MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, ngôn ngữ có thể
tồn tại dưới hai dạng: âm thanh và chữ viết. Khi chữ viết ra đời, tuy không
thể thay thế cho ngôn ngữ nói nhưng nú cú những ưu thế riêng và ngày
càng đóng vai trò không thể thiếu trong đời sống. Chữ viết xuất hiện trờn
cỏc tác phẩm văn học, các văn bản cá nhân, các phương tiện thông tin đại
chúng như báo chí, v.v.
Ra đời từ thế kỷ XVI, báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng vô
cùng phổ biến, đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay thì có thể
nói báo chí là phương tiện thông tin nhanh nhất, hiệu quả nhất và có nhiều
công chúng nhất. Ở nhiều nước trên thế giới, người ta gọi báo chí là cơ quan
quyền lực thứ tư - nghĩa là chỉ đứng sau “tam quyền” của bộ máy chính quyền
là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đõy là kiểu quyền lực không quy định
thành văn bản mà được tạo ra từ công luận xã hội. Đó là cách tôn vinh vai trò,
sức mạnh của báo chí. Báo chí tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống của
con người, là động lực quan trọng cho sự phát triển của xã hội. Với việc
truyền tải lượng thông tin lớn hàng ngày, người đọc báo có thể tiếp nhận tin
tức, bắt chước, làm theo những trào lưu trên báo chí. Vì vậy việc sử dụng
ngôn từ trên báo chí cần được chú trọng, chính xác, chuẩn mực. Giáo sư John
Hohenberg (Đại học báo chí Columbia) đã khẳng định: “Không thể cẩu thả
trong việc sử dụng ngôn ngữ ở các ngành truyền thông được. Ngôn ngữ ở đây
phải truyền tải được tin tức, ý kiến và tư tưởng tới nhân dân càng hữu hiệu
1
càng tốt. Cũng không thể hạ giá văn phạm. Trình độ văn phạm của báo chí ít
ra cũng phải cao bằng trình độ của độc giả có học thức, nếu không báo chí
mất ngay sự kính trọng của quần chúng. Sự chuẩn xác của ngôn ngữ làm sắc
bén thêm ý nghĩa của các sự kiện. Vì thế sự kiện và sự chuẩn xác phải đi đôi
với nhau” [44;11].
Vậy liệu việc sử dụng tiếng Việt trên báo chí hiện nay đã hợp chuẩn mực
chưa? Điều này có ảnh hưởng gì đến khả năng truyền đạt tư tưởng và giữ gìn
nhìn từ góc độ ngôn ngữ chưa xuất hiện nhiều. Chẳng hạn, có “Ngôn ngữ báo
chí” của Hoàng Anh, “Tác phẩm báo chí” của Nguyễn Văn Dũng đề cập đến
lỗi ngôn ngữ, đặc điểm về ngôn ngữ trong từng thể loại báo chí. Các tác giả
như Đinh Hường với công trình “Các tác phẩm thông tấn”, Trần Quang với
“Các tác phẩm báo chí chính luận”, Nguyễn Xuân Sơn với “Các tác phẩm
báo chí chính luận” đều có nhắc đến việc sử dụng từ ngữ trong thể loại báo
chí nhưng không đi sâu. Công trình “Ngôn ngữ báo chí” của Vũ Quang Hào
và “Ngôn ngữ báo chí – những vấn đề cơ bản” của Nguyễn Đức Dân nghiên
cứu tương đối trọn vẹn về vấn đề ngôn ngữ báo chí.
3
Tác phẩm “Ngôn ngữ báo chí” của Vũ Quang Hào đã tìm hiểu những
vấn đề cụ thể như: Ngôn ngữ chuẩn mực của báo chí; ngôn ngữ các phong
cách báo chí; ngôn ngữ của thuật ngữ khoa học; kí hiệu khoa học; ngôn ngữ
tớt bỏo…[44; 5]. Cụng trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Dân đề cập
đến những nội dung cơ bản của ngôn ngữ báo chí như: đặc điểm ngôn ngữ
báo chí, thông tin chìm trong báo chí và kĩ thuật xây dựng thông tin chìm
bằng các thao tác ngôn ngữ cụ thể, ngôn từ của nhà báo và các yêu cầu về lụgớc
diễn đạt trong báo chí. Ngoài ra, chuyên luận còn đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm
và khả năng hoạt động của tiếng Việt trên báo chí, chỉ ra những kĩ năng sử dụng
tiếng Việt một cách có hiệu quả [44; 3].
Tuy nhiên, việc xem những vấn đề từ vựng trên báo chí như đối tượng
trung tâm thì chưa được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu quan tâm
nhiều. Vì vậy, luận văn này trên cơ sở những công trình đã được công bố và
quan điểm chủ quan, chúng tôi sẽ xin làm nổi bật một số lỗi về sử dụng tiếng
Việt trờn bỏo “Phụ nữ Việt Nam”.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những lỗi sử dụng tiếng Việt thường
gặp trên báo chí hiện nay. Trong đó đối tượng khảo sát là những bài báo được
đăng tải trờn bỏo “Phụ nữ Việt Nam” với việc sử dụng từ, câu, chữ, v.v. chưa
trên thực tế rút ra kết luận thoả đáng và cần thiết.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Về mặt lí luận, luận văn sẽ có tác dụng phát hiện một số khuynh hướng
chung trong việc sử dụng ngôn ngữ, qua đó có thể góp phần vào việc xây
dựng chuẩn ngôn ngữ trong giai đoạn mới. Về mặt thực tiễn, hi vọng luận văn
sẽ có tác dụng giỳp các nhà quản lí văn hoá, quản lí báo chí, các biên tập viên,
phóng viên, v.v. quan tâm hơn nữa đến việc sử dụng ngôn ngữ văn hoá trong
công tác truyền thông đại chúng, qua đó góp phần vào việc giữ gìn và nâng
cao sự trong sáng của tiếng Việt, cũng như năng lực đáp ứng nhu cầu sử dụng
ngôn ngữ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Kết quả nghiên cứu của
luận án đồng thời cũng có thể là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những ai
quan tâm đến vấn đề chuẩn của ngôn ngữ Việt Nam.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn chia làm 4
chương như sau:
Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Ngôn ngữ báo chí
1.2. Chuẩn ngôn ngữ
6
1.3. Quan niệm về lỗi ngôn ngữ
Chương 2: CÁC LỖI VỀ CÂU
2.1. Lỗi về cấu tạo câu
2.2. Lỗi về quan hệ ngữ nghĩa trong câu
2.3. Lỗi về phong cách
2.4. Lỗi về dấu câu
2.5. Gợi ý một số biện pháp khắc phục lỗi về câu
Chương 3: CÁC LỖI VỀ TỪ VỰNG
3.1. Lỗi dùng từ không chính xác
3.2. Lỗi dùng từ không hợp phong cách
3.3. Lỗi lặp từ
a. Cách dùng từ ngữ của nhà báo
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng, vì vậy từ ngữ phải mang tính
phổ thông, dễ hiểu. Đó là các từ toàn dân, có tính thông dụng cao, các tiếng
lóng, biệt ngữ, từ địa phương chỉ xuất hiện rất cá biệt. Các thuật ngữ khi bắt
8
buộc sử dụng cũng phải là những thuật ngữ phổ biến và được giải thích nhiều
lần trờn cỏc phương tiện thông tin đại chúng.
Báo chí có ưu thế về tương tác giữa tác giả và độc giả. Do đó, để thu hút
sự chú ý của độc giả, nhà báo có thể đổi mới cách dùng từ, tạo ra một lớp từ
mang phong cách cá nhân “ Đó là những khả năng tìm tòi phát hiện những
năng lực ẩn chứa trong từ” [32;76]
b. Tính ngắn gọn và biểu cảm
Tính ngắn gọn của báo chí là một yêu cầu tất yếu xuất phát từ chức năng
thông báo của báo chí. Muốn thông tin được truyền đạt nhanh, đầy đủ, nhà
báo phải lựa chọn cách diễn đạt cô đọng, tránh rườm rà không cần thiết. Tuy
nhiên, không giống như yêu cầu ngắn gọn của văn bản hành chính, tính ngắn
gọn của báo chí “ít nhiều gắn với xúc cảm chủ quan của cá nhân, với quan
điểm của mỗi tờ bỏo” [32;147], vì thế ngôn ngữ phải có tính biểu cảm để đạt
được mục tiêu tác động đến độc giả.
c. Tính hấp dẫn và thuyết phục
Ở phương diện hình thức, ngôn ngữ phải có sức lôi cuốn độc giả, bằng
cách sử dụng các biện pháp như dùng từ độc đáo, kiến tạo các kết hợp từ gây
ấn tượng bất ngờ, sử dụng nghệ thuật chơi chữ, thành ngữ, ca dao, v.v. một
cách sáng tạo và hiệu quả.
d. Tính thẩm mĩ và giáo dục
Báo chí là món ăn tinh thần phổ biến nên ngôn ngữ báo chí phải đảm bảo
các nguyên tắc thẩm mĩ, không lạm dụng các từ ngữ thông tục trong khẩu
ngữ, sinh hoạt. Khi đảm bảo tính thẩm mĩ, ngôn ngữ báo chí cũng đồng thời
9
thực hiện chức năng giáo dục. Tính giáo dục của ngôn ngữ báo chí được tạo
từ kênh thông tin phi văn tự. Phong cách này không chấp nhận lối diễn đạt dư
thừa, những thán từ, trợ từ, những quán ngữ đưa đẩy. Mạch trình bày phải
mang tính logic rõ rệt, “loại bỏ hoàn toàn cách diễn đạt mà theo đó độc giả
muốn hiểu theo nghĩa gì cũng được” [44;72].
c. Phong cách hành chính
Các tác phẩm viết theo phong cách này không nhiều, chủ yếu là các bài
viết hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, hộp thư bạn đọc, tin công bỏo,v.v. Từ ngữ
ở phong cách này thường lựa chọn lớp từ vựng hành chính và trung hoà về
sắc thái biểu cảm, không dùng những từ ngữ khẩu ngữ, “đặc biệt, sự mơ hồ
của từ ngữ cần phải hoàn toàn triệt tiêu ở phong cách này” [44;75]. Ở
phương tiện ngữ pháp chủ yếu dựng cõu tường thuật, cõu cú độ dài lớn tuy
vậy phải đảm bảo sự diễn đạt không bị hiểu theo hai cách. Về phương pháp
diễn đạt, phong cách này đòi hỏi trong diễn đạt phải đảm bảo tính nghiêm
trang, tính khuôn phép cao nên không chấp nhận lối diễn đạt mang sắc thái cá
nhân, “giọng văn trung tính, khách quan là chuẩn mực của phong cách hành
chớnh…tớnh khách quan, phi cá tính của phương tiện ngôn ngữ kết hợp với
11
những luận cứ chính xác sẽ làm cho văn bản có sức thuyết phục cao” [44;76].
Ngoài ra, diễn đạt theo phong cách này còn phải diễn đạt theo mẫu đã quy
định cho mỗi loại văn bản và cụ thể nhất là những văn bản giải đáp pháp luật,
chế độ chính sách, v.v.
1.1.2.3. Quan niệm về phong cách ngôn ngữ của Hoàng Anh
Hoàng Anh cho rằng nét đặc trưng của ngôn ngữ báo chí là có tính sự
kiện, chính điều này đã tạo cho ngôn ngữ các tính chất cụ thể sau.
a. Tính chính xác
Với ngôn ngữ báo chí, tính chính xác có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vì
báo chí có chức năng định hướng dư luận xã hội, một sơ suất nhỏ cũng dễ làm
cho độc giả khó hiểu hoặc hiểu sai thông tin, có thể gây ra những hậu quả xã
hội nghiêm trọng. Điều này đòi hỏi nhà báo phải nắm vững ngữ pháp; có vốn
từ vựng rộng, chắc, và không ngừng được trau dồi; thành thạo về ngữ âm;
ngôn ngữ có tác động trực tiếp và quyết định tới hiệu quả, mục đích của thông
tin báo chí. Do vậy, ngôn ngữ báo chí trước hết phải là một thứ ngôn ngữ văn
hoá chuẩn mực.
1.2.1. Chuẩn mực ngôn ngữ là một vấn đề lớn trong ngôn ngữ học. Nó
được bàn luận trong nhiều tài liệu ngôn ngữ học nước ngoài cũng như ở Việt
13
Nam. Nhưng chuẩn mực ngôn ngữ báo chí nói riêng và ngôn ngữ báo chí nói
chung vẫn còn là một địa hạt khá mới mẻ ở Việt Nam. Khái niệm Chuẩn mực
của ngôn ngữ (còn gọi tắt là chuẩn ngôn ngữ) theo Vũ Quang Hào, trong “
Ngôn ngữ báo chí”[44; 14], cần xột trờn hai phương diện: Chuẩn mang tính
chất quy ước xã hội tức là phải được xã hội chấp nhận, sử dụng và chuẩn phải
phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn lịch
sử nhất định. Từ đó khi xác định chuẩn ngôn ngữ, đặc biệt là chuẩn ngôn ngữ
báo chí, thì cần phải:
- Dựa trên những cứ liệu thực tế của ngôn ngữ để nắm được những quy
luật biến đổi và phát triển của ngôn ngữ trên tất cả các cấp độ của nó là ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách.
- Xét đến những lí do ngoài ngôn ngữ vốn ảnh hưởng đến sự phát triển,
thay đổi của tiếng Việt. Những lí do đó là: Những biến đổi lớn lao trong xã
hội (Cách mạng Tháng Tám thành công, hai cuộc kháng chiến chống Pháp,
chống Mỹ thắng lợi, những cuộc sơ tán cư dân từ thành thị về nông thôn trong
chiến tranh, cuộc tập kết của cư dân từ Nam ra Bắc sau hiệp định Giơ-ne-vơ,
các cuộc chuyển dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, v.v.); vai trò ảnh hưởng
to lớn của các nhà hoạt động chính trị có uy tín, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo
nổi tiếng vốn lưu tâm đến sự phát triển và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Ngô Tất Tố, Xuân Diệu,
Thép Mới; vai trò tác động của các trào lưu, cỏc nhúm xã hội cùng với công
cuộc đổi mới đất nước và sự mở cửa cho một nền kinh tế mới,v.v. Những yếu
14
tố xã hội đó dù muốn dù không đều có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc nội
vào tình huống và tính chất giao tiếp. “Như vậy khái niệm chuẩn là một khái
niệm rất cơ động, tuỳ thuộc vào nhiều biến số. Và cố nhiên là không thể nói
đến tính chất tuyệt đối của chuẩn” [44;16].
- Phần lớn ý kiến được hệ thống hoá trong các tài liệu ngôn ngữ học Việt
Nam đều cho rằng chuẩn ngôn ngữ là mẫu ngôn ngữ đã được xã hội đánh giá,
lựa chọn và sử dụng. Cố nhiên sự đánh giá, lựa chọn đó không thể đạt đến sự
nhất trí hoàn toàn, do vậy tính chất bắt buộc cũng như tính chất ổn định của
chuẩn chỉ là tương đối. Mặt khác, chuẩn không phải là quy định mà là quy
ước, không phải luật mà là chỉ dẫn. Tuy nhiên sự lựa chọn nói trên không
những không loại trừ mà còn cho phép, thậm chí đòi hỏi một sự lựa chọn cá
nhân trong một phạm vi giao tiếp (nói hoặc viết) nhất định. Khi sự lựa chọn
của cá nhân đạt đến trình độ sáng tạo nghệ thuật và được cộng đồng đón nhận
thì cũng có nghĩa là một chệch chuẩn ra đời.
1.2.3. Chuẩn ngôn ngữ bao gồm hai nội dung căn bản là “cỏi đỳng” và
“sự thích hợp”. Viện sĩ V.Vi-nụ-gra-đốp đó lấy tiêu chuẩn nội tại của chính
16
cấu trúc ngôn ngữ để đánh giá “cỏi đỳng”. Ông viết: “Tất cả những cái mới,
đang phát triển, được các quy luật nội tại của quá trình phát triển ngôn ngữ
thừa nhận, phù hợp với cấu trúc của nó, dựa vào những xu thế sáng tạo của
nhân dân, dựa vào các quá trình mang tính tích cực trong lĩnh vực ngữ pháp,
ngữ nghĩa, sử dụng từ… đều không thể bị cho là không đúng, không thể bị
phủ nhận căn cứ vào thị hiếu và thói quen cá nhân” [44;17]. Như vậy, “Cỏi
đúng” hay còn gọi là tiêu chuẩn “đỳng phộp tắc” được cộng đồng ngôn ngữ
hiểu và chấp nhận là một trong những điều kiện để thừa nhận tính chuẩn mực
của ngôn ngữ. Trái ngược với “cái đúng” là “cái sai”. Đú là cái người tiếp
nhận không hiểu hoặc không chấp nhận vỡ nú không phù hợp với chuẩn mực
chung mà cộng đồng đã lựa chọn, thừa nhận. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
sai: Do không nắm vững ngôn ngữ, bắt chước máy móc, do người viết cố ý
tạo ra sự độc đáo khác biệt để gây ấn tượng nhưng lại không đúng chuẩn được
thừa nhận.
trình mó hoỏ là vô cùng quan trọng.
18
1.3.2. Lỗi về phong cách
Khi xác định lỗi ngôn ngữ chúng ta phải dựa trên những đặc trưng về
phong cách chức năng, tức là dựa trên tu từ học chuẩn mực, nhưng cũng
không nên cứng nhắc, rập khuôn. Mỗi một phong cách chức năng khác nhau
lại có cách viết, cách sử dụng từ, câu khác nhau với những đặc trưng ngôn
ngữ riêng của mình. Tuy nhiên, trên hết chúng ta vẫn phải hướng đến chuẩn
ngôn ngữ văn học, đặc biệt là trong văn viết và tính đến cả sự sáng tạo của
người viết.
1.3.3. Lỗi về hệ thống ngôn ngữ
Lỗi ngôn ngữ cú liờn quan đến nhiều mặt khác nhau của ngôn ngữ học
như: từ vựng học, ngữ pháp học, phong cách học, v.v. mỗi mặt đều có hệ
thống chuẩn mực riêng cho phép người ta nhận định đâu là lỗi ngôn ngữ. Lỗi
ngôn ngữ là một hiện tượng tương đối phức tạp, để nhận biết được lỗi ngôn
ngữ chúng ta phải có những kiến thức cơ bản về chuyên ngành ngôn ngữ học
cũng như những quy định về chuẩn trong từng thời kì lịch sử nhất định.
1.3.4. Lỗi trên phương tiện thông tin đại chúng
Lỗi ngôn ngữ được thể hiện trên nhiều phương diện, trong đó lỗi ngôn
ngữ trờn các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí là điều chúng ta cần
phải xem xét vì chúng có ảnh hưởng rất lớn đến thói quen sử dụng ngôn ngữ
trong giao tiếp của cộng đồng.
1.3.5. Sáng tạo không phải lỗi (Hiện tượng chệch chuẩn)
Có những hiện tượng ngôn ngữ không đúng với yêu cầu của chuẩn
nhưng lại được coi là sự sáng tạo ngôn từ của người viết. Mặc dù là sự sáng
19
tạo của cá nhân nhưng nú cú sức lôi cuốn và phù hợp với cộng đồng, được cả
cộng đồng chấp nhận. Những trường hợp như thế không thể coi là lỗi ngôn
ngữ. Ngược lại, do người viết muốn sáng tạo ra cái mới để tạo sự hấp dẫn
nhưng đôi khi cái mới đó lại làm người đọc hiểu sai nghĩa, không nhận được
nối bằng các cặp kết từ: vỡ…(cho)nờn…/ bởi….(cho)nờn…/ do….(cho)nờn…/
. Nếu hai vế câu có quan hệ tăng tiến, chúng cần được nối bằng cặp kết
từ : càng…càng…/
. Nếu hai vế câu có quan hệ đồng thời, chúng cần được nối bằng kết
từ: đồng thời.
. Nếu hai vế câu có quan hệ tương phản, chúng cần được nối với nhau
bằng cặp kết từ: tuy …nhưng…./ tuy… mà cũn…./…
- Sắp xếp sai trật tự từ
Sắp xếp sai trật tự từ thường làm cho câu phản ánh sai lạc ý của người
viết hoặc làm cho câu trở nên mơ hồ về nghĩa, tức là hiểu theo cách nào cũng
được.
- Thiết lập sai quan hệ ngữ pháp giữa các bộ phận trong câu
21
Thiết lập sai quan hệ ngữ pháp giữa các bộ phận trong câu nghĩa là thiết
lập quan hệ ngữ pháp nhất định giữa những bộ phận không thể có kiểu quan
hệ ấy, khiến cho câu lủng củng, tối nghĩa.
(ii) Các lỗi về dấu câu
- Ngắt câu sai quy tắc:
. Không đánh dấu ngắt câu khi cõu đó kết thúc
. Đánh dấu ngắt câu ở chỗ câu chưa kết thúc
- Vi phạm quy tắc ngắt các bộ phận của câu:
. Không đánh dấu cần thiết để ngắt các bộ phận của câu
. Ngắt sai quy tắc các bộ phận của câu
- Lẫn lộn chức năng của các dấu câu
(iii) Các lỗi về liên kết câu
Các lỗi về liên kết câu bao gồm ba loại:
- Lỗi về liên kết chủ đề: Cỏc cõu trong cùng một đoạn không cùng phục
vụ chủ đề của đoạn ấy.
- Lỗi về liên kết logic: Cỏc cõu trong một đoạn hay trong một văn bản
thể hiện những lập luận thiếu căn cứ hay không nhất quán, hoặc không được
(ii)Các lỗi về quan hệ ngữ nghĩa trong câu
- Câu phản ánh sai hiện thực khách quan
- Câu thể hiện sai quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận trong câu
- Lỗi trùng ngữ trong danh ngữ
(iii) Lỗi về phong cách
(iv) Các lỗi về dấu câu
- Ngắt câu sai quy tắc:
. Không đánh dấu câu khi cõu đó kết thúc
. Đánh dấu câu ở chỗ câu chưa kết thúc
- Vi phạm quy tắc ngắt các bộ phận của câu:
. Không đánh dấu cần thiết để ngắt các bộ phận của câu
. Ngắt sai quy tắc các bộ phận của câu
- Lẫn lộn các chức năng của dấu câu
1.3.6.2. Các lỗi thông thường về dùng từ
a. Theo ý kiến của các tác giả Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn
Hiệp, khi tạo lập văn bản, người viết thường mắc phải các lỗi về sử dụng từ
vựng như sau:
(i) Lặp từ
Lặp từ có hai kiểu:
- Lặp nguyên vẹn một từ
- Lặp từ do sử dụng những từ đồng nghĩa (như: số liệu và con số, trưởng
thành và lớn lên, v.v.)
24
(ii) Dùng từ không đúng nghĩa
Hiện tượng dùng từ không đúng nghĩa thường gặp trong những trường hợp:
- Người viết không nắm được nghĩa của từ, nhất là các từ Hán Việt, các
thuật ngữ khoa học.
- Người viết nhầm lẫn các từ gần âm, gần nghĩa với nhau.
(iii) Dùng từ không hợp phong cách
Dùng từ không hợp phong cách nghĩa là dùng từ không hợp với văn