1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ NGUYỆT MINH KHẢO SÁT LỖI SỬ DỤNG TỪ NGỮ CỦA HỌC VIÊN TRUNG QUỐC
HỌC TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Formatted Table
Formatted: Width: 11.69", Height: 16.54"
Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese
3 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ NGUYỆT MINH
KHẢO SÁT LỖI SỬ DỤNG TỪ NGỮ CỦA HỌC VIÊN TRUNG QUỐC
Hà Nội-2012 Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese
5
QUY ƢỚC VIẾT TẮT
TTL
Thứ tự lỗi
ĐHQG
Đại học Quốc gia
ĐHKHXH & NV
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Nxb
Nhà xuất bản
Tp. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh 6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
7
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
1
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3
5. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4
6. Ý nghĩa lý luận và thức tiễn của đề tài
5
7. Bố cục của luận án
5
Chƣơng 1: CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
6
1.1. Một số quan điểm khác nhau về lỗi
6
1.1.1. Lỗi nhìn dưới góc độ cấu trúc và hành vi luận
6
1.1.2. Lỗi nhìn dưới góc độ ngôn ngữ học
7
1.1.3. Lỗi nhìn dưới góc độ giao tiếp liên văn hóa
2.1. Tình hình khảo sát lỗi từ ngữ ởvề cấu trúcbình diện ngữ pháp từ
24
2.2. Miêu tả lỗi từ ngữ xét trên bình diện cấu trúcngữ pháp
27
2.2.1. Lỗi dùng sai từ loại
27
2.2.1.1. Lỗi do nhầm giữa động từ và danh từ
27
2.2.1.2. Lỗi do nhầm giữa tính từ và danh từ
30
2.2.1.3. Lỗi do nhầm giữa tính từ và động từ
32
2.2.2. Lỗi dùng sai trật tự cụm từ
35
2.2.3. Lỗi dùng thừa từ
39
2.2.3.1. Lỗi dùng thừa từ ngữ do lặp nghĩa
40
2.2.3.2. Lỗi thừa từ do kết hợp sai hư từ
43
2.3. Một số biện pháp khắc phục về lỗi từ ngữ xét trên bình diện cấu
trúcngữ pháp
47
2.3.1. Bài tập khắc phục lỗi dùng sai từ loại
47
2.3.2. Bài tập khắc phục lỗi trật tự từ
51
74
3.2.4.4. Lỗi do phiên âm tên người, tên địa danh sang những yếu tố Hán Việt
75
3.2. Một số biện pháp khắc phục về lỗi từ ngữ lỗi từ ngữ xét trên bình diện
ngữ nghĩa
78
3.2.1. Bài tập khắc phục lỗi chọn sai nghĩa của từ
79
3.2.2.Bài tập khắc phục lỗi sử dụng từ đồng nghĩa/ gần nghĩa (bao gồm cả lỗi
nhầm lẫn từ mang nghĩa quát/từ mang nghĩa cụ thể)
82
3.3.3 Bài tập khắc phục lỗi đặc thù của sinh viên Trung Quốc
84
3.4.Tiểu kết chƣơng 3
87
KẾT LUẬN
89
TÀI LIỆU THAM KHẢO
92
PHỤ LỤC 1
Formatted
2
nƣớc ngoài nhiều năm qua cho thấy các vấn đề liên quan đến lỗi sử dụng từ ngữ
của ngƣời học đã đƣợc ít nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến và đề cập đến trong
những phạm vi nhất định. Chẳng hạn nhƣ: Luận án tiến sĩ ngữ văn của Nguyễn
Thiện Nam về Khảo sát lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người nước ngoài và những
vấn đề liên quan [53], Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học của Nguyễn Linh Chi về Lỗi
ngôn ngữ của người nước ngoài học tiếng Việt (trên tư liệu từ vựng, ngữ pháp của
người Anh, Mĩ) [15]. Nhìn chung, những công trình này đã đƣa ra những kết luận
quan trọng, đã đóng góp tích cực vào việc phân tích và đánh giá lỗi của ngƣời học
từ đó giúp ích nhiều cho công tác giảng dạy cũng nhƣ học tập tiếng Việt của sinh
viên nƣớc ngoài. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này đều chƣa đề cập đến
vấn đề mắc lỗi của đối tƣợng học viên ngƣời Trung Quốc. Cụ thể, luận án tiến sĩ
của Nguyễn Thiện Nam chỉ nghiên cứu về lỗi ngữ pháp của ngƣời nói tiếng
Khơme, tiếng Nhật và tiếng Anh khi học tiếng Việt. Hay luận án tiến sĩ của
Nguyễn Linh Chi nghiên cứu về lỗi từ vựng và lỗi ngữ pháp chỉ tập trung vào học
viên ngƣời Anh và ngƣời Mĩ. Cho đến nay cũng chỉ có luận văn thạc sĩ ngữ văn Lê
Xảo Bình đã đề cập đến Lỗi của người Trung Quốc học tiếng Việt nhìn từ góc độ
xuyên văn hóa (xét về khía cạnh từ vựng)[10]. Trong luận văn này, tác giả Lê Xảo
Bình đã khảo sát lỗi của đơn vị từ ngữ cụ thể gồm cả thực từ lẫn hƣ từ. Thứ nhất,
lỗi về thực từ gồm có lỗi danh từ (sai một số danh từ nhƣ: con cái, con trai, con
gái, thanh niên, hay nhầm lẫn giữa từ nước và quốc), lỗi động từ (sai một số động
từ nhƣ: đi, xem, thấy, rửa, gội, giặt, xin, mời), lỗi tính từ (sai một số tính từ như:
tốt, hay, bạc, trắng) và lỗi từ xƣng hô (sai một số đại từ xƣng hô nhƣ: tôi, các anh
các chị, họ, thằng ấy ). Thứ hai, lỗi về hƣ từ gồm có lỗi đại từ chỉ định (sai các
từ: này, kia, ấy, đó), lỗi phó từ (sai một số phó từ nhƣ cũng, đều, rất, lắm, sắp sẽ),
lỗi giới từ (sai giới từ nhƣ trong, ngoài, với, cho), lỗi cảm từ ( dùng sai cảm từ:
vâng và ừ) và lỗi sai loại từ (sai loại từ: sự, việc). Bên cạnh những lỗi sai ở một số
từ vựng cụ thể nhƣ trên, Lê Xảo Bình đã đƣa ra lỗi về thành ngữ, tục ngữ của sinh
viên Trung Quốc, đây là lỗi thể hiện rõ nét về sự giao thoa xuyên văn hóa. Thực tế,
luận văn của mình của Lê Xảo Bình chỉ khảo sát lỗi từ vựng xét trên góc độ giao
5
Lỗi của sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt rất đa dạng và phong phú nhƣ
lỗi thuộc về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và lỗi thuộc giao tiếp xuyên văn hóa. Do
khuôn khổ luận văn thạc sĩ và một số hạn chế khác, luận văn chỉ tập trung khảo sát
lỗi sử dụng từ ngữ trên hai phƣơng diện là cấu trúc ngƣ̃ phá p và ngữ nghĩa, đối
tƣợng khảo sát là sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt tại Khoa Việt Nam học,
Trƣờng Đại học Hà Nội. Luận văn sẽ phân loại lỗi dựa trên nguyên tắc đi từ lỗi về
hình thức đến lỗi về ý nghĩa, khả năng kết hợp, phạm vi sử dụng và đặc điểm chức
năng của từ ngữ thông qua những bài viết và bài nói của sinh viên.
5. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tƣ liệu là các lỗi trong nói và viết do chúng tôi tập hợp từ học
viên Trung Quốc đang học tiếng Việt tại Khoa Việt Nam học trƣờng Đại học Hà
Nội. Nguồn tƣ liệu bao gồm các bài tập về nhà và các bài luyện trên lớp, các bài
kiểm tra giữa kì, bài thi học kì, các băng ghi âm tiếng nói của sinh viên và phiếu
tham dò ứng xử ngôn ngữ.
Tƣ liệu đƣợc sử dụng trong luận văn bao gồm:
+ 400 bài kiểm tra học kỳ một, 240 bài kiểm tra giữa kì của sinh viên từ năm
thứ ba và năm thứ tƣ.
+ 850 bài tập giao về nhà và bài luyện trên lớp
+ 01 đĩa CD thu âm các hội thoại và các cuộc thảo luận trên lớp và 02 đĩa
CD về cuộc thi nói giỏi tiếng Việt của Khoa Việt Nam học.
+ Những tƣ liệu ghi chép trong quá trình giảng dạy.
5.2. Luận văn phân tích lỗi theo nguyên tắc quy nạp, trên cơ sở thu thập
thống kê, phân tích, xử lý tƣ liệu để tìm ra những lỗi cơ bản về việc sử dụng từ ngữ
của sinh viên Trung Quốc trong quá trình học tiếng Việt. Các phƣơng pháp và thủ
pháp nghiên cứu chủ yếu đã đƣợc thực hiện là:
+ Thống kê đƣợc dùng để thống kê và phân loại lỗi thƣờng gặp của học viên
phục vụ cho việc miêu tả và phân tích lỗi.
6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.2. Một số quan điểm khác nhau về lỗi
Lỗi thƣờng xuất hiện trong quá trình học tiếng và giao tiếp với môi trƣờng xung
quanh. Đứng trên phƣơng diện nghiên cứu khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu đã có
những quan niệm và cách xử lý khác nhau về lỗi.
1.1.1. Lỗi nhìn dưới góc độ cấu trúc và hành vi luận
Quan niệm về lỗi của các nhà nghiên cứu theo thuyết hành vi và cấu trúc
luận dựa trên quan điểm lý thuyết của các nhà nhà tâm lý học nổi tiếng Watson
(1924), Thorndike (1932), và Skinner (1957). Theo thuyết hành vi, con ngƣời là
một tổ chức có khả năng thực hiện nhiều hành vi khác nhau. Các hành vi xuất hiện
đƣợc phụ thuộc vào ba yếu tố quan trọng trong quá trình học; đó là kích thích để tạo
ra hành vi phản ứng, củng cố để khẳng định sự phù hợp của phản ứng và lặp lại
phản ứng trong tƣơng lai để hình thành thói quen. Việc học ngoại ngữ cũng là một
kiểu học của sự hình thành thói quen. Theo quan điểm của thuyết này, lỗi đƣợc coi
là một điều rắc rối, không thể chấp nhận đƣợc và phải ngăn chặn bằng mọi giá. Nếu
chúng ta phải chấp nhận những lỗi này thì rất nguy hiểm vì ảnh hƣởng không tốt
đến việc học, giáo viên phải cho sinh viên tập trung bắt chƣớc và ghi nhớ hình thức
biểu đạt các mẫu sau đó cố gắng vận dụng thành thạo những mẫu đó vào trí óc của
ngƣời học. Lỗi cũng giống nhƣ thói quen xấu khác, lỗi là những biểu hiện không tốt
làm cản trở đến việc học tiếng một cách có hiệu quả và chúng là những nhân tố
ngăn cản việc hình thành thói quen sử dụng ngôn ngữ đích.
Tuy vậy, thực tế cho thấy luận thuyết này, tuy có thể giải thích đƣợc phần
nào về lỗi, nhƣng vẫn không hoàn toàn chính xác hoặc không thể dự đoán tất cả
những khó khăn mà ngƣời học gặp phải trong quá trình học vì ngƣời học thƣờng có
khuynh hƣớng suy luận không đúng về các quy luật của ngôn ngữ đích (target
language) chứ không phải dựa hoàn toàn vào thói quen của tiếng mẹ đẻ (mother
tongue).
9
Các nhà ngôn ngữ học đối chiếu, tiêu biểu là Lado (1957), Stockwell (1959)
và Schachter (1959) đã tiến hành so sánh đối chiếu giữa ngôn ngữ và văn hóa của
tiếng mẹ đẻ với ngôn ngữ và văn hóa của ngôn ngữ đích để dự báo trƣớc những khó
khăn hoặc các lỗi tiềm năng ngƣời học sẽ mắc phải trong quá trình học ngoại ngữ.
Hơn nữa, họ đã miêu tả trình tự kĩ thuật cụ thể để thực hiện các phân tích đối chiếu
về ngôn ngữ và văn hóa cần thiết cho việc chuẩn bị các bài giảng một cách khoa
học nhằm giúp ngƣời học đạt hiệu quả cao trong việc học và sử dụng ngôn ngữ thứ
hai. Theo các nhà ngôn ngữ học đối chiếu, hiện tƣợng chuyển di ngôn ngữ – văn
hóa là không thể tránh đƣợc trong giao tiếp liên ngôn. Việc tìm hiểu và dự báo trƣớc
các lỗi của ngƣời học mắc phải và tìm cách tránh mắc lỗi cho ngƣời học là rất cần
thiết đối với ngƣời biên soạn giáo trình và giáo viên dạy ngoại ngữ. Chẳng hạn, hiện
tƣợng sinh viên Trung Quốc không sử dụng từ xƣng hô khi giao tiếp với giáo viên
có thể coi là một hiện tƣợng mang hai bản chất: cả chuyển di ngôn ngữ lẫn chuyển
di văn hóa. Chuyển di ngôn ngữ thể hiện ở chỗ, tiếng Hán, khi bối cảnh cho phép
hiểu đƣợc thì thƣờng không dùng từ xƣng hô nhƣ ông, bà, cô, chú, bác anh, chị
v.v kể cả khi giao tiếp với ngƣời lớn tuổi hơn. Còn hiện tƣợng chuyển di văn hóa
đƣợc biểu hiện ở chỗ, yếu tố xƣng hô không đƣợc chú trọng trong văn hóa giao tiếp
của ngƣời Trung Quốc. Theo cách nhìn của ngƣời Trung Quốc, những câu giao tiếp
“không có chủ ngữ” (không dùng từ xƣng hô) trong mọi bối cảnh vẫn đƣợc coi bình
thƣờng mà không phải là biểu hiển thiếu văn hóalễ độ nhƣ cách nghĩ của ngƣời
Việt. Nhƣ vậy, chính lỗi tƣ duy này đã đƣợc ngƣời Trung Quốc thể hiện thông qua
giao tiếp bằng tiếng Việt và gây ra lỗi xuyên văn hóa. Ví dụ, khi giao tiếp với giáo
viên Việt Nam, sinh viên Trung Quốc thƣờng nói: “Mời ăn cơm ạ”, “Uống nước
đi” hay “Hôm nay xinh thế” , mà theo văn hóa ngƣời Việt, các em phải nói là:
“Mời cô/thầy ăn cơm ạ”, “Mời cô/thầy uống nước đi” hay “Hôm nay cô xinh thế”.
1.1.3. Lỗi nhìn dưới góc độ giao tiếp liên văn hóa
Trong quá trình giao tiếp, khi các bên giao tiếp có cùng một nền văn hóa
chung và kĩ năng giao tiếp hoàn hảo thì ít xảy ra trục trặc trong quá trình giải mã
11
1.1.4. Lỗi nhìn dưới quan điểm ngôn ngữ học ứng dụng theo quan điểm của Pit
Corder
Trƣớc đây, những nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về cấu trúc và hành vi luận
hay nghiên cứu về ngôn ngữ đối chiếu coi lỗi là một hiện tƣợng tiêu cực và cần phải
tránh bằng mọi giá. Nhƣng đến nay, Pit Corder dƣớ i gó c n hìn của ngôn ngữ học
ứng dụng đã có cách nhìn nhận mới về quan niệm lỗi. Trong bài viết “The
Significance of Learners‟ Errors” (Ý nghĩa của lỗi của ngƣời học) vào năm 1967,
Pit Corder đã đƣa ra quan điểm mới, lỗi là một hiện tƣợng tự nhiên trong quá trình
học ngoại ngữ và đó không phải là một hiện tƣợng xấu cần đƣợc xóa bỏ. Ngƣợc lại,
lỗi cho thấy những chiến lƣợc tích cực cũng nhƣ sự phát triển ngôn ngữ đích (target
language) của ngƣời học. Corder phân biệt hai loại: lỗi do nhầm lẫn (mistake) và lỗi
do thiếu kiến thức (error). Lỗi do nhầm lẫn đƣợc tạo nên do lỡ lời (slips of tongue),
do lo sợ, xúc động (yếu tố tâm lý), hoặc do mỏi mệt, đau ốm (yếu tố thể chất); vì
vậy ngƣời học có thể nhận ra và chữa lỗi nếu cần thiết. Trái lại lỗi do thiếu kiến
thức có tính hệ thống và đƣợc lặp đi lặp lại nhiều lần. Tuy vậy, đối với loại lỗi này,
ngƣời học ngoại ngữ không biết rằng họ đang mắc lỗi vì đây là một phần của “ngôn
ngữ trung gian” (interlanguage). Theo Selinker (1972), loại ngôn ngữ trung gian này
đƣợc hình thành do ngƣời học sử dụng những chiến lƣợc riêng để thụ đắc ngôn ngữ
thứ hai; nó không giống tiếng mẹ đẻ cũng không giống ngôn ngữ đích.
Các quan niệm khác nhau về lỗi cho chúng ta thấy rõ sự khác biệt trong các
cách xử lý lỗi trong quá trình dạy – học, mức độ chấp nhận lỗi trong quá trình giao
tiếp và ảnh hƣởng của lỗi không những trong quá trình học mà còn cả trong quá
trình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp liên ngôn, liên văn hóa. Quan điểm lỗi của
Pit Corder đƣa ra một cách đánh giá tổng thể về lỗi và xét lỗi trên nhiều góc độ khác
nhau và giúp các nhà nghiên cứu biết rõ đƣợc các loại lỗi và nguyên nhân sâu xa
gây ra lỗi của ngƣời học. Chúng tôi thấy rằng quan điểm lỗi của Pit Corder rất phù
hợp với nội dung luận văn. Chúng tôi sẽ vận dụng quan điểm lý thuyết phân tích lỗi
làTrái lại lỗi do thiếu kiến thức (error) lỗi do thiếu kiến thtƣ́ c là lỗ i ức xuất hiện do
tri thức về ngôn ngữ đích (ngôn ngữ đƣợc học) còn hạn chế và đƣợc lặp đi lặp lại
nhiều lần, có tính hệ thống. Tuy vậy, đối với loại lỗi này, ngƣời học ngoại ngữ
13
không biết rằng họ đang mắc lỗi vì đây là một phần của “ngôn ngữ trung gian”
(interlanguage). Ngôn ngữ học trung gian luôn biến đổi trong quá trình ngƣời học
thụ đắc ngôn ngữ đích và tiệm cận đến ngôn ngữ đích nhƣng không thể trở thành
ngôn ngữ đích hoàn toàn. Từ những nhận định này, khi các nhà ngôn ngữ học phân
tích lỗi do ngƣời học phạm phải, họ cũng so sánh lỗi này với ngôn ngữ đích chứ
không phải chỉ đối chiếu với tiếng mẹ đẻ của ngƣời học để dự đoán lỗi nhƣ những
nhà ngôn ngữ học đối chiếu.
Trên đây, chúng tôi đã trình bày một số nét khái quát về cách nhìn nhận lỗi
của Pit Coder. Để hiểu cụ thể hơn về vấn đề này, chúng tôi xin trình bày về vấn đề
phân tích lỗi và cách tiếp cận lỗi của Pit Coder.
1.2.2. Phân tích lỗi và ý nghĩa của phân tích lỗi
1.2.2.1. Phân tích lỗi
Theo Pit Corder, phân tích lỗi là thủ thuật do các nhà nghiên cứu và giáo
viên sử dụng. Nó bao gồm việc thu thập các mẫu ngôn ngữ của ngƣời học, xác định
lỗi các mẫu, miêu tả lỗi, phân loại lỗi và đánh giá mức độ nghiêm trọng của lỗi [53,
tr.11]. Ông cho rằng việc phân tích lỗi không chỉ quan tâm đến mục đích ứng dụng
của nó là chữa lỗi mà còn phải quan tâm đến mục đích lý thuyết của nó là giải thích
sự thể hiện cơ chế ngôn ngữ của ngƣời học, tức là nghiên cứu những chiến lƣợc học
và những giả thuyết mà ngƣời học đã sử dụng để tạo ra ngôn ngữ riêng của mình –
ngôn ngữ trung gian. Trong quá trình phân tích lỗi, Pit Corder đã chia thành ba giai
đoạn nhƣ sau:
(1) Giai đoạn thứ nhất: Nhận diện lỗi
(2) Giai đoạn thứ hai: Miêu tả lỗi
(3) Giai đoạn thứ ba: Giải thích lỗi
(1) Giai đoạn thứ nhất– nhận diện lỗi