nguyễn Minh Châu
thường sử dụng bút pháp lãng mạn, lí tưởng hoá nhân vật. Họ đều là những viên
hành tồn tại cùng niềm vinh quang, ngay dưới chân tượng đài chiến thắng, và
những số phận éo le ngang trái trong đời tư, sự vênh lệch giữa số phận cá nhân với
số phận cộng đồng là điều có thực, là điều không tránh khỏi”. Trong Dấu chân
người lính bi kịch mà ông Phang và Xiêm con dâu ông phải trải qua cũng là nỗi đau
của bao nhiêu người Việt Nam khi có người thân trong gia đình như con, như chồng
cầm súng bắn vào đồng bào, phản bội quê hương. Thái độ có thể có trong tương lai
của đứa con đi học nước ngoài cũng làm cho chính uỷ Kinh trăn trở. Ngày mai, đứa
con đó trở về khi tiếng súng đã dứt, những người anh hùng hôm nay đã trở lại với
đời thường, liệu nó có biết ơn, có nhớ đến sự hy sinh xương máu của những người
lính, trong đó có cả Lữ - anh em của nó. Những nhánh rẽ trong mạch văn hào hùng
đã tạo cho tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trước 1975 ít nhiều sự ám ảnh với
giọng suy tư, triết lí.
Nói tóm lại, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã dành gần hai thập kỉ để khám
phá và ngợi ca vẻ đẹp lung linh, kì ảo của cuộc sống và tâm hồn con người trong đó
hình tượng người phụ nữ cũng là một trong những tâm điểm.
Đối tượng muôn thủa của văn học vẫn là con người nhưng sau 1975 đối
tượng đó đã được thay đổi căn bản do có sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con
người. Con người với tư cách là đại diện cho cộng đồng với những khung tính cách
định hình được thay thế bằng con người cá nhân với những giá trị nhân văn cao cả
của nó. Được soi sáng bằng tư tưởng của Đảng, văn xuôi sau 1975 đã thực sự quan
tâm đến con người trên mọi bình diện khác nhau của cuộc sống.
Từ đầu những năm 80 trở đi Nguyễn Minh Châu đã cảm nhận ngày càng rõ
nét những chuyển động có ý nghĩa thời đại của cuộc sống của văn học. Ông đã
mạnh dạn tự phủ định mình, đổi mới cách viết cách nhìn mới về con người, về cuộc
sống. Nguyễn Minh Châu luôn khẳng định cái đẹp, ngợi ca cái đẹp, chất thơ của đời
sống nhưng ông không thi vị hoá cuộc sống, không nhìn cuộc sống dễ dãi một
chiều. Ông không chấp nhận quan niệm sơ lược giản đơn về cuộc sống và con
người.
23
vào đấy “Tâm hồn đa cảm dồi dào, ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống,
24
bút pháp chân thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng” [9]. Ông đặc biệt yêu mến
trân trọng, xót xa và muốn cùng được chia sẻ những mất mát, khổ đau bất hạnh với
Quỳ trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Hạnh (Bên đường chiến tranh),
Thai trong Cỏ lau…Nguyễn Minh Châu cho rằng: Bằng tình yêu và tấm lòng nhân
hậu, vị tha người phụ nữ sẽ tạo dựng lại được niềm tin cho những người bị suy sụp
về tinh thần, sẽ làm cho cuộc sống xung quanh ta dễ chịu hơn, có ý nghĩa hơn.
Nguyễn Minh Châu hay viết về những giây phút bất chợt, những khoảnh
khắc hoàn hảo khi con người dưới tác động của trực giác, của tâm linh, của vô thức
bỗng nhận ra một cách sáng tỏ những việc làm nào đó hoặc toàn bộ con người, nhờ
đó mà có cách ứng xử đúng đắn. Trong tác phẩm của ông hay có những chi tiết
ngẫu nhiên khác thường tưởng như vô lý vậy mà vẫn được chấp nhận như bao điều
khác vốn có của cuộc sống. Có thể khẳng định đó là mẫn cảm tài năng của nhà văn
đã đạt tới mức sâu sắc. Vì vậy ta mới lý giải được điều băn khoăn khó hiểu tại sao
người đàn bà trong Chiếc thuyền ngoài xa phải chịu bao nhiêu trận đòn oan mà
không muốn bỏ chồng. Điều không thể đã trở thành có thể, điều tưởng chừng vô lý
vẫn có thể chấp nhận được cho dù sự lựa chọn chấp nhận của người đàn bà đó là
miễn cưỡng, là sự chịu đựng nhẫn nhục.
Phát hiện ra con người phức tạp, con người lưỡng diện không nhất quán với
chính mình, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu đã đi đúng vào quỹ đạo tư
duy của những nhà khoa học. Tinh thần quan tâm đến “nhân tố con người”, quan
tâm đến vấn đề đờì tư, đạo đức, thế sự đã giúp cho sự nghiệp sáng tác của Nguyễn
Minh Châu thoát khỏi lối mòn quen thuộc, dần dần đạt tới một quan niệm toàn diện
về con người, mở ra chiều sâu mới mẻ thú vị về cuộc sống đầy bí ẩn.
Tìm hiểu sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước và sau 1975 ta thấy quan
niệm nghệ thụât về con người đã chi phối sự nghiệp sáng tác của mỗi tác giả nói