Tổ chức tự sự trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM LƢƠNG VĂN THÀNH TỔ CHỨC TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA ĐỖ BÍCH THUÝ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
LƢƠNG VĂN THÀNH

TỔ CHỨC TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA ĐỖ BÍCH THUÝ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đăng Điệp



Lƣơng Văn Thành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ii
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ văn,
Phòng quản lý và Đào tạo sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
– Đại học Thái Nguyên đã dạy dỗ, tạo điều kiện cho em học tập.
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn PGS. TS Nguyễn Đăng Điệp, người
trong suốt thời gian qua đã tận tình giúp đỡ và động viên để em hoàn thành
luận văn này.
Lời cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình đã hỗ trợ,
động viên và cùng tôi vượt qua bao khó khăn trong quá trình vừa làm vừa học.

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012
Tác giả luận văn


Chƣơng 3. TỔ CHỨC TRẦN THUẬT 69
3.1. Tổ chức điểm nhìn 69
3.2. Ngôn ngữ 71
3.3. Giọng điệu. 78
PHẦN KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tự sự học là một ngành nghiên cứu còn non trẻ, định hình từ
những năm 1960 – 1970 ở Pháp nhưng đã nhanh tróng trở thành một trong
những lĩnh vực học thuật được quan tâm phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Ở
Việt Nam, các công trình về tự sự học đã xuất hiện, tuy nhiên công trình
chuyên sâu và dày dặn vẫn còn hiếm.
1.2. Tự sự học vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại, hiểu theo
nghĩa rộng nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan hay
nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự.
Vì thế, tiếp cận truyện ngắn trên từ phương diện tổ chức tự sự là hướng tiếp
cận từ góc độ thi pháp.
1.3. Nhà văn Đỗ Bích Thúy tuy mới xuất hiện trên văn đàn, trên dưới
10 năm sáng tác, đã tạo được khá nhiều dư luận. Giọng văn ấn tượng và tài
năng nghệ thuật của chị được khẳng định bằng nhiều giải thưởng quan trọng
là ngay từ những sáng tác đầu tay.
Chùm truyện ngắn Sau những mùa trăng, Đêm cá nổi, Ngải đắng ở
trên núi đoạt giải Nhất cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội 1998
– 2000. Tiểu thuyết Bóng cây sồi đoạt giải C trong cuộc thi sáng tác văn học

Hương… đã ghi nhận tài năng của chị. Qua những cuộc thi vừa là dịp dành
cho Đỗ Bích Thúy và các cây bút trẻ thử sức, thi thố tài năng, vừa là dịp cho
chúng ta thấy bộ mặt nông thôn mới, đô thị mới, miền núi mới với bao nhiêu
sự khác lạ, phức tạp bề bộn, trăn trở, bao điều mà văn học giai đoạn trước ít
có điều kiện đề cập tới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
2.2. Đánh giá về truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy
Trong quá trình quan sát “truyện ngắn hôm nay”, Bùi Việt Thắng nhận
thấy: “ văn học đương đại Việt Nam mang gương mặt nữ” [46]. Thực tế sáng
tác và từ các cuộc thi trên Tuần báo, Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã cho thấy
điều đó. Sau một số nhà văn như Phạm Thị Minh Thư, Nguyễn Thị Thu Huệ,
Trần Thanh Hà là Đỗ Bích Thúy liên tục giành giải thưởng cao quý nhất cuộc
thi truyện ngắn trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nhà văn Chu Lai đánh giá
cao về Đỗ Bích Thúy. Theo ông, thành công của Đỗ Bích Thúy là mang đến
cho người đọc một “món ăn lạ”, khiến họ được sống trong một mảnh đất lạ
mà “tất cả được miêu tả dịu nhẹ, chênh vênh, chấm phá, không dài dòng,
không đa ngôn”. Ông cũng cho rằng: “chất bình dị, xôn xao, chân thật không
chỉ là tiêu chí trong các cuộc thi văn của Tạp chí mà còn là đặc trưng của nền
văn học”[22]. Cũng chính yếu tố đó làm nên cái duyên và sức gợi của nhà văn
trẻ Đỗ Bích Thúy. Chu Lai cũng chỉ ra những nhược điểm của tập truyện Sau
những mùa trăng là sự thử nghiệm sang mảng đề tài khác còn vụng về, gượng
gạo (Sông còn chảy mãi, Phía sau kí ức). Những tìm tòi trong cách thể hiện
của Đỗ Bích Thúy (cảm hứng giọng điệu, cốt truyện…) được Chu Lai ghi
nhận bước đầu.
Trong lời giới thiệu tập truyện ngắn Những buổi chiều ngang qua cuộc
đời, Nguyễn Hòa khẳng định “trong vài năm trở lại đây, số các cây bút trẻ
viết về đề tài dân tộc và miền núi không nhiều và Đỗ Bích Thúy là một người

những gì mình có, mình đau đớn vì nó, không vay mượn, cố gắng” [58].
Ngoài thể loại truyện ngắn, hình ảnh Đỗ Bích Thúy còn đa dạng hơn trong đôi
mắt độc giả khi chị mạnh dạn thử sức và khá thành công ở lĩnh vực khác như
kí, tiểu thuyết, kịch bản sân khấu, kịch bản phim. Các bài viết của Nguyễn
Thị Thu Hiền, Bình Nguyên Trang, Nguyễn Hoàng Linh Giang, Phong Điệp
…đã ghi nhận những nỗ lực tìm tòi của Đỗ Bích Thúy ở hướng đi mới này.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nói đến tổ chức tự sự là nói đến việc tìm hiểu
tác phẩm trên nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau trong luận văn này chỉ
xin đề cập đến những khía cạnh nổi bật như: Quan niệm nghệ thuật của tác
giả, cốt truyện và nhân vật, tổ chức trần thuật.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập chung khảo sát một số tập truyện
ngắn sau:
1. Sau những mùa trăng – Đỗ Bích Thúy(2001), Nxb Quân đội Nhân dân.
2. Những buổi chiều ngang qua cuộc đời – Đỗ Bích Thúy(2002), Nxb
Thanh niên.
3. Tiếng đàn môi sau bờ rào đá – Đỗ Bích Thúy(2005), Nxb Công an
Nhân dân.
Để có cái nhìn toàn diện, phong phú, luận văn sẽ khảo sát theo những
sáng tác của các nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu
Huệ …, để chọn ra đặc sắc của Đỗ Bích Thúy trong nghệ thuật tổ chức tự sự.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi vận dụng các phương pháp chủ
yếu sau:
4.1. Phương pháp tổ chức hệ thống
4.2. Phương pháp phân tích tổng hợp


1.1. Những chuyển đổi về tƣ duy nghệ thuật trong Văn học Việt
Nam đƣơng đại
Chiến thắng năm 1975 là một dấu mốc lớn trong lịch sử dân tộc. Tuy
không thật trùng khít với những mốc lịch sử, nhưng mỗi bước chuyển lớn của
lịch sử đều tạo nên những chuyển động, đều để lại những dấu ấn trong đời
sống văn học. Do vậy, có thể thấy, từ sau 1975, văn học đã có những chuyển
đổi mang ý nghĩa một sự chuyển bị, một giai đoạn “bản lề” để đi tới công
cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc toàn bộ với sự đổi mới của đất nước từ sau
1986. Tuy nhiên, để có được tư duy nghệ thuật trong văn học mới là cả một
hành trình với nhiều “vấp váp và trả giá” (Nguyên Ngọc) với những đóng góp
âm thầm nhưng “quả quyết” của nhiều thế hệ nhà văn. Có thể chú trọng đến
những đóng góp của một số cây bút văn xuôi vào sự đổi mới tư duy nghệ
thuật trong văn học Việt Nam đương đại.
Ngay từ trước 1975, bằng sự mẫn cảm và tài năng, một số cây bút đã
sớm nhận ra sự bất cập và khoảng cách của văn học với đời sống. Biết đó là
khoảng cách khó tránh và khó vượt trong hoàn cảnh chiến tranh, khi mà mọi
nỗ lực của văn học đang phải dồn vào mục tiêu gần như duy nhất “chiến đấu
cho quyền sống của cả dân tộc”, nhưng các nhà văn vẫn âm thầm nuôi khát
vọng, âm thầm dự cảm về một sự đổi mới tất yếu về tư duy nghệ thuật của
văn học. Nguyễn Minh Châu là một trong những số ít cây bút mẫn cảm có
bản lĩnh và tài năng đó. Ngay khi đang viết những trang Dấu chân người lính
hào sảng, ông đã cảm nhận khá sâu sắc sự “bất lực” của văn học. Trong hình
dung của ông hiện thực đời sống như “một cánh rừng già chưa khai phá” với

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
biết bao “những vấn đề còn ẩn náu”. Ngay từ thời điểm đó, Nguyễn Minh
Châu đã lặng lẽ suy ngẫm và đúc kết được những điều sau này đã trở thành

nhiều thanh tựu và cũng rất nhạy cảm trong việc nắm bắt những vấn đề cập
nhật, gai góc của đời sống cũng đã phải cảm nhận: “chiến tranh ồn ào náo
động mà lại có cái yên tĩnh, giản dị của nó, hòa bình mà lại chứa chất những
sóng ngầm, những gió xoáy ở bên trong” (1). Bởi thế, giai đoạn này phần lớn
nhà văn vẫn tiếp tục khai thác đề tài chiến tranh(2). Mặc dù đã có đôi cuốn đã
có những sắc thái mới ví như Đất trắng (Tập1) của Nguyễn Trọng Oánh khi
phản ánh những sự nghiệt ngã, mất mát của chiến tranh, nhưng hầu hết những
sáng tác này vẫn trượt theo “quán tính”, vẫn chủ yếu ghi lại “ những ấn tượng
còn nóng hổi trong những diễn biến và từng trải được trình bày chưa kịp qua
suy ngẫm và sàng lọc, có thể còn chưa đủ độ lắng nhưng lại mang tính chất
sinh động kịp thời”(3). Trong khi nhiều cây bút vẫn lúng túng trong hướng
tiếp cận những phạm vi hiện thực mới của đời sống, bằng sự nhạy cảm của
mình Nguyễn Khải, đặc biệt là Nguyễn Mạnh Tuấn đã kịp thời hòa nhập vào
dòng chảy của đời sống, kịp thời nắm bắt những mảng hiện thực mới “tươi
ròng” của miền Nam sau ngày giải phóng, thống nhất đất nước. Nếu như
trong Gặp gỡ cuối năm, Nguyễn Khải đi sâu vào những vấn đề sự lựa chọn
của mỗi cá nhân để hòa nhập và thích ứng với thời thế, với cuộc sống hiện tại
thì Cha và con và…nhà văn lại chú tâm tới vấn đề tôn giáo và dân tộc, tôn
giáo và chủ nghĩa xã hội, tôn giáo và sự vận động để tồn tại và sự hiện hữu
với ý nghĩa tích cực nhất trong đời sống tinh thần của dân tộc. Ở giai đoạn
này, Nguyễn Mạnh Tuấn là cây bút văn xuôi thu hút được sự chú ý của người
đọc. Những vấn đề nhà văn quan tâm khai thác thực sự cấp thiết của đời sống,
nó quan hệ đến hàng vạn, hàng triệu người dân miền Nam sau chiến tranh.
Xoay quanh xung đột của một gia đình nửa thành viên là cách mạng, nửa kia
là tư sản sau giải phóng, Những khoảng cách còn lại đã đề cập đến một vấn
đề nhức nhối của đơi sống dân tộc - bi kịch và nỗi đau mới của mỗi gia đình,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10

11
1.2. Đề tài miền núi và sự xuất hiện của Đỗ Bích Thúy
1.2.1. Giai đoạn 1945 – 1975
Con người miền núi
Văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX gắn với sự thức tỉnh và phát triển của
cái Tôi cá nhân thì văn học cách mạng 1945 - 1975 lại phát triển trên nền tảng
ý thức cộng đồng. Cách mạng đã tập hợp những cá nhân thành một khối thống
nhất, thức tỉnh ở mỗi con người tình cảm dân tộc, ý thức công dân, đưa con
người hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng, trực tiếp tham gia vào biến cố lịch
sử trọng đại. Phản ánh con người trong đời sống lịch sử xã hội, hướng vào thể
hiện con người quần chúng nhân dân đã đưa tới những biến đổi đáng kể trong
cách xây dựng nhân vật của văn xuôi kháng chiến. Việc xây dựng hình tượng
con người trong văn xuôi miền núi giai đoạn này cũng không nằm ngoài quy
luật chung đó.
Cùng cách mạng đi khắp các nẻo “đường vui” kháng chiến là cuộc
hành trình khám phá thế giới và nhận thức lại bản thân của nhiều nghệ sĩ.
Chính trong những năm tháng gặp gỡ, chung sống và sẻ chia cuộc sống với
con người miền núi “giản dị và biết bao mến phục” đã để lại trên trang viết
của những nhà văn - chiến sĩ như Nam Cao, Tô Hoài, Ma Văn Kháng,
Nguyên Ngọc…những tình cảm, cảm xúc đầy nâng niu, trân trọng. Ở đâu ta
cũng bắt gặp một thái độ ngạc nhiên, thú vị, mê say, náo nức khi phát hiện ra
những chiếu kịch mới mẻ của những con người mới.
Có lẽ không ai đi khắp, đi lâu và đi sâu như Tô Hoài đi trên các vùng
núi cao, rừng sâu của đất nước từ Bắc chí Nam. Núi rừng và tấm lòng con
người miền núi đã để thương để nhớ cho ông. Tiếng gọi “Chéo lù! Chéo lù!”
văng vẳng kỉ niệm thiết tha luôn vẫy gọi ông trên từng trang Truyện Tây Bắc
và Vợ chồng A Phủ được coi là “tác phẩm thành công xuất sắc đầu tiên về đề

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


13
lên mạnh mẽ. Mỵ đã giải thoát cho A Phủ và tự giải thoát cho mình. Chạy
thoát khoải Hồng Ngài, gặp cán bộ A Châu, gặp cách mạng họ đã bước vào
cuộc đời mới. Mỵ và A Phủ tiếp tục tham gia vào đội du kích ở Phiềng Sa.
Những ngày đầu khó khăn, khu du kích thường xuyên bị lính đồn càn quét,
đã có lúc Mỵ hoang mang, hoảng sợ, ý nghĩ “lại đi” cứ quanh quẩn. Chỉ đến
khi A Phủ quát lên: “ Mê à! Đây không phải là Hồng Ngài, đây là khu du kích
Phiềng Sa, A Phủ là tiểu đội trưởng du kích mà”, rôi nghĩ đến cán bộ A
Châu, Mỵ lại bồi hồi, tin tưởng mong chờ, Mỵ quyết tâm cùng du kích xuống
đánh đồn bản Pe cứu người già, trẻ con về.
Cuộc đời của Mỵ, A Phủ (Vợ chồng A Phủ) Nhấn (Cứu đất cứu
mường), Sạ, Ính (Mường Giơn) tiêu biểu cho quá trình đến với cách mạng từ
tự phát đến tự giác của đồng bào các dân tộc miền núi. Họ đã trở thành những
chiến sĩ đi đầu trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc mình.
Cách mạng thắng lợi là nhờ có tinh thần đoàn kết của các dân tộc anh
em. Đây là vấn đề văn xuôi cách mạng thường xuyên đề cập tới khi viết về
miền núi. Cùng chịu cảnh bị áp bức, những con người từ tận cùng đau khổ đã
sớm nhận thức và sát cánh bên nhau trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù. A
Phủ cùng A Châu kết nghĩa anh em. Họ cùng với du kích Phiềng Sa chiến đấu
“quyết giữ đường này cho bộ đội”. Tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em
được thể hiện rõ nét trong Mường Giơn. Những cán bộ du kích người Dao,
người Mèo luôn có mặt kịp thời, giúp đỡ, chia sẻ cùng đồng bào Thái trong
những thời điểm khó khăn nhất. Người Thái bị bắt về nhốt tập trung, người
Dao, người Mèo xuống giúp cất dấu đồ đạc để không bị người Tây cướp mất.
Người Thái bị bắt đi phu tải lương, tải đạn, xây đồn Lạn Phạ, người Mèo
hướng dẫn cách đối phó: “ cứ lúc nào bỏ chạy được về là chạy thôi. Không
chạy được thi bảo nhau làm lười, làm hỏng”. Làm theo lời dặn ấy và được du
kích Mèo giúp đỡ, ông Mờng sung sướng kể với các con: “Thằng Tây không

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


15
Mùa mận hậu (Ma Văn Kháng) là tập truyện dành cho ca ngợi những
tấm gương phụ nữ vùng cao trong cuộc chiến chống đói nghèo, lạc hậu.
Người Dao đỏ Dền Sáng xưa kia nghĩ rằng “có thuốc phiện là có tất cả”,
“thuốc phiện đổi ra thịt, ra mỡ, gạo, ra muối, ra vải vóc, kim chỉ”. Dân Dền
Sáng nghiện thuốc phiện nhiều. Thương xót anh em, bà con trong thôn bản,
hiểu bản tính người Dao “có gì nhẹ nhàng bảo nhau, người Dao ta ưa tiếng
nhỏ, mưa phùn ướt đất tốt cày”, chị San Mẩy (Hương thảo quả) làm việc hết
mình, không quản ngại khó khăn với mong ước, “mọi người đều phải tốt,đều
phải thơm như hương thảo quả”. Chị San Mẩy – người tổ trưởng tổ trưởng tổ
đổi công đầu tiên, người chủ nhiệm hợp tác xã đầu tiên – đã cảm hóa thành
công những người đi cai nghiện bằng tấm lòng nhân ái, tình thương đồng loại,
bằng những câu chuyện giản dị mà ý nghĩa, bằng những câu hát, sự quan tâm
thuyết phục và vạch đường chỉ lối chân thành.
Cô Vàng Mỷ (Đường xa) – chiến sĩ thi đua dân quân La Pan Tẩn, chị
Hạng A Cở ( Một khoảng cách) Chủ tịch xã Hồng Ngài, cô giáo Giàng Thị
Xóa (Mùa mận hậu) ở Ngải Phón Chổ, Sùng Mỷ (Sùng Mỷ) là những hình
ảnh người phụ nữ Dao, H’Mông hoàn toàn đổi khác, họ không dễ dàn đầu
hàng số phận, không chịu để cho những định kiến hủ tục hay những khó khăn
trói buộc mình để vươn lên trong cuộc sống mới. Chị Hạng A Cở là nạn nhân
của tục cướp vợ. Chị bị chồng và anh chồng trói treo lên xà nhà đánh bằng roi
da trâu không cho đi làm hợp tác xã. Nhưng khỏi ốm, chị vẫn quyết tâm đi
làm. Có làm mới biết, phải làm để thoát đói, thoát nghèo. Đảng, cách mạng đã
cho chị và bà con biết rằng “phụ nữ Mèo cũng giỏi giang chẳng kém gì đàn
ông” (Một khoảng cách). Còn đối nới Vàng Mỷ, “cuộc đời mới thật đẹp, nó
mở cho Mỷ những con đường mới, quan hệ mới, những người bạn thân yêu,
những đồng chí thân thiết. Cuộc đời mới là cuộc đời tạo cho Mỷ được sống
hết khả năng của mình Cuộc đời mới dài rộng quá!”.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
Ở nhà văn Tô Hoài, cảm quan hiện thực nghiêng về phía sinh hoạt và
phong tục “Nhãn quan phong tục nhạy bén và sắc sảo” của ông đã khai thác
và thâu tóm được những nét đẹp văn hóa của các phong tục, sinh hoạt văn
hóa, những cái gọi là “đất lề quê thói” của mỗi dân tộc, mỗi địa phương. Lần
đầu đặt chân tới vùng rừng núi, trong Núi cứu quốc “cách nhìn của Tô Hòa
với người Tày, người Dao còn có vẻ xem ngắm, lạ người, lạ cảnh, như kẻ tìm
thấy trong sự quan sát một niềm vui kì thú” (Phan Cự Đệ). Nhưng Truyện Tây
Bắc, Tô Hoài đã hòa nhập thực sự với cuộc sống, con người Tây Bắc. Đọc Vợ
chồng A Phủ chúng ta không thể quên cảnh Hồng Ngài ăn tết. Đó là những
trang viết đẹp nhất của Tô Hoài về phong tục miền núi: “Hồng ngài năm ấy ăn
tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét dữ dội.
Nhưng trong các làng Mèo đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi
trên mỏm đá, xòe như con bướm sặc sỡ Đám trẻ con đợi tết, chơi quay, cười
ầm trên sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló, đã có ai thổi sáo rủ bạn đi
chơi. Mỵ nghe tiếng sáo vọng lại, tha thiết bổi hổi. Mỵ ngồi nhẩm bài hát của
người đang thổi.
“Mày có con trai con gái
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu”
Và “những đêm tình mùa xuân đã tới”. Tiếng sáo gọi bạn yêu bay lơ
lửng ngoài đường, tiếng sáo đã từng theo Mỵ đi khắp núi này sang núi khác.
“Anh ném pao, em không bắt
Em không yêu, quả pao rơi rồi ”
(Vợ chồng A Phủ).
Ý nghĩa sâu sắc của những phong tục miền núi là quan niệm sống, tình

Miền Tây, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, một chất thơ vời vợi của thiên nhiên và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
tâm hồn con người miền núi được cảm nhận qua một khiếu quan sát đến tinh
tường trước phong cảnh và phong tục sinh hoạt, lại được phô diễn trong một
lối văn có bản sắc riêng không chộn lẫn được. Những trang viết về thiên nhiên
miền núi của Tô Hoài như được ướp hương thảo quả, hương lá thơm tinh dầu
trong nắng sớm, hương từ những cánh đồng lúa chín hay vàng, hơi núi ngùn
ngụt xuống đồng buổi sáng mùa đông. Với Ma Văn Kháng thì “xứ này giàu
chất thơ nên vừa mộng mơ, vừa hào sảng, xứ này gió xuân hây hẩy mùi men
rượu, gió hè nồng đậm hương trà, gió thu mang mùi cây lá thơm và mùa
đông, gió chở mùi tuyết băng”.
Cảm quan hiện thực đời thường, Tô Hoài miêu tả thiên nhiên theo cách
vừa nhìn ngắm một cách nhẹ nhàng, vừa chiêm ngưỡng,Tô Hoài ít khi sử
dụng gam màu đậm, sự tương phản gay gắt hay những đường nét, hình khối
sắc nhọn, dữ dội. Ông ưa dùng những màu sắc tự nhiên tươi sáng trong một
không gian thiên nhiên sáng, đẹp hiền hòa: “Hoa thuốc phiện vừa nở trắng lại
đổi ra màu đỏ au, đỏ đậm rồi tím mang mác ” (Vợ chồng A Phủ). Văn Tô
Hoài đặc biệt nhiều nắng. Nắng lên “đọng từng vũng trong rừng tràm cao vút,
im lặng”, những nương lúa “ chín vàng len lỏi từng hốc đá”, “ âm thầm cứ
dần dần vàng hoe rồi đỏ ngọt trong khe sâu” (Mường Giơn). “Tô Hoài viết về
miền núi với con mắt của một nhà thơ. Phong cảnh đẹp và con người đẹp đẽ
của Tây Bắc được ngòi bút của Tô Hoài vẽ nên với một sức dung động thơ”
(Hoàng Trung Thông). Ma Văn Kháng cũng có những câu, đoạn văn tả thiên
nhiên thật đẹp và rực rỡ sắc màu. Những con đường, triền núi dẫn sang Tả
Thàng ngập tràn sắc hoa khiến Vàng Mỷ mê mải bước chân: “ Păng – công
kết từng chùm, cánh mỏng như cánh bướm, trắng muốt như hoa đại khắp
nương đồi. Tục – đoạn vươn nụ xanh tròn xốp như bông cúc dại, tím nhung,

thuật tạo hình bậc thầy của Nguyễn Tuân dựng nên một bức tranh thiên nhiên
Tây Bắc thơ mộng và hùng vĩ, đầy tính điện ảnh. Ông hay nói về bầu trời,

Trích đoạn Giai đoạn sau 1975 Quan niệm về cốt truyện Các kiểu cốt truyện trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy Nghệ thuật xây dựng nhân vật Tổ chức điểm nhìn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status