Khảo sát nhóm từ ngữ đồng nghĩa chỉ cái chết trong tiếng việt - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
------------------

TẠ THỊ HÒA

KHẢO SÁT NHÓM TỪ NGỮ
ĐỒNG NGHĨA CHỈ CÁI CHẾT
TRONG TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ

HÀ NỘI – 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
------------------

TẠ THỊ HÒA

KHẢO SÁT NHÓM TỪ NGỮ
ĐỒNG NGHĨA CHỈ CÁI CHẾT
TRONG TIẾNG VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ

Người hướng dẫn khoa học
ThS, GVC Đỗ Thị Thu Hương


MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................ 3
4. Nhiệm vụ ................................................................................................... 3
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 3
6. Phương pháp nghiên cứu. ........................................................................ 3
7. Đóng góp của khoá luận ........................................................................... 4
8. Bố cục khóa luận ...................................................................................... 4
NỘI DUNG ................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1 .................................................................................................. 5
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT................................................................. 5
1.1. Khái quát về hiện tượng đồng nghĩa ................................................. 5
1.2. Từ đồng nghĩa ........................................................................................ 6
1.2.1. Một số quan niệm về từ đồng nghĩa .................................................... 6
1.2.2. Định nghĩa ......................................................................................... 10
1.2.3. Phân loại từ đồng nghĩa .................................................................... 11
1.2.4. Phương pháp xác lập dãy đồng nghĩa ............................................... 16
1.2.5. Giá trị nghệ thuật của từ đồng nghĩa ................................................ 18
1.3 . Tiểu kết chương 1 ........................................................................... 22
CHƯƠNG 2 ................................................................................................ 23
NHẬN XÉT NHÓM TỪ NGỮ ĐỒNG NGHĨA CHỈ CÁI CHẾT TRONG
TIẾNG VIỆT .............................................................................................. 23
2.1. Nhận xét chung .................................................................................... 23
2.2. Phân loại các từ ngữ đồng nghĩa chỉ cái chết ..................................... 23
2.2.1. Phương diện sắc thái biểu cảm - phong cách ................................... 24
2.2.2. Xét theo phạm vi sử dụng .................................................................. 43
2.2.3. Sự phân hóa ngữ nghĩa của dãy từ ngữ đồng nghĩa chỉ cái chết ... 51
2.4. Tiểu kết chương 2 ................................................................................ 62
KẾT LUẬN ................................................................................................. 64

1


đồng thời tạo ra những giá trị thẩm mĩ, làm đẹp cho ngôn từ và từ đồng nghĩa
được lựa chọn để đáp ứng những yêu cầu đó.
Việc khảo sát nhóm từ ngữ đồng nghĩa chỉ cái chết còn giúp chúng ta có
thể hiểu được chính xác ý nghĩa của từng yếu tố ngôn ngữ để có thể sử dụng
từ ngữ phù hợp với nội dung, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Đồng
thời có thêm những hiểu biết về lời ăn tiếng nói của con người trong hoạt
động giao tiếp hằng ngày và trong việc tìm hiểu bản sắc văn hóa, tư duy của
dân tộc. Quan trọng hơn, kết quả của cuộc nghiên cứu sẽ được vận dụng vào
chuyên môn trong quá trình giảng dạy sẽ đem lại hiệu quả thiết thực trong
nhiều giờ học.
Trên đây là những lý do cơ bản để chúng tôi lựa chọn đề tài: khảo sát
nhóm từ ngữ đồng nghĩa chỉ cái chết trong tiếng Việt. Từng vấn đề cụ thể sẽ
được đi sâu trình bày trong khóa luận này.
2. Lịch sử vấn đề
Xuất phát từ những góc độ, khuynh hướng và phương pháp tiếp cận
khác nhau, những công trình nghiên cứu về hiện tượng đồng nghĩa đã cung
cấp nhiều cách nhìn mới mẻ, đa diện về từ đồng nghĩa tiếng Việt. Có thể nói
đây là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm và cũng đã đạt được những thành
tựu nhất định với những hướng nghiên cứu cụ thể như sau :
Hướng thứ nhất: tập hợp và giải thích các từ đồng nghĩa tiếng Việt. Đây
là công trình nghiên cứu của các tác giả làm từ điển, tiêu biểu cho hướng này
có các công trình: Nguyễn Hoàng [9], Nguyễn Văn Tu [19]…
Hướng thứ hai: tìm hiểu khái niệm từ đồng nghĩa, phân loại và chỉ ra
nguồn gốc của chúng, đồng thời đề xuất cách phân biệt từ đồng nghĩa tiếng
Việt hoặc cách xác định từ trung tâm trong một nhóm từ đồng nghĩa. Theo
hướng này có các công trình: Đỗ Hữu Châu [2], [3]; Nguyễn Trung Thuần
[13]…

nhằm thống kê tất cả những từ và ngữ đồng nghĩa chỉ cái chết trong tiếng

3


Việt, đồng thời phân loại các từ và ngữ đồng nghĩa chỉ cái chết thành từng
nhóm.
Phương pháp hệ thống: tìm hiểu các từ và ngữ đồng nghĩa chỉ cái chết
trong tiếng Việt không thể bỏ qua phương pháp hệ thống. Cụ thể khi xem xét
ý nghĩa nghĩa của một từ chết, chúng tôi sẽ đối chiếu từ đó với các từ còn lại
trong dãy đồng nghĩa, từ đó chỉ ra điểm đồng nhất và khác biệt giữa các từ
này.
Phương pháp phân tích ngôn ngữ: phương pháp này được sử dụng khi
phân tích ý nghĩa của từ ngữ đồng nghĩa chỉ cái chết trong tiếng Việt.
7. Đóng góp của khoá luận
Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau:
Về mặt lý luận :
Giải quyết tốt vấn đề, đề tài góp phần bổ sung một phương diện lý
thuyết về từ đồng nghĩa tiếng Việt qua một nhóm từ cụ thể.
Về mặt thực tiễn:
Hiểu được chính xác ý nghĩa của những từ ngữ đồng nghĩa chỉ cái chết
trong tiếng Việt, từ đó có thể sử dụng từ ngữ đúng với nội dung, đối tượng và
hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
8. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận này gồm
hai chương cơ bản sau:
Chương 1: Những vấn đề lý thuyết.
Chương 2: Nhận xét nhóm từ ngữ đồng nghĩa chỉ cái chết trong tiếng
Việt.


5


Như vậy hiện tượng đồng nghĩa là một hiện tượng quen thuộc và phổ
biến trong ngôn ngữ. Nhờ có hiện tượng đồng nghĩa mà vốn ngôn ngữ của
con người trở nên phong phú, đa dạng hơn, đồng thời đem lại những cách
diễn đạt mới mẻ và tinh tế hơn rất nhiều. Trong phạm vi của khóa luận này
chúng tôi tập trung nghiên cứu vấn đề đồng nghĩa từ vựng (gồm từ đồng
nghĩa và ngữ đồng nghĩa). Để làm được điều ấy trước tiên chúng ta cần đi tìm
hiểu những khái niệm quan trọng và trung tâm có liên quan đến đề tài của
khóa luận.
1.2. Từ đồng nghĩa
1.2.1. Một số quan niệm về từ đồng nghĩa
Trong ngôn ngữ học, việc nghiên cứu các từ đồng nghĩa đã được bắt đầu
từ rất lâu đời, và các nhà khoa học đã đưa ra không ít những quan niệm khác
nhau.
1.2.1.1. Quan niệm về từ đồng nghĩa của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới
Người Hy Lạp cổ đại là những người đầu tiên nghiên cứu từ đồng
nghĩa, và họ đã rút ra kết luận rằng sự phong phú của ngôn ngữ, sự hàm súc
của tư tưởng và sự đa dạng của các cách diễn đạt chính là nằm ở các từ đồng
nghĩa. Đó chính là cơ sở, là tiền đề để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu
về từ đồng nghĩa, từ đó đưa ra những quan niệm khác nhau về hiện tượng này.
Một số quan niệm tiêu biểu được các nhà nghiên cứu đưa ra như sau:
P.A.Budagov đã đưa ra quan niệm của mình: "Từ đồng nghĩa là những
từ gần về nghĩa, nhưng khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một
khái niệm" [dẫn theo 7].
Trong bài viết Nhận xét về hiện tượng đồng nghĩa từ vựng (Tuyển tập
Những vấn đề trau dồi ngôn ngữ, số 2, Nxb Viện HLKH Liên Xô, 1959),
A.D.Grigôreva cho rằng "Các từ sẽ là đồng nhất nếu chúng thay thế được cho
nhau" [dẫn theo 16].

(bài viết được in trong tạp chí Tiếng Nga trong trường phổ thông, số 3, năm

7


1959) đã định nghĩa từ đồng nghĩa là "Các từ có âm khác nhau, gọi tên cùng
một đối tượng, được thống nhất bằng khái niệm chung, nhưng có những sắc
thái ý nghĩa nhất định'' [dẫn theo 16].
Nói tóm lại, các quan điểm trên về từ đồng nghĩa đã cho chúng ta thấy
được sự đa dạng của các quan niệm, các định nghĩa về từ đồng nghĩa trong
các công trình, các tài liệu, bài viết… Trong đó, tập trung vào hai quan niệm
cơ bản. Quan niệm thứ nhất: các từ đồng nghĩa là những từ có âm khác nhau,
gần gũi nhưng không đồng nhất về ý nghĩa của chúng. Quan niệm thứ hai: các
từ đồng nghĩa là những từ biểu thị cùng một hiện tượng của hiện thực khách
quan nhưng khác nhau về sắc thái ý nghĩa, thuộc tính phong cách....Bên cạnh
đó, vấn đề đồng nghĩa thành ngữ cũng được đặt ra và đã có những công trình
nghiên cứu với những ý kiến, quan điểm nhất định.
1.2.1.2. Quan niệm về từ đồng nghĩa của các nhà Việt ngữ học.
Cho đến nay, không chỉ trong các sách ngôn ngữ học ở nước ngoài, mà
trong các tài liệu Việt ngữ học cũng đưa ra rất nhiều những quan niệm khác
nhau về từ đồng nghĩa.
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: "Trong vốn từ hội của bất cứ một ngôn ngữ
nào cũng thường có những từ mặc dù hình thức ngữ âm hoàn toàn khác nhau
nhưng từ nghĩa lại giống nhau do đó trong nhiều hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể
có thể thay thế cho nhau được. Những từ này là những từ đồng nghĩa" [1,
tr.63].
Ở định nghĩa này tác giả đã nêu ra những đặc điểm của từ đồng nghĩa:
hình thức ngữ âm khác nhau, từ nghĩa giống nhau, có thể thay thế cho nhau
trong nhiều hoàn cảnh. Tuy nhiên tác giả lại chưa nói rõ sự giống nhau về ý
nghĩa của các từ đến mức nào thì mới được coi là đồng nghĩa. Trên cơ sở đó,

Ở các từ loại khác như đại từ, hư từ thì hiện tượng các từ đồng nghĩa ý
niệm xảy ra không nhiều. Nhìn chung các từ đồng nghĩa ý niệm không đặc

12


trưng cho các đại từ và hư từ, mà đặc trưng cho các hư từ là các từ đồng nghĩa
phong cách.
1.2.3.2. Các từ đồng nghĩa phong cách
Các từ đồng nghĩa phong cách là những từ đồng nhất về ý nghĩa của
chúng và khác nhau về mặt phong cách.
Chúng ta có thể xác định được một từ nào đó là từ đồng nghĩa phong
cách khi đối chiếu nó với từ trung tính về phong cách tương ứng. Vì vậy, có
thể nói trong mỗi cặp từ đồng nghĩa phong cách hoặc trong mỗi dãy đồng
nghĩa phong cách chắc chắn sẽ có từ trung tính về phong cách.
Thực tế cho thấy, những từ đồng nghĩa phong cách xuất hiện nhiều ở tất
cả các từ loại của ngôn ngữ: danh từ, tính từ, các đại từ. Khác với các từ đồng
nghĩa ý niệm, các từ đồng nghĩa phong cách xuất hiện với số lượng lớn thậm
chí nhiều nhất ở các danh từ có ý nghĩa cụ thể. Điều này hoàn toàn hợp lý với
quy luật lôgích, bởi vì cùng một đối tượng cụ thể thuộc những thời đại khác
nhau và ở những địa phương khác nhau nó có thể có những tên gọi khác nhau.
Các từ đồng nghĩa phong cách thường không thuần nhất và có thể tách
chúng thành hai nhóm lớn:
Nhóm 1: các từ đã lỗi thời (các từ cổ).
Các từ cổ là những từ đã lỗi thời, bị thay thế, đẩy lùi khỏi cách sử dụng
toàn dân bằng các từ khác. Hiện nay chúng chỉ được sử dụng nhằm mục đích
phong cách nhất định và về cơ bản được dùng trong các tác phẩm văn học
nghệ thuật, bằng cách đó chúng hoạt động với tư cách là các từ đồng nghĩa
phong cách với các từ tiếng Việt hiện đại.
Các từ ngữ cổ đồng nghĩa với các từ ngữ hiện đại của tiếng Việt hiện

O du kích nhỏ giương cao súng
Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu.
(Tố Hữu, Tấm ảnh)

14


Từ O là phương ngữ đồng nghĩa với từ cô, mang sắc thái trung tính, đời
thường.
Trong số các từ đồng nghĩa với những từ mang sắc thái trung tính về
phong cách còn có các từ thuộc vốn từ vựng sách vở, những từ này thường
được sử dụng trong các tác phẩm văn chương, sách chuyên môn, hành chính công vụ… Về cơ bản đó là những từ được vay mượn từ tiếng Hán, ngôn ngữ
Ấn Âu, hoặc được tạo thành từ các hình vị được vay mượn từ tiếng Hán.
Chẳng hạn như: thân phụ - cha, thân mẫu - mẹ, thê tử - vợ con…
Các từ thuộc phong cách khẩu ngữ, bình dân, thông tục cũng có thể là từ
đồng nghĩa với các từ trung tính về phong cách. Thí dụ: cóc (thông tục) chẳng; tửu (khẩu ngữ) - rượu; …
1.2.3.3. Các từ đồng nghĩa ý niệm - phong cách
Các từ đồng nghĩa ý niệm - phong cách là những từ và các đơn vị tương
đương của chúng biểu thị cùng một khái niệm hoặc cùng một hiện tượng của
hiện thực khách quan và khác nhau không chỉ về màu sắc phong cách mà còn
khác nhau cả về sắc thái của ý nghĩa chung của mỗi từ.
Thí dụ: cặp đồng nghĩa hát và ca
Hát là từ được dùng phổ biến và là từ chính của cặp từ đồng nghĩa này:
hát chèo, hát tuồng, hát hay…
Ca thường dùng để nói về những điệu cổ truyền ở miền Trung và Nam
Bộ: ca cải lương, ca vọng cổ, ca Huế…
Như vậy, chúng ta có thể chia những từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ nói
chung, trong tiếng Việt nói riêng thành ba loại chung nhất. Đó là từ đồng
nghĩa ý niệm, từ đồng nghĩa phong cách, và từ đồng nghĩa ý niệm - phong
cách. Trong ba loại từ đồng nghĩa trên thì từ đồng nghĩa phong cách là những

đầy đủ về sắc thái biểu cảm, phong cách.

16


Thứ tư, một trong những nguồn bổ sung thêm cho ngôn ngữ các từ đồng
nghĩa là sự vay mượn từ vựng. Do vậy, các tên gọi thuần Việt và tên gọi vay
mượn đồng nghĩa với nhau đã song song tồn tại. Tuy nhiên, các từ thuần Việt
và từ vay mượn thường không đồng nghĩa tuyệt đối với nhau mà chỉ là gần
nghĩa. Giữa chúng có sự khác nhau về những nét nghĩa nhất định hoặc về sắc
thái biểu cảm, phong cách hay phạm vi sử dụng. Thí dụ: bệnh nhân (tiếng
Hán) - người bệnh (từ thuần Việt); kế mẫu (tiếng Hán) - mẹ ghẻ (tiếng Việt).
Thứ năm, một trong những con đường tạo ra từ đồng nghĩa là sự biến thể
của từ. Sự biến thể có thể là về ngữ âm, vị trí hay trật tự các thành tố trong từ,
hoặc cả những từ láy được tạo ra từ một từ gốc nào đó. Thí dụ: lầm - nhầm ,
đấu tranh - tranh đấu…
Tuy nhiên, theo Giáo sư Nguyễn Đức Tồn thì phương thức làm biến đổi
ngữ âm và trật tự thành tố của từ được xem như là một cách cấu tạo từ mới.
Vì vậy, "hợp lí hơn cả là nên coi các biến thể ngữ âm, biến thể trật tự thành tố
của từ đã có sự khác biệt nhau về các phương diện khác nhau của ý nghĩa là
những từ đồng nghĩa và chúng cần được thu thập vào dãy từ đồng nghĩa, dù
về mặt lịch sử chúng xuất phát từ cùng một gốc"[16, tr.222].
Thứ sáu, sự thâm nhập của những lớp từ hạn chế về lãnh thổ hoặc xã
hội vào ngôn ngữ toàn dân, là một con đường bổ sung khá nhiều từ đồng
nghĩa cho ngôn ngữ. Thí dụ: mẹ - má, u, bầm; bố - cha, ba,..(đồng nghĩa giữa
từ toàn dân và từ địa phương); lân - phốt pho; diêm sinh - lưu huỳnh (đồng
nghĩa giữa từ toàn dân và từ nghề nghiệp)...
Thứ bảy, một trong những nguồn để tạo ra từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ
đó là cách tạo từ mới bằng phương thức ghép nghĩa. Đó là việc dùng các yếu
tố đồng nghĩa (bao gồm cùng nghĩa và gần nghĩa), hoặc trái nghĩa ghép lại với

chương nghệ thuật); có khả năng khu biệt một cách tinh tế về thái độ, cảm
xúc, tránh sự trùng lặp trong khi diễn đạt, giúp cải tiến lối văn và khu biệt về
phong cách.

18


Mỗi sự vật có nhiều tên gọi khác nhau, mỗi tên gọi này phản ánh thái độ,
tình cảm, tâm trạng… khác nhau của chúng ta về sự vật ấy. Những từ đồng
nghĩa, có thể được dùng với mục đích tránh sự diễn đạt trùng lặp trong ngôn
ngữ nói riêng và trong các tác phẩm văn chương nói chung.
Thí dụ:
Một cái mũ len xanh nếu chị sinh con gái. Chiếc mũ sẽ đỏ tươi nếu chị
đẻ con trai . (Anh Đức, Con chị Lộc)
Hai từ sinh và đẻ là hai từ đồng nghĩa từ điển, được dùng với mục đích
thay thế, tránh sự lặp lại khi diễn đạt, đồng thời cho thấy sự phong phú, đa
dạng của ngôn ngữ.
Các từ đồng nghĩa với tư cách là phương tiện biểu hiện giàu hình ảnh có
giá trị vô cùng to lớn trong việc thể hiện sắc thái biểu cảm, đồng thời tạo ra
tính đa nghĩa cho văn bản nghệ thuật. Cùng là một từ nhưng giá trị của những
từ đồng nghĩa đem lại thì thể hiện rất nhiều ý nghĩa khác nhau.
Thí dụ: Cùng biểu thị khái niệm chết: chỉ người hay vật không còn sống thì
lại có những cách diễn đạt khác nhau:
Thà hy sinh tất cả chứ nhât định không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ ( Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn độc lập) .
Hay:
Bao giờ ông lão chầu trời
Thì em lại kiếm một người trai tơ.
(Ca dao)
Tuy nhiên, từ hy sinh được dùng để chỉ cái chết khi hiến thân để làm

quá khứ, nhưng từ tưởng đem lại ý nghĩa hình tượng cao hơn, sâu sắc hơn. Nó
còn nói lên sự hiện diện của quá khứ trong hiện tại, thậm chí có khả năng xảy
ra ở tương lai, còn từ nhớ chỉ là một lát cắt thời gian trong quá khứ, chưa biểu
đạt được hết ý nghĩa như từ tưởng đem lại.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status