IH
TRƢỜN
Ọ
QU
O
GI H N I
Ọ XÃ
Ộ VÀ N ÂN VĂN
-----------------------
LÊ T Ị TUYÊN
ẢO SÁT LỖ SỬ DỤN
TRÊN BÁO
À NỘ MỚ
LUẬN VĂN T
T ẾN
V ỆT
ỆN TỬ NĂM 2016
SĨ
T ẾN
V ỆT
ỆN TỬ NĂM 2016
SĨ
NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
MÃ NGÀNH: 60.22.02.40
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS. TS. Trịnh Cẩm Lan
à Nội – 11/ 2017
LỜ
ẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới
P S.TS.Trịnh
ẩm Lan, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá
trình thực hiện luận văn này.
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới các thầy, cô giáo đã giảng dạy
tại khoa ngôn ngữ học trong suốt 4 năm đại học và 2 năm cao học vừa qua.
Mặc dù đã cố gắng hết sức, song luận văn không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các
anh chị.
1.3.2. Một số lỗi thường gặp trong sử dụng tiếng Việt hiện nay ................ 16
1.4 Tiểu kết ................................................................................................. 19
ƢƠN
NỘ MỚ
2:
Á
LỖ TỪ VỰN
T ƢỜN
ẶPTRÊN BÁO HÀ
ỆN TỬ NĂM 2016 .............................................................. 21
2.1. Lỗi lặp từ / ngữ đoạn .......................................................................... 22
2.2. Lỗi thừa từ .......................................................................................... 24
2.3. Lỗi thiếu từ.......................................................................................... 25
2.4. Lỗi dùng từ không đúng nghĩa.......................................................... 26
2.5. Lỗi sử dụng từ sai phong cách .......................................................... 28
2.6. Nhận xét .............................................................................................. 30
2.7. Tiểu kết ................................................................................................ 33
ƢƠN
MỚ
3:
ẢO ........................................................................ 57
D N
Bảng 2.1.
MỤ BẢN
ác loại lỗi từ vựng thường gặp trên báo Hà Nội mới điện tử
năm 2016 ..................................................................................................... 21
Bảng 3.1.
ác loại lỗi câu thường gặp trên báo Hà Nội mới điện tử năm
2016 ............................................................................................................. 35
Bảng 3.2. ác lỗi về dấu câu trên báo Hà Nội mới điện tử năm 2016 ....... 41
D N
MỤ
ÌN
Biểu đồ 2.1. ác lỗi từ vựng thường gặp trên báo Hà Nội mới điện tử năm
2016 ............................................................................................................. 30
Biểu đồ 3.1. ác lỗi câu thường gặp trên báo Hà Nội mới điện tử năm 2016
..................................................................................................................... 50
đạt tư tưởng và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt? Ngôn ngữ báo chí tác
động như thế nào đến việc sử dụng ngôn từ trong cuộc sống hiện nay?
ặc
biệt, đối với người dân trên toàn đất nước Việt Nam nói chung và những
người đang sống, làm việc tại Hà Nội nói riêng có tác dụng như thế nào qua
1
tờ báo – đươc coi là ơ quan của thành ủy ảng cộng sản Việt Nam thành
phố Hà Nội, Tiếng nói của ảng bộ, chính quyền, nhân dân thủ đô?
Tất cả những lí do trên, những câu hỏi trên đã thôi thúc chúng tôi tìm
hiểu và nghiên cứu đề tài “ hảo sát lỗi sử dụng tiếng Việt trên báo
à
Nội mới điện tử năm 2016”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề lỗi sử dụng ngôn ngữ trên báo chí vẫn rất được quan tâm và
trở thành đề tài trong các hội thảo, hội nghị nghiên cứu khoa học cũng như
trong các luận án, luận văn và khóa luận tốt nghiệp của nhiều nhà ngôn ngữ
học.
ác công trình nghiên cứu về chuẩn ngôn ngữ cũng như liên quan đến
lỗi ngôn ngữ có các tác phẩm như “Tiếng Việt thực hành” của tác giả
Nguyễn Hữu
ạt [8]; “Tiếng Việt thực hành” của nhóm tác giả Bùi Minh
Toán, Lê
ngữ trong từng thể loại báo chí. ác tác giả như inh Văn Hường với công
trình “ ác thể loại báo chí thông tấn” [17]; Trần Quang với “ ác tác phẩm
báo chí chính luận” [27] đều có nhắc đến việc sử dụng từ ngữ trong thể loại
báo chí nhưng không đi sâu. ông trình “Ngôn ngữ báo chí” của Vũ Quang
Hào [14] và “Ngôn ngữ báo chí – những vấn đề cơ bản” của Nguyễn
ức
Dân [4] nghiên cứu tương đối trọn vẹn về vấn đề ngôn ngữ báo chí.
Tác phẩm “Ngôn ngữ báo chí” của Vũ Quang Hào [14] đã tìm hiểu
những vấn đề cụ thể như: Ngôn ngữ chuẩn mực của báo chí; ngôn ngữ các
phong cách báo chí; ngôn ngữ của thuật ngữ khoa học; kí hiệu khoa học;
ngôn ngữ tít báo… [14;5]. ông trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn
ức
Dân đề cập đến những nội dung cơ bản của ngôn ngữ báo chí như: đặc
điểm ngôn ngữ báo chí, thông tin chìm trong báo chí và kĩ thuật xây dựng
thông tin chìm bằng các thao tác ngôn ngữ cụ thể, ngôn từ của nhà báo và
các yêu cầu về logic diễn đạt trong báo chí. Ngoài ra, chuyên luận còn đi
sâu vào tìm hiểu đặc điểm và khả năng hoạt động của tiếng Việt trên báo
chí, chỉ ra những kĩ năng sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả [14;3].
Tuy nhiên, việc xem xét những vấn đề về lỗi dùng từ, câu trên báo chí
như đối tượng trung tâm thì chưa được các nhà khoa học, các nhà nghiên
cứu quan tâm nhiều. Vì vậy, luận văn này trên cơ sở những công trình đã
được công bố và quan điểm chủ quan, chúng tôi sẽ cố gắng làm nổi bật các
lỗi về từ vựng, ngữ pháp trên báo Hà Nội mới điện tử.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm khảo sát các lỗi và những hiện tượng chưa thống nhất
trong cách sử dụng tiếng Việt trên một tờ báo cự thể để chỉ ra tại sao một số
5.1 Đối tượng của đề tài
ối tượng nghiên cứu của đề tài là các lỗi sử dụng tiếng Việt (lỗi từ
vựng, lỗi câu) trên các số báo Hà Nội mới điện tử, không phân biệt chuyên
mục cũng như thể loại.
Báo Hà Nội mới điện tử gồm các chuyên mục và tiểu mục sau: Xã
hội (giới trẻ, giao thông, chuyện bốn phương), chính trị (đối ngoại, nhân sự,
xây dựng đảng), kinh tế (tài chính, nhà đất, quốc tế), thế giới (bình luận, hồ
sơ, quân sự), văn hóa (âm nhạc, phim, thời trang, hậu trường, sách), thể
thao (bóng đá Việt Nam, bóng đá quốc tế, quần vợt, hậu trường), pháp luật
(pháp đình, tư vấn), khoa học (thế giới số, sản phẩm số), đời sống (gia đình,
sức khỏe, làm đẹp), du lịch, ô tô- xe máy.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về mặt thời gian cũng như dung lượng của luận văn,
chúng tôi tiến hành khảo sát lỗi về sử dụng tiếng Việt trên báo Hà Nội mới
với tư liệu 128 số báo trong năm 2016 ( ác số báo này được chúng tôi lựa
chọn ngẫu nhiêu và phân bố đồng đều cho 12 tháng).
4
Mỗi số báo chúng tôi khảo sát trên tất cả các chuyên mục: Xã hội,
chính trị, kinh tế, thế giới, văn hóa, thể thao, pháp luật, khoa học, đời sống,
du lịch, ô tô- xe máy. Trung bình mỗi số báo có khoảng 60 – 68 bài. Có
những chuyên mục ra nhiều bài một số như: xã hội, kinh tế, chính trị, thể
thao, văn hóa,… nhưng cũng có những chuyên mục nhiều ngày mới ra một
bài như: ô tô – xe máy.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, phân loại: để thống kê các lỗi sử dụng ngôn
ngữ tìm được trên báo Hà Nội mới điện tử năm 2016. Từ kết quả thống
tin cần thiết.
Ngôn ngữ báo chí không phải là một vấn đề mới, nó đã được đào sâu
nghiên cứu theo từng góc cạnh, từng thời kỳ phát triển. Nhưng trong thời
đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, đây lại là một vấn đề nóng
cần có sự quan tâm của toàn xã hội. Tiếng Việt đang dần bị ăn mòn bởi thứ
ngôn ngữ lai căng, thiếu trong sáng, pha tạp của một bộ phận giới trẻ. Do
đó, báo chí phải đóng vai trò như một người dẫn đường trong công cuộc
bảo tồn vào phát triển tiếng Việt ngày càng giàu đẹp hơn.
Vấn đề sử dụng ngôn ngữ báo chí có tác dụng trực tiếp và quyết định
tới hiệu quả của thông tin báo chí, do vậy ngôn ngữ báo chí trước hết là
một thứ ngôn ngữ văn hóa chuẩn mực. Vì thế mà sự chuẩn mực trong ngôn
ngữ báo chí làm sắc bén thêm ý nghĩa của sự kiện. Ngôn ngữ báo chí thể
hiện phong cách của nhà báo một cách rõ rệt nhất nên cần được quan tâm,
phát triển một cách đúng hướng…
1.1.
ặc điểm ngôn ngữ báo chí
Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng hàng đầu trong tác phẩm báo chí. Ngôn
ngữ là phương tiện chuyển tải nội dung các tác phẩm báo chí. Sự tác động
hay hiệu quả của báo chí đều không thể tách rời khả năng sử dụng ngôn
ngữ.
6
Ngôn ngữ báo chí tồn tại và vận động như một loại hình phong cách
ngôn ngữ xã hội. Với cách hiểu “Phong cách là những khuôn mẫu trong
hoạt động lời nói, được hình thành từ những thói quen sử dụng ngôn ngữ có
tính chất truyền thống và chuẩn mực trong việc xây dựng các lớp văn bản
1.1.2 Tính đại chúng
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng.
ối tượng thông tin của
báo chí là toàn xã hội. Báo chí có chức năng hướng dẫn và tác động dư
luận. Như thế có nghĩa là nó tự quy tụ bạn đọc về phía mình. Sự thu hút của
báo chí đã tạo ra khả năng tập hợp và thu hút quần chúng. Vì vậy, ngôn ngữ
báo chí phải là ngôn ngữ dành cho tất cả mọi người, phù hợp với trình độ
chug của quần chúng và đảm bảo cho việc đôc giả tiếp nhận thông tin một
cách thuận lợi nhất.
Khi thực hiện chức năng hướng dẫn và tác động dư luận, các bài báo
thường sử dụng câu hỏi tu từ. òn khi thực hiện chức năng tập hợp và tổ
chức quần chúng, ngôn ngữ báo chí thường thiên về các câu mệnh lệnh,
kêu gọi. Trong các tác phẩm báo chí, người ta ít dùng các thuật ngữ chuyên
ngành hẹp, các từ ngữ địa phương, tiếng lóng, cũng như các từ ngữ vay
mượn từ tiếng nước ngoài.
1.1.3. Tính ngắn gọn và biểu cảm
Tính ngắn gọn của ngôn ngữ báo chí là yêu cầu mang tính tất yếu xuất
phát từ chức năng cơ bản của báo chí là thông tin nhanh. Báo chí luôn tồn
tại mẫu thuẫn giữa lượng thông tin khách quan lớn với giới hạn của bài
viết, trang báo, số báo, cũng như điều kiện tiếp nhận thông tin của xã hội.
Sự dài dòng có thể làm loãng thông tin, ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận
của người đọc. ặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, người ta
luôn cố gắng thu được càng nhiều thông tin trong một đơn vị thời gian càng
tốt.
Trong báo chí, mức độ ngắn gọn của ngôn ngữ được xét ở mọi cấp độ,
từ việc sử dụng từ ngữ đến các câu, đoạn văn và toàn bộ văn bản. Muốn
đảm bảo sự ngắn gọn về ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí, người viết cần
Nó giúp cho con người nhận thức được chân – thiện – mỹ. Tính giáo dục
của ngôn ngữ báo chí thường không hiện lên trên bề mặt của văn bản mà ẩn
chìm sau lớp ngôn ngữ, thực chất là ý nghĩa loại suy từ nghĩa thông báo và
nghĩa tác động.
9
1.2.
huẩn mực ngôn ngữ
Phong cách báo chí là một phong cách chức năng được sử dụng hằng
ngày trên các báo, tạp chí ấn hành cho đông đảo bạn đọc. Báo chí có vai trò
hết sức quan trọng trong việc xác lập chuẩn mực ngôn ngữ cộng đồng.
Ngôn ngữ được coi là cốt lõi của báo chí. Vì vậy, việc quan niệm thế nào là
chuẩn mực ngôn ngữ thật sự cần thiết.
1.2.1. Quan niệm về chuẩn mực ngôn ngữ
Vậy chuẩn hóa ngôn ngữ là gì? ông việc này cần phải được tiến hành
như thế nào và bao gồm những yếu tố nào? Trước khi trả lời câu hỏi này,
chúng ta cần xác định rõ khái niệm “chuẩn mực” mà cụ thể hơn là khái
niệm “chuẩn mực ngôn ngữ”. Xoay quanh khái niệm này có rất nhiều ý
kiến khác nhau của các nhà ngôn ngữ học. Tại Việt Nam, chuẩn ngôn ngữ
cũng là một vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm:
Tác giả Hoàng Tuệ trong bài tổng kết Hội nghị Giữ gìn sự trong sáng
của tiếng Việt về mặt từ ngữ coi: “ huẩn mực, nói một cách khái quát, là
cái đúng.
ó là cái đúng có tính chất chung chung, tính chất bình thường,
Thứ hai, sự ổn định của chuẩn ngôn ngữ chỉ mang tính chất tương đối,
nghĩa là nó cũng có sự thay đổi nhất định tùy thuộc vào điều kiện không
gian, thời gian, phụ thuộc vào cả yếu tố nội tại bên trong ngôn ngữ và các
yếu tố bên ngoài ngôn ngữ (văn hóa, xã hội). Sự chuẩn mực này vừa có tính
kế thừa, vừa có tính phát triển nên không thể lấy cái chuẩn mực của quá
khứ để đánh giá, xem xét cái chuẩn của hiện tại. Nói theo một cách khái
quát hơn là không thể lấy cái chuẩn của thời đại này để áp dụng cho thời
đại khác, cũng như không thể lấy cái chuẩn của không gian này để áp dụng
cho không gian khác.
Như vậy, chuẩn ngôn ngữ chính là những quy ước hình thành một
cách tự nhiên và được đa số thành viên của cộng đồng tuân theo trong một
giai đoạn nhất định của lịch sử. Nó là biểu hiện của sự lựa chọn có ý thức
và có sự chế định của cộng đồng. Do vậy, chuẩn ngôn ngữ thường có tính
ổn định tương đối, tính lựa chọn và tính bắt buộc.
Việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trong các phong cách chức
năng mới là cái mốc chuẩn cuối cùng. huẩn phong cách đòi hỏi một yêu
cầu cao hơn chuẩn ngữ pháp và chuẩn ngôn ngữ nói chung. Một hiện tượng
ngôn ngữ không chuẩn về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, chính tả, tất nhiên
không thể coi là chuẩn phong cách được.
11
1.2.2. Một số vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt hiện nay
Vấn đề chuẩn hóa là một trong những vấn đề được rất nhiều nhà ngôn
ngữ học quan tâm. ã có rất nhiều cuốn sách cũng như đề tài nghiên cứu về
một số vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt hiện nay. Do hạn chế về mặt dung
lượng luận văn, nên trong đề tài này, chúng tôi chỉ hướng đến lỗi từ vựng
và lỗi câu. Vì vậy, trong phần cơ sở lý thuyết về chuẩn hóa tiếng Việt,
chúng tôi xin trình bày hai vấn đề cơ bản có liên quan là: chuẩn hóa từ
huẩn hỏa từ vựng tiếng Việt là những quy định về cách sử dụng sao
cho chính xác với tư duy của người Việt. Muốn làm được như vậy thì cách
dùng từ phải đảm bảo những yêu cầu sau đây:
- “Dùng từ phải đúng âm thanh và hình thức cấu tạo
- Dùng từ phải đúng về nghĩa
- Dùng từ phải đúng về quan hệ kết hợp
- Dùng từ phải đúng với phong cách ngôn ngữ của văn bản
- Dùng từ phải đảm bảo tính hệ thống của văn bản
- Dùng từ cần tránh hiện tượng lặp từ, thừa từ không cần thiết và bệnh
sáo rỗng công thưc [30]
ảm bảo được những yêu cầu này chính là tuân thủ những chuẩn mực
về sử dụng từ tiếng Việt.
1.2.2.2 Chuẩn ngữ pháp
Trong ngôn ngữ, ngữ pháp chiếm vị trí trung tâm nhưng luôn được
thể hiện một cách dán tiếp. Mối quan hệ giữa ngữ pháp với thực tế không
chỉ được thực hiện thông qua từ vựng. Muốn lĩnh hội ngữ pháp thì không
có con đường nào khác là phải thông qua ngữ âm. [9; 253-254]
a số các nhà ngôn ngữ học đều quan niệm ngữ pháp là những
nguyên tắc cấu tạo từ và câu trong một ngôn ngữ và ngữ pháp học là bộ
môn nghiên cứu những quy tắc cấu tạo từ và câu trong ngôn ngữ.
Như vậy, nếu tư duy một cách logic, ta sẽ thấy rằng việc chuẩn hóa
ngữ pháp trong tiếng Việt cũng cần được tiến hành trên hai bình diện từ và
cú pháp. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà một số người quan niệm rằng
đối với người Việt bản ngữ thì việc sử dụng sai từ pháp rất hy hữu, thậm
chí là không có. Vì thế, đối tượng chuẩn hóa ngữ pháp tiếng Việt cần được
thu gọn lại trong khuôn khổ cú pháp, tức là câu.
13
quá trình kết hợp đó được gọi là mã hóa và quá trình ngược lại là phân tích
ký hiệu để đọc được ký hiệu của nó, được gọi là giải mã.
14
Mã hóa
Người phát tin
Người nhận tin
Giải mã
ối với các ký hiệu nói chung thì sự tương ứng giữa sở biểu và năng
biểu là tương ứng 1 – 1, nhưng ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu đặc biệt
có tính đa trị, tức là một cái được biểu đạt có thể gắn với nhiều cách biểu
đạt. Vì vậy, quá trình giải mã sẽ phức tạp hơn nhiều so với quá trình mã
hóa. Mặt khác, ký hiệu ngôn ngữ hình thành từ sự thỏa thuận của cộng
đồng, tính quy ước rất cao nên để nó có giá trị thì nó cần phải được sự chấp
nhận và tiếp thu của cả cộng đồng.
Trong một số trường hợp, ký hiệu ngôn ngữ được mã hóa song do một
số nguyên nhân, quá trình giải mã gặp khó khăn, ảnh hưởng đến việc tri
nhận cái mà ký hiệu ngôn ngữ biểu đạt. Do đó, lỗi ngôn ngữ xuất hiện. ụ
thể hơn, theo Phạm Hồng Văn trong “Khảo sát các lỗi ngôn ngữ trên báo
Hà Nội Mới” (2005): lỗi ngôn ngữ là những thể hiện ngôn ngữ làm người
tiếp nhận thông tin sai, không hiểu hặc không chấp nhận, bởi vì nó không
phù hợp với chuẩn mực chung mà cộng đồng đã lựa chọn và chấp nhận”
[30;15].
Lỗi ngôn ngữ xuất hiện trên tất cả các bình diện của ngôn ngữ như
diện khác nhau của từ như: hình thức, âm thanh, ngữ nghĩa, khả năng kết
hợp, phong cách…
Vấn đề này nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Tìm hiểu về quan điểm của các nhà nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy sự tồn
tại xu hướng sau đây về việc xác định các lỗi sử dụng tiếng Việt:
Tác giả Nguyễn
ức Dân trong cuốn “Tiếng Việt (dùng cho đại học
đại cương)” [5] cho rằng lỗi về từ trong văn bản bao gồm hai dạng cơ bản:
16
Lỗi liên quan đến từ Hán Việt và lỗi từ đồng âm gây ra sự hiểu nhầm về
nghĩa. Theo chúng tôi, quan điểm này mới chỉ nêu lên hiện tượng bề nổi
chứ chưa đi sâu vào bản chất các lỗi để phân loại và hệ thống hóa các lỗi về
sử dụng tiếng Việt một cách đầy đủ.
ác tác giả Hồ Lê, Trần Thị Ngọc Lang, Tô
ình Nghĩa trong cuốn
sách “Lỗi từ vựng và cách khắc phục” [22] đưa ra một danh sách lỗi bao
gồm 9 lỗi: lỗi viết sai, lỗi hiểu sai, lỗi dùng sai chức năng ngữ pháp, lỗi
phối hợp không ăn khớp với các đơn vị từ vựng khác, lỗi về tu từ, lỗi về
phong cách, lỗi về ý – tình huống, lỗi về chuẩn đạo đức cho hành vi nói
năng. Mặc dù liệt kê ra rất nhiều thể loại nhưng danh sách lỗi của các tác
giả này đưa ra “vừa thiếu lại vừa thừa”. Nếu lấy đây là cơ sở nghiên cứu và
khảo sát lỗi sử dụng từ tiếng Việt thì kết quả thu được sẽ rất hạn chế.
Trong cuốn “Tiếng Việt thực hành” [30], các tác giả Bùi Minh Toán,
Lê , ỗ Việt Hùng đưa ra các lỗi về sử dụng tiếng Việt như sau: lỗi về âm
sai quan hệ ngữ pháp giữa các bộ phận trong câu nghĩa là thiết lập quan hệ
ngữ pháp nhất định giữa những bộ phận không thể có kiểu quan hệ ấy,
khiến cho câu lủng củng, tối nghĩa.
(ii) ác lỗi về dấu câu
- Ngắt câu sai quy tắc:
. Không đánh dấu ngắt câu khi câu đó kết thúc
.
ánh dấu ngắt câu ở chỗ câu chưa kết thúc
- Vi phạm quy tắc ngắt các bộ phận của câu:
. Không đánh dấu cần thiết để ngắt các bộ phận của câu
. Ngắt sai quy tắc các bộ phận của câu
- Lẫn lộn chức năng của các dấu câu
b. ông trình nghiên cứu “Tiếng Việt thực hành” của nhóm các tác giả
Bùi Minh Toán, Lê
,
ỗ Việt Hùng [30] cũng có đề cập đến một số lỗi
thường mắc phải về câu như sau:
(i) Lỗi về cấu tạo ngữ pháp
- âu không đủ thành phần
- âu không phân định rõ các thành phần
18