đặc sắc bút pháp tự sự trong truyện ngắn của nam cao và lỗ tấn - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Mộng Thùy

ĐẶC SẮC BÚT PHÁP TỰ SỰ
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO VÀ LỖ TẤN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Mộng Thùy

ĐẶC SẮC BÚT PHÁP TỰ SỰ
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO VÀ LỖ TẤN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HOÀNG TRỌNG QUYỀN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011



T
1

MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 4
T
1

T
1

1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................. 4
T
1

T
1

2. Mục đích nghiên cứu....................................................................................................... 6
T
1

T
1

3. Giới hạn của đề tài .......................................................................................................... 7
T
1

T
1

DÒNG VĂN XUÔI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC ............................................ 17
T
1

T
1

1.1. Bức tranh thời đại và con người của Nam Cao và Lỗ Tấn .................................... 17
T
1

T
1

1.1.1. Bức tranh thời đại ................................................................................................. 17
T
1

T
1

1.1.2. Con người Nam Cao và Lỗ Tấn ........................................................................... 23
T
1

T
1

1.2. Vị trí truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn trong dòng văn xuôi Việt Nam và
Trung Quốc ........................................................................................................................ 30

1

T
1

2.1. Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn ................................................................. 44
T
1

T
1

2.1.1. Khái niệm.............................................................................................................. 44
T
1

T
1

2.1.2. Phân loại ............................................................................................................... 47
T
1

T
1

2.2. Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn ...................... 50
T
1



CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
NAM CAO VÀ LỖ TẤN............................................................................................ 74
T
1

T
1

3.1. Ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn .......................................... 74
T
1

T
1


3.1.1. Ngôn ngữ trần thuật đa thanh, phức điệu ............................................................. 74
T
1

T
1

3.1.2. Ngôn ngữ nhân vật................................................................................................ 80
T
1

T
1

T
1

T
1

TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 115
T
1

T
1


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Toàn bộ hoạt động của một quá trình sáng tác văn chương được tạo thành bởi bốn yếu
tố: thời đại - nhà văn - tác phẩm - bạn đọc. Trong số những yếu tố đó, tác phẩm văn học
thường được xem là chỉnh thể trung tâm, là bộ mặt của đời sống văn học. Lịch sử văn
chương của nhân loại có nhiều hiện tượng gặp gỡ giữa các tác phẩm thuộc những quốc
gia khác nhau. Những sự gặp gỡ này có thể do quá trình giao lưu văn hóa, văn học diễn
ra trên toàn thế giới dẫn đến sự tiếp thu những tinh hoa trong nghệ thuật văn chương lẫn
nhau. Nhưng trên thực tế, một số tác phẩm văn học dù có điểm tương đồng ở một số
phương diện nào đó nhưng hoàn toàn không chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau. Chính vì nhiều
vấn đề như thế mà bộ môn văn học so sánh ra đời. Mặc dù ra đời khá muộn nhưng giới
nghiên cứu văn học đã thật sự thừa nhận giá trị to lớn và tất yếu của bộ môn văn học so
sánh. Vấn đề tiếp cận các tác phẩm văn học trên cơ sở lí luận của bộ môn văn học so
sánh đã, đang và sẽ còn đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong nghiên cứu văn chương.
Nhằm thể hiện sự hứng thú của bản thân và muốn góp thêm một công trình ứng dụng
vào bộ môn “sinh sau đẻ muộn” này, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực của bộ

Phong Lê đã nhận xét: “Nam Cao - Nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa
lớn”.
Có một điều thú vị là giữa hai nhà văn lớn ở hai quốc gia “núi liền núi, sông liền sông”
vốn có nhiều mối quan hệ về lịch sử, văn hóa này lại có những điểm “gặp gỡ” nhau trong
sáng tác nghệ thuật văn chương. Trước nay, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng Nam
Cao và Lỗ Tấn là hai hiện tượng văn chương song hành dù họ thuộc hai thế hệ, hai quốc gia
khác nhau. Nhiều người đã cố gắng tìm hiểu và lí giải nguyên nhân của sự “gặp gỡ” này dựa
trên việc tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt trong các sáng tác của hai nhà văn. Có
nhiều công trình đã đi sâu so sánh giữa Nam Cao và Lỗ Tấn về các phương diện: đề tài,
nhân vật…nhằm lí giải cho sự “gặp gỡ” về động cơ sáng tác, về quan điểm, tư tưởng nghệ
thuật của hai nhà văn. Nhưng những công trình so sánh đó vẫn chưa làm người viết thỏa
mãn khi tìm hiểu về hai tác gia này nên người viết đã mạnh dạn tiếp tục đi vào đề tài so sánh
về Nam Cao và Lỗ Tấn.
Như chúng ta biết: một tác phẩm văn chương là sự thống nhất biện chứng giữa cái chủ
quan và cái khách quan. Cái khách quan chính là khách thể - hiện thực cuộc sống được
tái hiện thông qua lăng kính chủ quan của chủ thể. Cái chủ quan chính là hình ảnh của
chủ thể được thể hiện trong hình tượng tác phẩm từ hiện thực khách quan. Tác phẩm
nghệ thuật là tấm gương độc đáo phản ánh cùng lúc hai đối tượng là: cuộc sống được tái
tạo và người sáng tạo ra cuộc sống ấy trong tác phẩm. Tác phẩm văn chương vừa đại
diện cho cuộc sống nhiều mặt của hiện thực khách quan, vừa là hiện thân cho lí trí, cảm
xúc, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của người nghệ sĩ. Nói cách khác, tác phẩm
là thế giới nhân loại nhưng cũng là cái tôi cá nhân của nhà văn. Một tác phẩm văn học là


sản phẩm của quá trình sáng tạo nghệ thuật: từ hiện thực cuộc sống được từng nhà văn
nhìn nhận và bằng cách riêng của mình mà phản ánh vào bên trong tác phẩm.
Rõ ràng, những tác phẩm văn học có giá trị thực sự phải là những bông hoa đẹp cả về
nội dung lẫn hình thức. Và với sức sống mạnh mẽ của mình, những tác phẩm của Nam
Cao và Lỗ Tấn đã khẳng định nó là những bông hoa đẹp như thế.
Trở lại vấn đề so sánh giữa Nam Cao và Lỗ Tấn, người viết nhận thấy: chúng ta đã

văn học so sánh nhằm ứng dụng vào việc nghiên cứu các tác phẩm văn chương Việt
Nam.

3. Giới hạn của đề tài
3.1. Giới hạn về nội dung
Khi nói đến bút pháp tự sự trong loại hình tự sự nói chung và trong truyện ngắn nói
riêng là đang chạm đến rất nhiều vấn đề ở nghệ thuật viết tự sự như: cách tổ chức các sự
kiện, cách xây dựng nhân vật, cách sử dụng các yếu tố không gian - thời gian nghệ thuật,
cách dùng từ, đặt câu, cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật, cách sử dụng ngôi kể và
điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu…Vì thế, trong giới hạn của một luận văn,
khó có thể giải quyết thấu đáo hết mọi vấn đề thuộc phạm vi bút pháp tự sự. Với đề tài
“Đặc sắc bút pháp tự sự trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn”, ngay từ đầu, người
viết đã xác định là không đi vào tất cả mọi phương diện trong bút pháp tự sự của Nam
Cao và Lỗ Tấn mà chỉ nghiên cứu các vấn đề: điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng
điệu trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn. Người viết cũng thật sự mong muốn
sẽ có điều kiện mở rộng việc nghiên cứu để tìm hiểu toàn diện hơn, sâu sắc hơn đề tài
này trong một công trình nghiên cứu khác.

3.2. Giới hạn về tác phẩm khảo sát
Để lấy dẫn chứng minh họa cho những nhận định được đưa ra trong luận văn, trong
quá trình thực hiện đề tài so sánh giữa Nam Cao và Lỗ Tấn về bút pháp tự sự trong
truyện ngắn, người viết đã chọn một số truyện ngắn tiêu biểu của hai nhà văn để khảo
sát. Cụ thể phạm vi truyện ngắn được khảo sát như sau:
Đối với Lỗ Tấn – đại văn hào Trung Quốc, người viết nghiên cứu vấn đề bút pháp tự
sự của nhà văn qua các truyện ngắn được in trong quyển Lỗ Tấn - Truyện ngắn (Trương
Chính dịch, NXB Văn học, 2009), gồm 25 truyện (14 truyện trong tập Gào thét, 11
truyện trong tập Bàng hoàng, 3 truyện trong tập Chuyện cũ viết lại). Người viết chủ yếu


đi vào khảo sát 25 truyện trong hai tập Gào thét và Bàng hoàng. Riêng 3 truyện trong tập



Thế nhưng, trong giới hạn của đề tài mà chúng tôi thực hiện đã được nêu ở trên, trong
phần này, người viết không tập trung tìm hiểu tất cả những công trình đã nghiên cứu về
Nam Cao và Lỗ Tấn nói chung. Người viết chỉ đi sâu tìm hiểu những công trình, những
nhận định của những nhà nghiên cứu đi trước có đề cập đến bút pháp tự sự, đặc biệt là ở
các phương diện điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn của
Nam Cao và Lỗ Tấn.
Đối với Nam Cao, có các công trình nghiên cứu sau:
Dẫn theo lời của Hà Minh Đức, trong Lời giới thiệu tập Đôi lứa xứng đôi (NXB
Đời mới, 1941), Lê Văn Trương viết: “Giữa lúc người ta đang đắm mình trong những
chuyện tình thơ mộng và hùa nhau phụng sự cái thị hiếu tầm thường của độc giả, ông
Nam Cao đã mạnh dạn đi theo một lối riêng, nghĩa là ông không thèm đếm xỉa đến cái
sở thích của độc giả. Những cạnh tài của ông đã đem đến cho văn chương một lối văn
mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của con người biết tin ở tài năng mình,
ở thiên chức của mình” [25; 3]. Như vậy, mặc dù không trực tiếp nhưng Lê Văn Trương
đã đánh giá được ngôn ngữ và giọng điệu rất riêng trong các sáng tác của Nam Cao.
Về ngôn ngữ trong truyện của Nam Cao, trong chuyên luận Nam Cao - nhà văn
hiện thực xuất sắc (NXB Văn học, 1961), tác giả Hà Minh Đức đã đưa ra những đánh
giá sơ bộ ban đầu: “Ngôn ngữ trong tác phẩm của Nam Cao giản dị như nội dung các
truyện mà tác giả miêu tả. Nam Cao ưa lối đặt câu ngắn gọn, phô diễn tư tưởng, biểu
đạt ý tình một cách chính xác, bình dị” [24; 178].
Trong cuốn Bốn mươi năm nói láo (xuất bản ở Sài Gòn, 1969), Vũ Bằng có kể lại
ấn tượng đầu tiên về phương diện ngôn ngữ khi đọc một số truyện của Nam Cao: “ngay
mấy câu đầu, đã thích thú vì lối hành văn với những câu kệch cỡm, nghịch ngợm, có khi
dớ dẩn nhưng đậm đà có duyên” [9; 152].
Cảm nhận sâu sắc về giọng văn Nam Cao, trong Khải luận (Tổng tập Văn học Việt
Nam, tập 30A, NXB Khoa học xã hội và NXB Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1984),
Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: “Văn Nam Cao vừa ngậm ngùi buồn tủi, vừa cay đắng
chua chát lại pha chút tự trào cười ra nước mắt” [56; 41]. “Đây là một thứ ngôn ngữ đi

đóng góp mới mẻ của Nam Cao về phương diện ngôn ngữ so với các cây bút văn xuôi
của nhóm Tự lực văn đoàn chính là trong truyện của Nam Cao ngoài ngôn ngữ tác giả
còn có ngôn ngữ nhân vật: “ngôn ngữ ít nhiều phức điệu, tổ chức được những mạng lưới
phức tạp gồm cả ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong, cả ngôn ngữ tác giả, ngôn


ngữ nhân vật, thậm chí của những sự đan xen và nhòe lẫn vào nhau của hai ngôn ngữ
ấy.” [5; 46].
Về phương diện trần thuật trong văn xuôi của Nam Cao, trong quyển Nam Cao,
một đời người, một đời văn (NXB Giáo dục, 1993), nhà nghiên cứu Nguyễn Văn
Hạnh nhận xét: “Mặc dù rất đậm đà tính chất trữ tình, người ta vẫn nhận ra hiện
tượng đa thanh nhiều tiếng nói: Tiếng nói tác giả, tiếng nói người kể chuyện ở ngôi
thứ nhất và tiếng nói của nhiều nhân vật khác” [31; 41]. Theo Nguyễn Văn Hạnh,
đây chính là nét độc đáo của ngôn ngữ Nam Cao ở phương diện trần thuật.
Trong chuyên luận Nam Cao - phác thảo sự nghiệp và chân dung (NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội, 1997), tác giả Phong Lê cho rằng đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nam
Cao mang tính đa thanh, bao gồm: “ngôn ngữ tác giả mang giọng điệu riêng” được xem
là chủ âm, kết hợp với “ngôn ngữ nhân vật, người nào giọng nấy, không ai giống ai”
[50; 83].
Cũng quan tâm đến phương diện ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nam Cao, trong
bài báo Phong cách truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng (Tạp chí Văn học số
2/1997), Bùi Công Thuấn chủ yếu đề cập đến phương diện ngôn ngữ: “kiểu câu ngắn và
cộc”, “chất giọng Bắc Bộ” [79; 194] như là những đặc điểm của phong cách Nam Cao.
Trong quyển Nam Cao về tác gia và tác phẩm (NXB Giáo dục, 1998), tác giả Bích
Thu có đề cập đến vấn đề giọng điệu trong truyện ngắn của Nam Cao: “Nam Cao có “đóng
góp lớn trong việc đa thanh hóa giọng điệu tự sự” và “sự chuyển hóa giọng điệu tạo nên
trữ lượng thẩm mĩ không vơi cạn trong sáng tác Nam Cao” [78; 33].
Với luận án tiến sĩ Thi pháp truyện ngắn Nam Cao (2000), Nguyễn Hoa Bằng đã
khảo sát và phát hiện được tính chất đa thanh của ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao thể
hiện ở sự phức hợp các loại giọng, các chất giọng, phức hợp các tiếng nói xã hội: “Ngôn

dẫn lời của nhà nghiên cứu văn học Mỹ - Robe Diyanni đánh giá về tác phẩm của Lỗ
Tấn: “Tác phẩm của ông có mang tính hiện thực và tính châm biếm một cách tuyệt diệu
ở giọng điệu và phong cách” [81; 333].
Trong quyển Bài giảng văn học Trung Quốc (NXB Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí
Minh, 2000), tác giả Lương Duy Thứ nhận định: “Cũng để phản ánh đặc trưng tinh
thần của nhân vật, Lỗ Tấn rất chú ý khai thác những câu nói ngắn gọn, có thể gợi lên
cả một chân trời suy nghĩ” [82; 351], truyện ngắn của Lỗ Tấn có giọng “hài hước và
châm biếm” [82; 357], “qua “tôi” – nhân vật kể chuyện ngôi thứ nhất để phát triển
câu chuyện…Bằng cách này, tác giả có điều kiện bộc bạch trực tiếp quan điểm tư


tưởng của mình…hoặc dễ để tư tưởng tình cảm của mình thấm đượm vào nhân vật
“tôi”, gây một cảm xúc mạnh có thể lôi cuốn độc giả” [82; 356].
Trong lời giới thiệu cho quyển sách Lỗ Tấn – Truyện ngắn (NXB Văn học, 2009),
Trương Chính có đưa ra nhận xét về giọng điệu trong truyện ngắn của Lỗ Tấn như sau:
“Đối với những nhân vật phản diện, ông có một giọng mỉa mai, châm biếm chua xót, mà
đối với những nhân vật chính diện, ông cũng có một cái nhìn tinh nghịch, đùa cợt. Ông
không vì có cảm tình với họ mà mất sáng suốt, không nhìn thấy khuyết điểm của họ; ông
giễu cợt kẻ thù và cũng giễu cợt cả những người bạn, khi người bạn đó có những tính xấu
cần phải bỏ. Tả AQ, ông làm cho người đọc vừa buồn cười, vừa thương hại; ông làm ra
vẻ thản nhiên, lạnh lùng, nhưng bên trong thì giấu một mối đồng tình chân thực” [15; 27].
Ngoài những tài liệu đã được in thành sách của các nhà nghiên cứu có uy tín như đã
trình bày, còn có một số công trình luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ cũng quan tâm đến một số
phương diện trong bút pháp tự sự truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn như:
Trong đề tài Thi pháp truyện ngắn Lỗ Tấn: chuyên ngành Văn học các nước châu Á
(Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Ngữ văn, NXB Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1988), Lê
Huy Tiêu nhận định về phương diện ngôn ngữ trong truyện Lỗ Tấn:“Ngôn ngữ truyện
ngắn của Lỗ Tấn đã chuyển trọng tâm từ chức năng giao lưu ngôn ngữ của các nhân vật
sang ngôn ngữ bên trong của nhân vật được soi sáng bằng những tâm lí đa dạng và
phức tạp.” [86; 105]. Về phương diện giọng điệu, Lê Huy Tiêu nhận xét: “Giọng điệu

phương diện điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn của Nam
Cao và Lỗ Tấn.

5.2. Phương pháp so sánh lịch sử
Nhằm khẳng định chắc chắn cho tài năng nghệ thuật của Nam Cao và Lỗ Tấn được
thể hiện ở bút pháp tự sự trong truyện ngắn, trong quá trình làm luận văn, người viết có
sử dụng phương pháp này để so sánh nghệ thuật viết truyện ngắn của Nam Cao với các
nhà văn hiện thực Việt Nam cùng thời (Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam…)
và so sánh nghệ thuật viết truyện của Lỗ Tấn với nghệ thuật viết văn xuôi tự sự truyền
thống ở Trung Quốc.

5.3. Phương pháp hệ thống
Mặc dù đi sâu so sánh về phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn của hai nhà văn,
nhưng thiết nghĩ, bất cứ một thủ pháp nghệ thuật nào cũng nhằm chuyển tải một ý đồ
nhất định của nhà văn về mặt nội dung, tư tưởng. Bất cứ sáng tác nào của một nhà văn
đều là một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn, mang tính hệ thống rõ rệt. Vì thế, trong quá


trình thực hiện đề tài này, người viết không tìm hiểu một cách biệt lập về bút pháp tự sự
mà nghiên cứu bút pháp tự sự trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn với tư cách là
một hệ thống thẩm mĩ, nghiên cứu nó trong mối quan hệ với nội dung, tư tưởng trong
truyện ngắn của hai nhà văn.

5.4. Phương pháp thực chứng
Phương pháp này được sử dụng khi người viết dùng các cứ liệu trong các truyện ngắn
của hai nhà văn để làm dẫn chứng cụ thể cho những nhận định mà người viết đưa ra
trong bài nghiên cứu của mình. Điều này làm cho những nhận định đưa ra có sức thuyết
phục hơn.

5.5. Phương pháp miêu tả, phân tích, tổng hợp

(Trung Quốc) về phương diện bút pháp tự sự trong truyện ngắn. Công trình này giúp
chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về tài năng nghệ thuật văn chương của hai nhà
văn. Điều này sẽ góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu, giảng dạy truyện ngắn của
Nam Cao và Lỗ Tấn theo khuynh hướng văn học so sánh, thi pháp học, tự sự học những hướng tiếp cận văn chương mới mẻ và có hiệu quả cao.

7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn có 3 chương chính như sau:
Chương 1: Vị trí truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn trong dòng văn xuôi Việt Nam
và Trung Quốc
Chương 2: Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn


CHƯƠNG 1:VỊ TRÍ TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO VÀ LỖ TẤN
TRONG DÒNG VĂN XUÔI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Đã có rất nhiều công trình lí giải nguyên nhân sự “gặp gỡ” giữa Nam Cao và Lỗ Tấn. Và
đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở quan điểm cho rằng sự “gặp gỡ” trong sáng
tác của hai nhà văn này có nguyên nhân xuất phát từ sự tương đồng về thời đại, hoàn
cảnh xã hội mà hai nhà văn đã sinh sống; về nguồn gốc xuất thân; về sự ảnh hưởng của
chủ nghĩa hiện thực phương Tây, đặc biệt là văn học Nga trong sáng tác của hai nhà văn.
Những yếu tố khách quan đó đã in dấu ấn đậm nét trong quan niệm, trong tư tưởng
sáng tác văn chương của Nam Cao và Lỗ Tấn; chi phối đến việc lựa chọn nội dung và
hình thức nghệ thuật trong các sáng tác của hai nhà văn. Vì thế, khi tìm hiểu về sự “gặp
gỡ” trong bút pháp tự sự của Nam Cao và Lỗ Tấn, cần phải làm rõ sự tương đồng về bức
tranh thời đại và con người của hai nhà văn. Điều đó được xem như là tiền đề, là cơ sở
để lí giải nguyên nhân sự “gặp gỡ” trong sáng tác của Nam Cao và Lỗ Tấn, không chỉ ở
phương diện nội dung, đề tài mà còn ở phương diện kĩ thuật viết tự sự, đặc biệt là tài
năng viết tự sự của hai nhà văn đã được kết tinh tuyệt vời ở thể loại truyện ngắn.


bể máu của chiến tranh. Cuộc cách mạng Tân Hợi nổ ra với sứ mạng chống đế quốc
phong kiến những tưởng có thể đem đến cuộc sống mới cho nhân dân Trung Hoa, thế
nhưng, đó chỉ là một giấc mơ ảo tưởng. Người Trung Hoa không có được bất kì một lợi
ích nào từ cuộc cách mạng. Ngược lại, họ lại càng trở nên bế tắc hơn khi rơi vào tình
trạng hỗn chiến dai dẳng. Cách mạng tháng Mười Nga đã làm thức tỉnh Trung Quốc
bằng cuộc vận động Ngũ Tứ - cuộc cách mạng dân chủ kiểu mới. Chính cuộc cách mạng
này đã thúc đẩy một cuộc cách mạng lớn khác diễn ra ở Trung Quốc. Đó là cuộc cách
mạng văn hóa. Thanh niên Trung Quốc (trong đó có cả Lỗ Tấn) bắt đầu tỉnh ngộ. Cuộc
vận động Ngũ Tứ đã đánh thức “những con người đang ngủ mê trong một cái nhà hộp
bằng sắt, không có cửa sổ” (Lỗ Tấn).
Mặc dù không phải sống cùng một thời, cùng một bối cảnh chung của lịch sử thế giới
nhưng thời đại mà Nam Cao sinh sống cũng không khác gì thời đại mà Lỗ Tấn sinh
sống. Nam Cao sinh trưởng trong thời kì mà đất nước Việt Nam đang rên xiết vì chiến
tranh, vì nghèo đói. Xã hội mà Nam Cao chứng kiến là một xã hội chỉ toàn bất công và
áp bức, tăm tối và ngột ngạt dưới ách thống trị của bọn thực dân phát xít và phong kiến


tay sai với hàng loạt chiêu bài “Âu hóa”, “Chính sách Đại Đông Á”. Sức người, sức của
bị chúng vơ vét ném vào chiến tranh đến kiệt quệ. Từ thành thị đến nông thôn đều trở
nên tiêu điều, xơ xác trong chính sách bóc lột tàn nhẫn của chúng. Do phải chịu cảnh
một cổ ba tròng: đế quốc Pháp, phát xít Nhật và phong kiến tay sai nên người dân Việt
Nam hoàn toàn rơi vào thảm cảnh của đói nghèo, của áp bức và bất công. Các tầng lớp
nhân dân bị phân hóa sâu sắc.
Cũng như ở Trung Quốc, trước tình cảnh đen tối, ngột ngạt của đất nước, một thời đại
bão táp cách mạng từ phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân Việt Nam đã sôi
sục diễn ra từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời: phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh,
cuộc vận động dân tộc dân chủ 1936-1939...Các phong trào yêu nước tuy bị dìm trong
bể máu nhưng ngọn lửa đấu tranh vẫn âm ỉ, sục sôi, không bao giờ nguội tắt. Nhân dân
Việt Nam vẫn kiên cường đứng lên chống kẻ thù và các thế lực bạo tàn. Và thành công
đỉnh cao chính là cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945. Cuộc Cách mạng Tháng Tám thành

Thế lực cường hào, địa chủ ở nông thôn của Trung Quốc và Việt Nam đều có sự
tương đồng ở bản chất giai cấp. Chúng tàn nhẫn bóc lột người nông dân tàn tệ, xô đẩy
những người nông dân vào con đường không có lối thoát hay phải biến dạng, biến chất.
Mặc dù, xã hội có nhiều biến động về chính trị nhưng ở nông thôn Trung Quốc và Việt
Nam, thế lực phong kiến địa chủ vẫn là thế lực thống trị tuyệt đối. Thế lực này, một mặt,
thống trị toàn bộ nền kinh tế nông thôn; mặt khác, ra sức bóc lột, đàn áp nông dân.
Tuy nhiên, bối cảnh nông thôn của Trung Quốc và Việt Nam cũng ít nhiều có sự khác
biệt. Trong bức tranh nông thôn ở Trung Quốc vào những năm đầu thế kỉ, nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu, trì trệ, đình đốn trong một xã hội thuộc địa nửa thực dân, nửa
phong kiến. Các thế lực phong kiến, với mấy nghìn năm cắm rễ, không thể bị lung lay,
sụp đổ nhanh chóng khi giai cấp tư sản chỉ mới được hình thành với bản chất ốm yếu,
què quặt. Nông thôn Trung Quốc không có nhiều sự thay đổi khi cuộc cách mạng Tân
Hợi thất bại, bọn địa chủ phong kiến vẫn còn ở địa vị thống trị.
Trái lại, ở Việt Nam, vào những năm bốn mươi của thế kỉ hai mươi, thế lực địa chủ
phong kiến đã có dấu hiệu đi đến chỗ thoái trào, lung lay. Đây là giai đoạn cuối đánh dấu
sự tồn tại của bọn địa chủ phong kiến. Nhà nước phong kiến Việt Nam đi đến chỗ suy
tàn, và sụp đổ hoàn toàn từ sau cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945.

1.1.1.3. Bức tranh văn hóa, văn học đa dạng và hiện đại
Thời đại Nam Cao và Lỗ Tấn sinh sống là thời đại du nhập nhiều trào lưu văn hóa,
văn học nước ngoài, đặc biệt là từ phương Tây và chủ nghĩa hiện thực Nga vào cuối thế
kỉ XIX.


Ở Trung Quốc, thời kì cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, các luồng tư tưởng, văn hóa
phương Tây đã xuất hiện và ồ ạt xâm nhập vào hệ thống tư tưởng, văn hóa hàng nghìn
năm bền vững của người dân Trung Hoa. Quá trình xâm nhập của các trào lưu văn hóa
nước ngoài vào Trung Quốc đã kéo theo sự biến đổi thần kì của nền văn học Trung Quốc
tưởng chừng như đã bị đóng khung mãi mãi dưới chế độ phong kiến. Đây là thời kì mà
người dân Trung Hoa nói chung và tầng lớp văn sĩ Trung Hoa nói riêng đang mang trong

chương; những thể loại mới và hiện đại được du nhập từ phương Tây chiếm ưu thế và là
một trong những nguyên nhân góp phần mang lại nhiều thành tựu đáng kể như: thơ mới,
tiểu thuyết văn xuôi, truyện ngắn, kí, phóng sự...Điều kiện vật chất xã hội không bình
yên là cơ sở cho sự phát triển của các luồng tư tưởng mới du nhập vào Việt Nam. Tư
tưởng tư sản phương Tây, đặc biệt là Pháp, đã xuất hiện từ những năm đầu của thế kỉ
XX tiếp tục ăn sâu vào nhiều bộ phận trong xã hội. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn,
những bộ phận tích cực đi theo đường lối ấy bị thất bại và tan vỡ về tổ chức làm cho
nhiều người mất phương hướng. Trong lúc đó, tư tưởng vô sản của chủ nghĩa Mác –
Lênin ở Nga dần dần chiếm ưu thế. Trong hoàn cảnh có những thay đổi như vậy, xã hội
thuộc địa đã xuất hiện những xu hướng mới trên các lĩnh vực văn hóa văn nghệ và tư
tưởng. Văn học lãng mạn (gồm Trào lưu Thơ Mới và văn xuôi lãng mạn của nhóm Tự
lực văn đoàn) cùng với văn học hiện thực là hai dòng văn học ra đời và tồn tại song
song. Đó là những tiếng nói mới của các bộ phận nhân dân trước hiện tình đất nước, là
sự chán ghét chế độ thuộc địa với những cách thức khác nhau của đội ngũ trí thức tiểu tư
sản. Nhiều cuộc đấu tranh gay gắt giữa trường phái triết học duy tâm và triết học duy
vật, giữa khuynh hướng “vị nhân sinh” và khuynh hướng “vị nghệ thuật” trong văn học
đã diễn ra. Một bộ phận khá đông những người tư sản, tiểu tư sản trí thức sau đó đã đứng
về phía nhân dân lao động, đấu tranh cho quyền lợi dân tộc Việt Nam. Đội ngũ những
người yêu nước và cách mạng đứng dưới ngọn cờ cách mạng vô sản ngày một đông đảo.
Văn học Việt Nam thời kì này ngày càng chứng kiến sự thắng thế của bộ phận văn học
hiện thực. Văn học trở thành công cụ để phản ánh hiện thực xã hội đen tối, để đấu tranh
cách mạng và giải phóng dân tộc.
Tóm lại, nền văn học đa dạng và được hiện đại hóa do sự ảnh hưởng của phương Tây
và sự biến đổi tự thân trên cơ sở những biến đổi của nền kinh tế, xã hội ở mỗi nước là
điểm tương đồng trong bức tranh văn học của hai nước Việt Nam và Trung Quốc ở thời
đại mà Nam Cao và Lỗ Tấn sinh sống. Và xuất phát từ nhu cầu của bối cảnh xã hội đầy
biến động vì chiến tranh, áp bức, bóc lột, văn học ở thời kì mà Nam Cao và Lỗ Tấn sinh
sống đã hướng đến mục đích “vị nhân sinh” cao cả.



sa sút ở huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Từ trẻ, Lỗ Tấn đã được thụ hưởng bầu


Trích đoạn Vị trí truyện ngắn của Nam Cao trong dòng văn xuôi Việt Nam Vị trí truyện ngắn của Lỗ Tấn trong dòng văn xuôi Trung Quốc Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Điểm nhìn trần thuật bên ngoà Điểm nhìn trần thuật bên trong
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status