ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
NGUYỄN KIỀU OANH
KHẢO SÁT LỖI SỬ DỤNG ĐỘNG TỪ TIẾNG VIỆT
(Trên tư liệu môn ngữ văn của học sinh trường THCS Thạch Hòa,
Thạch Thất, Hà Nội)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đinh Kiều Châu
Hà Nội - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công
trình nào.
Tác giả luận văn
Nguyễn Kiều Oanh
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.
Đinh Kiều Châu. Nhân đây, tôi xin bày tỏ biết ơn sâu sắc tới TS. Đinh Kiều
Châu- người thầy đã tận tình giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này.
47
DANH MỤC BIỂU ĐỒ SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Số hiệu
Tên biểu đô
Trang
2.1
Tỉ lệ các nhóm lỗi sử dụng động từ
49
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 4
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
6. Ý nghĩa của luận văn ..................................................................................... 6
7. Cấu trúc luận văn .......................................................................................... 6
NỘI DUNG....................................................................................................... 7
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài ............................. 7
1.1. Động từ và động từ trong tiếng Việt .......................................................... 7
1.1.1. Khái niệm động từ ................................................................................... 7
3.1.1. Nguyên nhân khách quan ...................................................................... 55
3.1.2. Nguyên nhân chủ quan .......................................................................... 60
3.2. Một số đề xuất để cải thiện thực trạng lỗi sử dụng động từ..................... 65
3.2.1. Một số đề xuất nâng cao hiệu quả sử dụng động từ của học sinh............ 65
3.2.2. Một số bài tập củng cố về động từ và chữa lỗi sử dụng động từ của học sinh .. 75
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 89
KẾT LUẬN .................................................................................................... 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 93
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 98
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dạy- học từ ngữ từ trước đến nay luôn được xác định là một nhiệm vụ
quan trọng trong giáo dục phổ thông đặc biệt là trong bộ môn Ngữ văn. Vai
trò của dạy học từ ngữ trong nhà trường được cụ thể hóa bằng những yêu cầu,
mục tiêu và phương pháp cụ thể gắn liền với nội dung dạy học này. Tuy nhiên,
trên thực tế, hiệu quả dạy-học từ ngữ chưa đáp ứng được những yêu cầu đã
đặt ra. Xoay quanh việc dạy và học từ ngữ còn nhiều vấn đề tồn tại trong đó
phải kể đến vấn đề về lỗi sử dụng từ ngữ của học sinh trong nhà trường.
Vấn đề về lỗi và phương pháp chữa lỗi được không ít nhà ngôn ngữgiáo dục quan tâm và được trình bày trong nhiều giáo trình, chuyên luận và
bài viết. Song, một thực tế vẫn tồn tại là lỗi sử dụng từ ngữ vẫn xuất hiện
nhiều trong những bài viết của học sinh, đi liền với đó là sự hiểu biết và khả
năng nhận diện cũng như vận dụng từ ngữ của học sinh còn chưa cao. Thực tế
này đòi hỏi những nghiên cứu mang tính thực tiễn, toàn diện và đồng bộ hơn
nữa để đưa ra những giải pháp thiết thực giúp cải thiện thực trạng này.
Trong hệ thống từ ngữ, xét trên phương diện từ loại, động từ là một
trong những đơn vị từ loại cơ bản. Động từ có vai trò quan trọng trong giao
tiếp và dạy- học từ ngữ ở nhà trường phổ thông. Tuy nhiên cũng giống như
vấn đề từ ngữ nói chung, (đó là sự am hiểu và khả năng huy động, sử dụng từ
Bên cạnh đó cũng có nhiều nghiên cứu đi vào khảo sát lỗi ngôn ngữ
của học sinh trên các phương diện cụ thể khác nhau của ngôn ngữ. Về mặt
ngữ pháp, có thể kể đến cuốn “Mấy gợi ý về phân tích và sửa lỗi ngữ pháp
cho học sinh” của Nguyễn Minh Thuyết, “Lỗi ngữ pháp của học sinh, nguyên
nhân và cách chữa” của Nguyễn Xuân Khoa” hay Hồ Lê- Lê Trung hoa với
“Sửa lỗi ngữ pháp”. Về mặt chính tả, có thể kể đến nghiên cứu của Phan
Ngọc với “Chữa lỗi chính tả cho học sinh Hà Nội” và “Mẹo giải nghĩa từ
tiếng Việt và chữa lỗi chính tả”- đưa ra các mẹo giải nghĩa của các từ Hán2
Việt và chữa các lỗi chính tả liên quan đến từ Hán - Việt. Hay Hoàng Phê trên
cơ sở tìm hiểu lỗi chính tả ở cả ba vùng Bắc-Trung- Nam đã biên soạn cuốn
“Chính tả tiếng Việt” dưới dạng một từ điển.
Những tư liệu vừa nêu ở trên chính là những tư liệu bổ ích cho việc
thực hiện đề tài luận văn của chúng tôi.
2.2. Lịch sử nghiên cứu lỗi sử dụng từ ngữ trong dạy- học tiếng Việt
Ngoài những nghiên cứu về lỗi ngữ pháp và lỗi chính tả đã nêu ở phần
trên thì cũng có một số nghiên cứu khác tiến hành khảo sát lỗi dùng từ. Tiêu
biểu như “Lỗi từ vựng và cách khắc phục” của các tác giả Hồ Lê, Trần Thị
Ngọc Lang, Lê Đình Nghĩa[26]. Ở đây, các tác giả đã phân lỗi về từ ngữ
thành chín loại từ đó đưa ra cách khắc phục. Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn
mang tính khái quát mà chưa đi sâu vào làm nổi bật những vấn đề cụ thể về
lỗi sử dụng từ ngữ; một số nội dung vẫn bị trùng lặp và chưa đưa ra được giải
pháp toàn diện cho những vấn đề các tác giả đã đặt ra.
Trong cuốn “Từ điển lỗi dùng từ” do Hà Quang Năng chủ biên[28], tác
giả đã xác định năm dạng lỗi cơ bản như: dùng từ sai vỏ âm thanh, dùng từ sai
ý nghĩa, dùng lặp từ, dùng thừa từ và thiếu từ, dùng từ sai phong cách và sai
từ loại. Từ đó, các tác giả đưa ra biện pháp khắc phục các loại lỗi đó. Đây là
tài liệu hữu ích cho học sinh trong việc mở rộng vốn từ và cho giáo viên trong
việc rèn luyện từ ngữ cho học sinh.
Trên đây là những nét sơ lược nhất về lịch sử nghiên cứu lỗi ngôn ngữ
trong dạy học tiếng Việt nói chung và lịch sử nghiên cứu lỗi sử dụng động từ
nói riêng. Những kết quả nghiên cứu của các tác giả trình bày ở trên là cơ sở
lý luận để chúng tôi thực hiện đề tài của mình.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là lỗi sử dụng động từ tiếng
Việt của học sinh trung học cơ sở (THCS).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
4
Luận văn tập trung nghiên cứu lỗi sử dụng động từ tiếng Việt trên cứ
liệu môn Ngữ văn của học sinh trường THCS Thach Hòa (các cứ liệu cụ thể
xin trình bày chi tiết ở chương 3).
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu lỗi sử dụng động từ trong các bài viết của học sinh
tại trường THCS Thạch Hòa, luận văn mong muốn làm rõ hơn nữa thực trạng
sử dụng từ ngữ của học sinh THCS qua những loại lỗi cơ bản thường gặp
trong sử dụng động từ tiếng Việt; từ đó, đề xuất những phương pháp sửa lỗi
để giúp nâng cao hiệu quả dạy và học từ ngữ trong nhà trường.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cúu
- Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý thuyết liên quan đến lỗi và việc giải quyết
các vấn đề lỗi của học sinh.
- Thống kê, phân loại, miêu tả và phân tích các loại lỗi liên quan đến việc
sử dụng động từ của học sinh
- Bước đầu chỉ ra những nguyên nhân, đề xuất giải pháp sửa chữa và cách
khắc phục.
NỘI DUNG
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
1.1.
Động từ và động từ trong tiếng Việt
1.1.1. Khái niệm động từ
Động từ là một từ loại tương đối phức tạp trong hệ thống ngôn ngữ.
Chính vì thế, trong nghiên cứu từ loại tiếng Việt, vẫn còn nhiều quan niệm
khác nhau về động từ. Khái niệm động từ cũng được các nhà nghiên cứu định
nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nhưng về cơ bản khái niệm này được xác định
trên ba phương diện : ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp.
Trong sách giáo khoa “Ngữ văn 6” [5], động từ được định nghĩa là
những từ chỉ hoạt động trạng thái của sự vật, thường kết hợp với những từ đã,
sẽ, đang, cũng, vẫn, hãy, chớ, đừng… để tạo thành cụm động từ. Chức vụ
điển hình của động từ là vị ngữ [5;146]
Trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” của Diệp Quang Ban, động từ
được định nghĩa cụ thể hơn là “những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá
trình”. Ý nghĩa đó thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể, được
khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động của thực thể trong thời gian và
không gian. Động từ thường có các phụ từ đi kèm để biểu thị ý nghĩa quan hệ
có tính tình thái giữa quá trình với cách thức và với các đặc trưng vận động
của quá trình trong không gian và trong thời gian. Động từ có khả năng đảm
nhận nhiều chức vụ ngữ pháp trong câu trong đó chức năng quan trọng nhất là
làm vị ngữ giúp nó đối lập với danh từ [3;103-104]
Đinh Văn Đức trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Viêt: từ loại I &II”
[14;126-134] khi định nghĩa về động từ tiếng Việt, tác giả nhấn mạnh ý nghĩa
vận động (ở bậc khái quát nhất) trong quan hệ với thực thể và thời gian của
động từ. Tác giả cũng đề cập đến khả năng kết hợp của động từ với sự thể
Trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” của Diệp Quang Ban- Hoàng
Trung Thông [3;104-114] thì động từ lại được phân chia dựa theo tiêu chí về
tính độc lập hay không độc lập của động từ, bao gồm:
8
- Động từ không độc lập:
+ Động từ tình thái với các ý nghĩa khái quát chỉ sự cần thiết; chỉ khả
năng; chỉ ý chí; chỉ mong muốn; tiếp thụ; bình giá.
+ Động từ quan hệ với các ý nghĩa khái quát chỉ sự đồng nhất; tồn tại; sở
hữu; biến hóa; diễn trình thời gian; diễn trình không gian; so sánh, đối chiếu.
- Động từ độc lập:
+ Phân loại theo phụ từ đi kèm có động từ chỉ hành động và động từ chỉ
trạng thái
+ Phân loại theo thực từ đi kèm có động từ chỉ hành động không đòi hỏi
thực từ đi kèm và động từ chỉ hành động đòi hỏi thực từ đi kèm.
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của Đinh Văn Đức [14] tác giả không
đưa ra tiêu chí cũng như phân loại cụ thể mà tập trung làm rõ một số vấn đề
tồn tại khi nhận diện và phân loại của một vài tiểu loại động từ cơ bản trong
tiếng Việt: động từ nội động và động từ ngoại động; động từ tình thái - ngữ
pháp; động từ chuyển động; động từ tổng hợp.
Trong giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt do Bùi Minh Toán chủ biên
[39;36-42], các tác giả đưa ra hai tiêu chí phân loại động từ: dựa vào khả năng
dùng độc lập trong câu và theo sự chi phối của các thành tố đi sau. Vì hai tiêu
chí này đều có đặc điểm chung là đều căn cứ vào quan hệ giữa động từ với
các thành tố phụ đi sau, nên các tác giả đã căn cứ vào cả hai tiêu chí này để
phân chia động từ thành các loại như sau:
- Các động từ thường không dùng độc lập làm thành phần câu mà
phải dùng với một từ hoặc cụm từ đi sau, gồm có:
+ Động từ tình thái;
địa vị quan trọng hàng đầu trong hệ thống các loại từ của ngôn ngữ”. Nó
được thể hiện trên các phương diện sau:
Thứ nhất, về số lượng, nó chiếm một số lượng lớn trong hệ thống từ
loại của một ngôn ngữ, chỉ đứng sau danh từ.
10
Thứ hai, về tần suất xuất hiện trong câu chiếm tỉ lệ lớn, theo thống kê
của Nguyễn Kim Thản [35;7] thì số câu có vị ngữ là động từ chiếm 88%, là
tính từ chiếm 4% và danh từ là 8%. Ngoài ra động từ còn xuất hiện với nhiều
chức năng khác trong câu.
Thứ ba, về quan hệ với các thành tố khác trong câu, động từ đóng vai
trò là trung tâm của các mối quan hệ giữa chủ thể với các yếu tố khác như đối
tượng, hoàn cảnh, thời gian…
Như vậy, có thể thấy vai trò quan trọng của động từ trong hoạt động
giao tiếp bằng ngôn ngữ. Chính vì thế, việc học tập và rèn luyện động từ
trong chương trình phổ thông là một việc thực sự cần thiết.
1.1.4. Một vài đặc trưng khác của động từ tiếng Việt
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính với những đặc
trưng tiêu biểu mang tính loại hình khu biệt với các loại hình ngôn ngữ khác
trên thế giới. Những đặc trưng này chi phối các thành tố khác nhau trong hệ
thống ngôn ngữ của tiếng Việt trong đó có động từ. Một trong các biểu hiện mang
tính loại hinh của động từ là các phạm trù ngữ pháp liên quan: thời; dạng.
1.1.4.1. Phạm trù thời
Phạm trù thời là khái niệm dùng để chỉ sự định vị các sự kiện trên dòng
thời gian trong đó có một sự kiện (thường là tại thời điểm nói) được lấy làm
chuẩn. Phạm trù thời thường được thể hiện bằng các phương thức khác nhau
trong các loại hình khác nhau. Ở các ngôn ngữ biến hình, thời thường được
thể hiện thông qua sự biến đổi dạng thức của động từ. Còn trong tiếng Việt,
1.2. Một số vấn đề về “lỗi” ngôn ngữ
1.2.1. Khái niệm “lỗi” ngôn ngữ
Nghiên cứu lỗi ngôn ngữ xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ XX,
nhưng phải đến khi lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ của Chomsky ra đời thì việc
nghiên cứu lỗi ngôn ngữ mới có một bước phát triển mới. Khái niệm lỗi ngôn
ngữ cũng được các nhà ngôn ngữ học đưa ra trong nghiên cứu về dạy ngoại
ngữ. S.P. Corder định nghĩa lỗi“là kết quả của sự thể hiện không thành
12
công…Lỗi không phải là một vấn đề phải vượt qua hay là những cái gì sai
trái, hay là điều đáng xấu hổ phải xóa bỏ. Thực ra, lỗi là một phần của việc
học và qua lỗi có thể phát hiện ra những chiến lược mà người học đã sử dụng
để học một ngoại ngữ. Lỗi cung cấp cho chúng ta những sự hiểu biết, những
cái nhìn giá trị, những kinh nghiệm quý báu về quá rình học một ngoại ngữ”
[dẫn theo 22; 7]
Trong Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng của Nhà xuất bản Longman
năm 1985 định nghĩa về lỗi như sau: “Lỗi của người học (trong khi nói hoặc
viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ) là hiện tượng sử dụng một đơn vị
ngôn ngữ (chẳng hạn một từ, một đơn vị ngữ pháp, một hoạt động nói năng…)
bằng cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc là
chưa đầy đủ” [dẫn theo 22;8]
Còn theo Hendrickson lỗi “là một phát ngôn, một hình thức biểu đạt
hoặc là một kết cấu mà một giáo viên ngôn ngữ đặc biệt thấy rằng không thể
chấp nhận được bởi vì cách sử dụng không hợp lí của chúng hoặc là sự vắng
mặt của chúng trong các diễn ngôn đời thường” [dẫn theo 22;8].
Trong luận văn của mình, chúng tôi bám sát vào định nghĩa của
Hendrickson làm cơ sở để nhận diện và phân tích lỗi.
Một điểm khác mà các nhà ngôn ngữ học ứng dụng cũng lưu ý chúng ta
nhiên, nó đã bị loại bỏ triệt để bằng những quan điểm khác nhau do N.
Chomsky đưa ra. Ông cho rằng con người chắc chắn phải có một loại khả
năng bẩm sinh nhất định có thể hướng dẫn các khả năng tạo câu và giúp cho
một đứa trẻ có khả năng thụ đắc ngữ pháp của một ngôn ngữ cho đến khi
chúng 5 hoặc 6 tuổi. Và ông gọi khả năng này là “ngữ pháp phổ quát” và cho
rằng đây chính là khả năng của con người mà ngôn ngữ học nhằm mục đích
theo đuổi [dẫn theo 22;10]
1.2.2.2. Khuynh hướng phân tích đối chiếu
Khuynh hướng phân tích đối chiếu ra đời vào những năm 40 và kéo dài
đến những năm 60 của thế kỷ XX với những cái tên như C. Fries, R.Lado…
Khuynh hướng này có một số những đặc trưng sau:
14
Thứ nhất, khuynh hướng này dựa trên quan điểm của lý thuyết hành vi
coi việc thụ đắc ngôn ngữ là hình thành một thói quen.
Thư hai, khuynh hướng này cũng giống như lý thuyết hành vi cho rằng
lỗi xuất hiện do chuyển di tiêu cực của quá trình giao thoa hai ngôn ngữ mà
không có những nguyên nhân khác.
Thứ ba, khuynh hướng này cũng cho rằng lỗi là sự thể hiện không
thành công và cần phải loại trừ.
Thứ tư, khuynh hướng này so sánh hai hệ thống ngôn ngữ (tiếng mẹ đẻ
và ngôn ngữ thứ hai) để tìm ra những điểm khác nhau nhằm tiên đoán và ngăn
chặn lỗi.
1.2.2.3. Khuynh hướng phân tích lỗi
Khuynh hướng phân tích lỗi ra đời vào cuối những năm 60 với những
cái tên tiêu biểu S.P. Corder, Selinker, William Nemser, E.Tarone… Khuynh
hướng phân tích lỗi đi vào nghiên cứu và phân tích các lỗi do người học ngôn
ngữ gây ra hay là quá trình xác định sự tác động, bản chất và nguyên nhân
đoán trong quá trình tri nhận ngôn ngữ để phát triển năng lực ngôn ngữ của
mình dẫn đến vượt ra khỏi phạm vi của ngôn ngữ
Trên đây là một vài khái quát về các khuynh hướng nghiên cứu lỗi
ngôn ngữ. Trong đó, chúng tôi nghiêng về những giả thuyết của khuynh
hướng phân tích lỗi và coi đây là cơ sở lý thuyết trong quá trình thực hiện đề
tài luận văn.
1.2.3. Lỗi dùng từ trong tiếng Việt
Vận dụng một cách linh hoạt định nghĩa về lỗi nêu ở phần trên, theo
mục đích của luận văn là khảo sát lỗi sử dụng động từ của học sinh THCS
chúng tôi sử dụng khái niệm có tính chất làm việc như sau: lỗi sử dụng từ ngữ
trong tiếng Việt có thể hiểu là việc sử dụng một đơn vị từ ngữ nào đó mà giáo
viên dạy tiếng Việt cho là sai hoặc chưa hợp lý trên một phương diện nào đó.
Trong giáo trình Tiếng Việt thực hành [1;188-198], các tác giả đã đưa
ra một số yêu cầu đối với việc sử dụng từ ngữ trong tiếng Việt như sau:
16
- Dùng từ đúng âm thanh và hình thức cấu tạo
- Dùng từ phải đúng về nghĩa
- Dùng từ phải đúng về quan hệ kết hợp
- Dùng từ phải đúng với phong cách ngôn ngữ của văn bản
- Dùng từ phải đảm bảo tính hệ thống của văn bản
- Dùng từ phải tránh hiện tượng lặp, thừa từ không cần thiết và bệnh
sáo rỗng công thức.
Trên cơ sở đó, các tác giả cũng đã khái quát thành 4 loại lỗi dùng từ
chủ yếu:
- Lỗi về âm thanh và hình thức cấu tạo của từ
- Lỗi về nghĩa của từ
- Lỗi về kết hợp từ
- Lỗi về phong cách
1.3.1. Phân phối trong phân môn tiếng Việt
Trong chương trình tiểu học, về cơ bản, học sinh đã được làm quen với
hầu hết các khái niệm cơ bản về từ ngữ trên cả phương diện từ vựng và từ loại.
Đến chương trình THCS, các nội dung về từ ngữ tiếp tục củng cố và hoàn
thiện hơn phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh trong giai đoạn này.
Cụ thể, trong phân phối chương trình THCS chúng tôi thống kê được có 47
tiết học về từ ngữ trên tổng số 560 tiết của bộ môn Ngữ văn bao gồm cả nội
dung lý thuyết và thưc hành:
- Lớp 6: 16/140 tiết
- Lớp 7: 14/140 tiết
- Lớp 8: 10/140 tiết
- Lớp 9: 7/140 tiết
Trong đó, nội dung về từ loại chỉ có 12 tiết về 9 từ loại khác nhau; nội
dung về động từ và cụm động từ chỉ chiếm thời lượng là 2 tiết.
Từ đây, ta có thể thấy, do thời lượng dành cho dạy học từ ngữ trong
chương trình THCS còn khá hạn hẹp nên về cơ bản việc dạy và học vẫn dừng
18
ở mức nhận diện các đơn vị kiến thức mà học sinh chưa được tìm hiểu sâu và
rèn luyện những kỹ năng tương ứng một cách thành thạo, dẫn đến hiệu quả
dạy- học chưa cao.
1.3.2. Nội dung dạy học từ ngữ
1.3.2.1. Định hướng xây dựng nội dung dạy- học từ ngữ
Định hướng xây dựng nội dung dạy học từ ngữ ở phổ thông được khái
quát trong “Phương pháp dạy học tiếng Việt” [41;93-94] trên hai phương diện sau:
- Kế thừa và nâng cao tri thức kỹ năng từ vựng:
+ Thống nhất với tri thức cấp dưới nhưng không lặp lại các tri thức cấp dưới
+ Mở rộng, đào sâu những tri thức đã học
+ Tăng thêm những tri thức và kỹ năng mới