Từ ngữ đồng nghĩa trong truyện ngắn của nam cao - Pdf 29

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Hà Nội, tháng 05 năm 2014.
Sinh viên Lê Thị Xiêm

LỜI CAM ĐOAN

Được sự hướng dẫn tận tình của TS.GVC. Đỗ Thị Thu Hương và sự
nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành khóa luận này. Tôi xin cam đoan đây là
công trình của riêng tôi, không trùng với bất kì kết quả của tác giả nào công
bố trước đây.Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, tháng 05 năm 2014.
Sinh viên Lê Thị Xiêm

1.1.1.2. Trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) 7
1.1.1.3. Trường liên tưởng 8
1.1.2. Các quan hệ ngữ nghĩa trong hệ thống từ vựng 8
1.1.2.1. Quan hệ bao gồm - nằm trong 8
1.1.2.2. Quan hệ toàn bộ - bộ phận 9
1.1.2.3. Quan hệ đồng nghĩa 9
1.1.2.4. Quan hệ trái nghĩa 9
1.2. Quan hệ đồng nghĩa 9
1.2.1. Khái niệm 9
1.2.2. Những căn cứ xác lập đồng nghĩa 11
1.2.3. Các kiểu từ đồng nghĩa 12
1.2.3.1. Đồng nghĩa hoàn toàn 12
1.2.3.2. Đồng nghĩa không hoàn toàn 12
1.2.4. Giá trị của từ đồng nghĩa 14
1.3. Đồng nghĩa từ vựng và đồng nghĩa lời nói 16
1.3.1. Đồng nghĩa từ vựng 16
1.3.2. Đồng nghĩa lời nói 17
Tiểu kết chương 1 20
CHƯƠNG 2. GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TỪ NGỮ ĐỒNG
NGHĨATRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO
2.1. Kết quả khảo sát 21
2.1.1. Phân loại kết quả khảo sát 21
2.1.2. Nhận xét 23
2.2. Hiệu quả sử dụng từ ngữ đồng nghĩa trong truyện ngắn Nam Cao 23
2.2.1. Nhận xét chung 23
2.2.2. Hiệu quả sử dụng từ ngữ đồng nghĩa trong truyện ngắn Nam Cao 24
2.2.2.1. Nhóm từ ngữ đồng nghĩa chỉ hành động cười 25
2.2.2.2. Nhóm từ ngữ đồng nghĩa chỉ hoạt động nói 30
2.2.2.3. Nhóm từ ngữ đồng nghĩa chỉ hành động khóc 36
2.2.2.4. Nhóm từ ngữ đồng nghĩa chỉ hoạt động di chuyển, dời chỗ 39

Là một trong những đại biểu ưu tú nhất của trào lưu văn học hiện thực
phê phán, Nam Cao với phong cách ngôn ngữ lạnh lùng, dửng dưng mà đầy
xót xa thương cảm, đằm thắm yêu thương đã để lại ấn tượng sâu sắc trong
lòng những người yêu văn học. Tác phẩm của Nam Cao không chỉ chứa đựng
nội dung tư tưởng sâu sắc mà còn thể hiện được tài năng độc đáo trên nhiều
phương diện như: nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật miêu tả tâm lý
nhân vật, cách sử dụng ngôn ngữ đối thoại, độc thoại, cách lựa chọn ngôn
từ…. Trong các yếu tố làm nên thành công đó, chúng ta phải kể đến cách lựa
2

chọn ngôn từ, đặc biệt là việc sử dụng từ ngữ đồng nghĩa trong truyện ngắn
của ông. Việc sử dụng từ ngữ đồng nghĩa trong truyện ngắn của Nam Cao đã
tạo ra những giá trị nghệ thuật đặc sắc, tạo nên phong cách nghệ thuật riêng
cho Nam Cao.
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Từ ngữ đồng
nghĩa trong truyện ngắn của Nam Cao”. Chúng tôi hy vọng việc nghiên cứu
này sẽ mang đến cho người dạy, người học và nghiên cứu văn chương Nam Cao
ở trường phổ thông một cái nhìn thiết thực và bổ ích.
2. Lịch sử vấn đề
Sử dụng từđồng nghĩa trong giao tiếp hàng ngày và trong sáng tác văn
học là hiện tượng rất phổ biến. Nhờ các từ đồng nghĩa mà tiếng Việt trở nên
phong phú, đa dạng và sinh động hơn trong cách biểu đạt.
Nghiên cứu về vấn đề đồng nghĩa nói chung và tìm ra hiệu quả sử dụng
của chúng trong ngôn ngữ nói riêng là phạm vi được nhiều nhà khoa học quan
tâm.Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu, các quan điểm về đồng nghĩa của
Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp… Đây là những công trình đặt nền móng
cho việc nghiên cứu về từ đồng nghĩa sau này.
Cùng nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ, qua khảo sát chúng tôi thấy có một
vài khóa luận cũng đi sâu tìm hiểu về hiện tượng đồng nghĩa nhưng ở các mức độ
khác nhau. Tiêu biểu như: “Đồng nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ và hiệu quả

đồng nghĩa nói chung, thấy được sự khác biệt tinh tế về nghĩa giữa các từ
đồng nghĩa. Từ đó khẳng định, từ đồng nghĩa là một trong những phương tiện
biểu đạt phong phú, đa dạng và sinh động của tiếng Việt.
3.2. Yêu cầu
- Nắm được các quan hệ ngữ nghĩa trong hệ thống từ vựng, đặc biệt là
quan hệ đồng nghĩa và các kiểu từ đồng nghĩa, giá trị của từ đồng nghĩa.
4

- Thống kê, phân loại và phân tích từ tư liệu thống kê được các kiểu từ
đồng nghĩa, giá trị sử dụng của từ đồng nghĩa trong truyện ngắn Nam Cao.
4. Phạm vi nghiên cứu
Do trong khuôn khổ của một khóa luận nên chúng tôi chỉ tập trung đi sâu
tìm hiểu từ ngữ đồng nghĩa trong các truyện ngắn của Nam Cao trước Cách
mạng tháng Tám trong cuốn Tuyển tập Nam Cao, NXB Thời Đại.
5. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Đối tượng
Đề tài chỉ tập trung đi sâu tìm hiểu từ, ngữ đồng nghĩa trong các tác
phẩm truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám.
5.2. Nhiệm vụ
- Tổng hợp những vấn đề lý thuyết về các quan hệ ngữ nghĩa trong hệ thống
từ vựng, đặc biệt là quan hệ đồng nghĩa, cách phân loại từ đồng nghĩa.
- Tập hợp, thống kê và xử lí ngữ liệu.
- Phân tích hiệu quả nghệ thuật sử dụng từ ngữ đồng nghĩa trong truyện
ngắn Nam Cao.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê tư liệu
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ học.
- Phương pháp tổng hợp.
7. Bố cục

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT

1.1. Trường nghĩa và các quan hệ ngữ nghĩa trong hệ thống từ vựng
1.1.1. Trường nghĩa
Trường nghĩa là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa.
Với các trường nghĩa, chúng ta có thể phân định một cách tổng quát
những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa
các trường nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường.
Theo F.de Saussure trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” đã chỉ ra
hai dạng quan hệ là quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến
tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc(hay quan hệ tộc tuyến, quan hệ hình).
Theo hai dạng quan hệ đó có thể có hai loại trường nghĩa là trường nghĩa
ngang (trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực
tuyến) [5, tr.170].
Ngoài ra, còn có một trường nghĩa nữa có tác dụng sâu sắc đối với việc
sử dụng từ ngữ là trường liên tưởng.
1.1.1.1. Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính)
Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc
rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính
(cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ [5, tr.185]
Ví dụ: Trường tuyến tính của từ “tay” là búp măng, mềm, ấm, lạnh,…
cầm, khoác… Trường nghĩa tuyến tính của từ “đi” là nhanh, chậm, tập tễnh,
khập khiễng,…, ra, vào, lên, xuống…
Trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu
trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc
điểm hoạt động của từ [5, tr.186]
7

1.1.1.2. Trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến)
a. Trường nghĩa biểu vật

Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng
từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm.
Ví dụ: Từ bò có thể gợi ra nhiều trường liên tưởng:
- Bò cái, bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ, nhai trầu…
-Sự cày bừa, cái cày, cái ách…
- Những ý niệm về tính thụ động mà chúng ta gặp trong các lối so sánh
như ngu như bò.
Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong
trường biểu vật, trường biểu vật và trường tuyến tính, tức là có quan hệ cấu
trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm [5, tr.187].
1.1.2. Các quan hệ ngữ nghĩa trong hệ thống từ vựng
1.1.2.1. Quan hệ bao gồm - nằm trong
Quan hệ bao gồm - nằm trong là quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ có nghĩa
rộng hẹp khác nhau cùng thuộc một trường biểu vật. Có thể nói đó là quan
hệmà từ có nghĩa chỉ loại lớn bao gồm nghĩa của từ chỉ những loại nhỏ và các
từ chỉ loại nhỏ nằm trong nghĩa của các từ chỉ loại lớn.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm này ta tìm hiểu qua một số ví dụ sau:
Ví dụ 1: Nghĩa của từ “cây” bao gồm nghĩa của các từ câyđào, cây quất,
cây lan, cây mai,…. Nghĩa của các từ cây đào, cây quất, cây lan, cây mai,…
nằm trong nghĩa của từ “cây”.
Ví dụ 2: Nghĩa của từ chỉ trạng thái tâm lí “vui” bao gồm nghĩa của các
từ: phấn khởi, hào hứng, vui vẻ…. Các từ phấn khởi, hào hứng, vui vẻ… nằm
trong nghĩa của từ “vui”.
9

1.1.2.2. Quan hệ toàn bộ - bộ phận
Quan hệ toàn bộ - bộ phận là quan hệ giữa các bộ phận cấu thành một sự
vật được xem là một thể thống nhất, hoàn chỉnh.
Ví dụ: “Cây” là một toàn bộ do các bộ phận cành, lá, rễ, hoa, quả,… hợp
thành.

khác nhau về âm thanh và có phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ
nghĩa hoặc sắc thái phong cách nào đó, hoặc đồng thời cả hai.
Ví dụ: yếu, yếu ớt, yếu đuốilà những từ đồng nghĩa trong tiếng Việt.
Các từ chỉ đồng nghĩa với nhau khi đã cùng thuộc một trường nghĩa.
Điều kiện tiên quyết để phát hiện ra các đơn vị đồng nghĩa là dựng ra được
các trường nghĩa. Một trường nghĩa có thể phân hóa thành những trường nhỏ,
những trường nhỏ này lại phân hóa thành những trường nhỏ hơn nữa. Các từ
nằm trong các trường nghĩa càng nhỏ, nằm trong nhóm càng nhỏ thì càng
đồng nghĩa, trừ khi giữa các đơn vị từ vựng trong cùng một trường nhỏ xuất
hiện các nét nghĩa trái ngược nhau.
Ví dụ: Nghĩa di chuyểncó thể phân hóa thành hai trường nhỏ hơn A làm
cho X di chuyển vàX tự di chuyển(A kí hiệu chủ thể tác động, X là sự vật, chủ
thể chịu tác động). Trong trường nhỏA làm cho X di chuyểncó các từ: kéo,
giật, lôi,… và đẩy, đùn, xô…. Những từ này đều đồng nhất về các nét nghĩa A
làm cho X di chuyển, trên mặt nền, tốc độ bình thường nhưng khác nhau về
nét nghĩa chiều di chuyển.
Hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng có nhiều mức độ tùy theo số lượng
các nét nghĩa chung trong các từ. Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các từ chỉ
có chung một nét nghĩa đồng nhất. Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lên
thì mức độ đồng nghĩa càngcao. Mức độ đồng nghĩa cao nhất xảy ra khi các
từ đó có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉ
khác ở một hoặc vài nét nghĩa cụ thể nào đó.
11

Điều này cũng có nghĩa là, khi chúng ta phân chia các trường lớn thành
các trường nhỏ và nhóm nghĩa nhỏ thì đồng thời chúng ta cũng tiến tới gần
các nhóm đồng nghĩa mỗi lúc một cao.
1.2.2. Những căn cứ xác lập đồng nghĩa
Quan hệ đồng nghĩa giữa các đơn vị từ vựng chỉ xuất hiện khi:
Các nét nghĩa đầu trong nghĩa biểu niệm của các từ đồng nhất với nhau.

cao, thấp khác nhau theo các trường do các đơn vị từ vựng có quan hệ khái
quát - loại biệt khác nhau tạo nên.
1.2.3. Các kiểu từ đồng nghĩa
1.2.3.1. Đồng nghĩa hoàn toàn
Là những từ cùng chỉ một sự vật, hiện tượng, cùng biểu thị một khái
niệm. Nói chung, chúng có thể thay thế cho nhautrong mọi trường hợp mà
không làm ảnh hưởng đến ý nghĩa của câu.
Ví dụ : Quả và trái là những từ đồng nghĩa hoàn toàn, khác nhau về tính
phương ngữ (quả thuộc phương ngữ Bắc Bộ, trái thuộc phương ngữ Nam Bộ)
nhưng chúng đều có nét nghĩa chung là chỉ bộ phận của cây do bầu nhụy phát
triển thành.
1.2.3.2. Đồng nghĩa không hoàn toàn
Đồng nghĩa không hoàn toàn là những từ đồng nghĩa mà nghĩa của các
từ trong cùng một dãy có sự khác nhau ít nhiều về sắc thái nghĩa, hoặc sắc
thái biểu vật, hoặc sắc thái biểu niệm, hoặc sắc thái biểu cảm, hoặc phong
cách chức năng.
- Đồng nghĩa khác nhau về sắc thái ý nghĩa
Ví dụ: Trong tiếng Việt có rất nhiều từ chỉ sự chết của con người như: hi
sinh, từ trần, tạ thế, trăm tuổi, khuất núi, về với tổ tiên, qua đời, mất đi, nhắm
mắt, tắt nghỉ, tắt thở, chết, thiệt mạng, bỏ mạng, bỏ xác, toi mạng, toi xác,
13

ngoẻo củ từ, ăn đất, ngủ với giun… Chúng đều là những từ đồng nghĩa khác
nhau về sắc thái. Ta có thể phân tích một số từ trong nhóm từ đồng nghĩa trên
để thấy rõ được điều đó:
Chết là “hết sống” nói chung, không kể người, động vật, thực vật. Chết
là nghĩa khái quát, làm cơ sở để giải nghĩa các từ khác.
Từ trần, tạ thế dùng cho người có địa vị xã hội nhất định. Qua đờikhông
bị ràng buộc bởi nét nghĩa này. Cả ba từ đều chỉ dùng cho những người lớn
tuổi, đứng tuổi hoặc già.

quy luật chi phối sự phát triển của tiếng Việt. Nói cách khác, từ đồng nghĩa có
một giá trị vô cùng to lớn, ta hãy xét một số ví dụ sau để thấy được giá trị của
từ đồng nghĩa:
Ví dụ 1:
“Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”
(Bếp lửa-Bằng Việt)
Các từ đồng nghĩa trong đoạn thơ trên là: bảo, dạy. Cả hai từ này đều có
một nét nghĩa chung đó là: nói cho người khác biết những điều phải trái,
đúng sai để người khác biết mà làm, mà tránh. Đồng thời, chúng cũng có
chung sắc thái biểu cảm: thể hiện thái độ ân cần chỉ bảo, yêu thương của
người bà dành cho cháu. Tuy nhiên, bên cạnh nét nghĩa chung, các từ đồng
nghĩa trên còn mang nhũng sắc thái cơ bản khác nhau. Bảo là hướng dẫn cho
cháu điều cháu chưa biết, mang tính sai khiến và cháu phải làm theo. Dạy là
nhấn mạnh đến việc truyền lại tri thức hoặc kĩ năng một cách ít nhiều có hệ
thống, phương pháp. Tức là người bà ở đây phải giúp cháu biết cách làm việc
gì khi cháu chưa biết làm việc đó. Do những điểm khác nhau đó mà hai từ
15

đồng nghĩa được sử dụng linh hoạt trong các câu thơ giúp diễn đạt nội dung
chính xác hơn đó là tình cảm của người bà dành cho cháu, sự quan tâm và
tình yêu thương dành cho cháu. Tình cảm ấy được thể hiện ngay khi dạy bảo
cháu, đó là bà luôn dạy cháu những điều hay, lẽ phải, những điều phải làm
trong cuộc sống.
Ví dụ 2: Trong tác phẩm “Kép tư bền” của nhà văn Nguyễn Công Hoan,
lời nói của ông chủ rạp kịch cũng có sự thay đổi theo thái độ, mục đích của
mình:
“Một hôm, ông chủ rạp Kịch trường đến nhà anh chơi. Sau một vài
câu hỏi thăm chiếu lệ, ông ta nghêm sắc mặt, nhắc đến món nợ:

chính xác, gợi hình ảnh, có khả năng bộc lộ tình cảm, cảm xúc của con người
nhưng lại phải hàm súc Để đáp ứng được những yêu cầu đó, chỉ có từ đồng
nghĩa của tiếng Việt mới có đầy đủ khả năng mà thôi. Mỗi từ đồng nghĩa
trong tiếng Việt là một bức tranh, một mảnh nhỏ của một tác phẩm văn học cô
đọng lại trong một từ. Cho nên các từ đồng nghĩa là những phương tiện quý
báu của nghệ thuật văn học. E.I. Efimốp đã chỉ ra rằng: “Đằng sau mỗi từ
đồng nghĩa là một sự độc đáo về ý nghĩa và phong cách, nghĩa là những sắc
thái rất tinh tế, đặc biệt”[13, tr.318].
1.3. Đồng nghĩa từ vựng và đồng nghĩa lời nói
1.3.1. Đồng nghĩa từ vựng
Đồng nghĩa từ vựng hay còn gọi là đồng nghĩa cố định là hiện tượng chỉ
xảy ra giữa các đơn vị ngôn ngữ có sẵn trong hệ thống ngôn ngữ.
Chẳng hạn để biểu thị hành động nhìn một vật nào đó của con người,
tiếng Việt có rất nhiều từ đồng nghĩa như: nhìn, lườm, nhòm, ngó, liếc,
trông Đây là những đơn vị từ vựng thuộc cấu trúc có sẵn trong Từ điển
đồng nghĩa, mang tính chất cố định, chỉ khác về mặt phong cách chức năng và
phạm vi sử dụng.
17

Do chỗ các từ có chung nét nghĩa đồng nhất đều đã được đưa về từng
trường nghĩa dọc cho nên hiện tượng đồng nghĩa chỉ xuất hiện trong từng
trường nghĩa một.Từ đó, có thể suy ra rằng:
Các từ chỉ đồng nghĩa với nhau khi đã thuộc cùng một trường nghĩa.
Ví dụ: Loạt từ đồng nghĩa chỉ “phẩm chất tích cực của tâm tính”: tốt, tốt
bụng, tốt dạ, tốt lòng, hiền, hiền lành, khoan dung, độ lượng, từ bi
Tuy nhiên, không chỉ riêng số lượng các nét nghĩa chung là đủ quyết
định các từ đồng nghĩa trong trường. Phải nói thêm rằng các nét nghĩa đó
không loại trừ lẫn nhau. Nếu như hai từ trong cùng một trường đồng nhất về
tất cả các nét nghĩa, trừ hai nét nghĩa nào đó chống nhau, loại trừ lẫn nhau thì
lập tức, với sự xuất hiện nét nghĩa loại trừ lẫn nhau chúng không còn là từ

Mỗi từ mà nhà thơ sử dụng đều nói về cái chết nhưng ở những mức độ khác
nhau. Nói cách khác, nhà thơ đã sử dụng biện pháp nói giảm, nói tránh để làm
nhẹ hóa cái chết của người chiến sĩ, làm cho người đọc cảm nhận được bản
lĩnh anh hùng của người lính Tây Tiến nói riêng và người lính trong thời kì
kháng chiến chống Pháp nói chung.
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất”
(Tây Tiến -Quang Dũng)
Thứ 2, hiện tượng đồng nghĩa lời nói thường bộc lộ cảm xúc, tâm trạng,
tính cách, sự đánh giá của người nói nhưng đồng thời cũng “khêu gợi” tình
cảm, cảm xúc nơi người đọc.
Ví dụ: Hình ảnh chị Trần Thị Lý - một người con gái kiên cường, gan
dạ, dũng cảm đã xuất hiện trong tác phẩm “Người con gái Việt Nam” với
nhiều tên gọi khác nhau. Mỗi tên gọi là sự trân trọng, khâm phục, là tấm lòng
19

yêu mến của nhà thơ dành cho chị. Việc Tố Hữu gọi tên chị bằng những từ
đồng nghĩa khác nhau không chỉ làm cho bài thơ trở nên sinh động, hấp dẫn
mà còn khiến cho người đọc phải suy ngẫm, phải chiêm nghiệm về hình ảnh
người con gái Việt Nam kiên cường, bất khuất.
Em là ai? Cô gái hay nàng tiên
Không giết được em, người con gái anh hùng
Em trở về, người con gái quang vinh
Hỡi em, người con gái Việt Nam
(Người con gái Việt Nam -Tố Hữu)
Thứ ba, hiện tượng đồng nghĩa lời nói mang đến giá trị cho tác phẩm.
Việc sử dụng các từ đồng nghĩa trong tác phẩm của mình làm cho tác

bộ phận.Đồng thời, chúng tôi đã tìm hiểu được khái niệm từ đồng nghĩa, cách
phân loại từ đồng nghĩa và thấy được giá trị to lớn của hiện tượng đồng nghĩa từ
vựng và đồng nghĩa lời nói. Đây là hai hiện tượng đã góp phần làm nên sự
phong phú, sinh động cho ngôn ngữ tiếng Việt. Tất cả các vấn đề lý thuyết mà
chúng tôi đề cập ở chương 1 đều là những vấn đề lý thuyết cơ bản, là cơ sở để
khảo sát, phân loại và tìm hiểu về giá trị sử dụng của từ ngữ đồng nghĩa trong
truyện ngắn Nam Cao.

Trích đoạn Nhóm từngữ đồng nghĩa chỉ hoạt động di chuyển, dời chỗ Nhóm từngữ đồng nghĩa chỉ hoạt động ăn Nhóm từngữ đồng nghĩa chỉ giới nữ nói chung Nhóm từngữ đồng nghĩa chỉ giới nam nói chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status