SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
CÁCH KHẮC PHỤC MỘT SỐ LỖI NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT
MÀ HỌC SINH THCS THƯỜNG MẮC PHẢI
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thuyên
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: trường THCS Thọ Lập
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn
THANH HÓA, NĂM 2016
1
MỤC LỤC
Trang
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài.........................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu..................................................................................1
3. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................1
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................2
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận................................................................................................2
2. Thực trạng vấn đề.......................................................................................3
3. Giải pháp và tổ chức thực hiện..................................................................4
3.1. Giới thiệu vài nét về ngữ pháp............................................................5
3.2. Một số lỗi ngữ pháp mà học sinh THCS thường mắc phải và cách
(THCS). Đứng trước tình hình đó đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến
vấn đề và chỉ ra một số cách khắc phục lỗi từ những góc nhìn lí luận và thực tiễn
khác nhau. Song, vấn đề nghiên cứu được thể hiện ở mặt lý thuyết chung chung
hoặc trong một phạm vi nhất định nào đó.
Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp môn Ngữ văn bậc THCS, tôi không khỏi
băn khoăn, trăn trở, làm thế nào để hạn chế lỗi ngữ pháp mà học sinh THCS thường
mắc phải, giúp các em có hứng thú, có ý thức học tập tốt và sử dụng tiếng Việt tốt
hơn. Vì thế, trên cơ sở kế thừa và phát huy tinh thần, tư tưởng của các công trình
nghiên cứu đi trước, kết hợp với thực tiễn giảng dạy ở trường trong những năm
qua, tôi đã nêu ra vấn đề: “Cách khắc phục một số lỗi ngữ pháp mà học sinh THCS
thường mắc phải” góp phần giúp các thầy (cô) giáo và các em học sinh có những
giờ học thiết thực và hiệu quả.
2. Mục đích nghiên cứu
- Củng cố tri thức lí thuyết, chỉ dẫn một số thao tác nhận diện lỗi ngữ pháp,
đưa ra cách khắc phục lỗi để vận dụng vào giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở bậc
THCS; giúp học sinh sửa lỗi, rèn luyện và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt
trong giao tiếp hàng ngày, nhất là trong học tập và nghiên cứu.
- Bồi dưỡng tình cảm yêu quý, thái độ trân trọng đối với tiếng Việt; rèn luyện
cho học sinh thói quen và ý thức sử dụng tiếng Việt một cách hợp lí, đúng chuẩn mực.
3. Đối tượng nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu và xem xét các trường hợp mắc lỗi ngữ pháp của học
sinh trong quá trình học tập, sử dụng tiếng Việt từ khối 6 đến khối 9 (bậc THCS)
qua các năm để tìm ra cách khắc phục lỗi cho các em.
3
4. Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát
- Điều tra
- Thực nghiệm
dân tộc mình.
2. Thực trạng vấn đề
Ngày nay xã hội phát triển, con người ngày càng không ngừng học tập để
hoàn thiện mình, vì thế giáo dục trong nhà trường là vô cùng quan trọng. Nó đòi
hỏi cả giáo viên và học sinh cùng không ngừng cố gắng, học tập và rèn luyện để
trau dồi kiến thức, mở rộng vốn hiểu biết của mình.
Vậy nhưng, vấn đề đặt ra để thực hiện trên thực tế lại rất khó khăn. Đúng như
GS.TS Ngô Như Bình (trường đại học Harvard - Mĩ) chia sẻ. Ông “đau đáu trước
4
một xu hướng khá bi đát, rằng tiếng Việt đang bị hủy hoại”. Và theo ông, một trong
những vấn đề nghiêm trọng đang hủy hoại tiếng Việt là “lỗi ngữ pháp và lỗi về cách
dùng từ ngày càng trở nên phổ biến”. Thực tế cho thấy, hiện nay học sinh nói, viết
sai ngữ pháp tiếng Việt ngày càng phổ biến khiến các thầy, cô giáo vô cùng lo lắng.
Từ chỗ các em viết sai chính tả đến đặt câu và tạo dựng đoạn văn trình bày vấn đề
thiếu tính chính xác, kém sức thuyết phục đối với người đọc, người nghe. Không chỉ
trong viết mà nói hàng ngày, các em cũng sử dụng sai ngữ pháp, thiếu từ, câu hoặc
tùy tiện chêm xen ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả học tập và giao tiếp.
Về phía giáo viên: Đối với bậc THCS, môn Ngữ văn không có các tiết
luyện chính tả, luyện đọc - viết nên hầu hết các giáo viên không quan tâm nhiều
đến việc rèn luyện, sửa lỗi ngữ pháp cho học sinh. Trong các bài kiểm tra của
học sinh, giáo viên chấm bài và trả bài qua loa, không chú trọng vào việc đọc kĩ
và phát hiện lỗi ngữ pháp của mỗi học sinh lớp mình giảng dạy để kịp thời sửa
lỗi cho các em. Bên cạnh đó, có giáo viên còn cho rằng ngày nay học sinh viết
sai, nói sai ngữ pháp nhiều không thể sửa hết được. Cứ như thế, lớp này đến lớp
khác học sinh sai mà không biết mình sai hoặc sai nhưng không biết cách nào để
sửa lỗi ngữ pháp mà mình gặp phải.
Về phía học sinh: Đối với học sinh THCS, nhận thức về việc sử dụng ngữ pháp
tiếng Việt còn hạn chế. Vì vậy, các em mắc lỗi về nói và viết trong quá trình sử dụng
35
32
39
34
Số học sinh mắc lỗi
ngữ pháp
30
26
30
27
Tỉ lệ (%)
85.7
81.3
76.9
79.4
Bậc THCS là bậc học rất quan trọng trong quá trình học tập của học sinh. Nó
là khâu trung gian nối giữa bậc Tiểu học và bậc THPT, là giai đoạn các em tích lũy
5
tri thức để chuyển lên những cấp học cao hơn, yêu cầu của việc các em nói đúng,
viết đúng tiếng Việt trở nên hết sức bức thiết. Do vậy, dạy học sinh nắm bắt kiến thức
ngữ pháp nói chung và ngữ pháp tiếng Việt nói riêng nhằm hình thành và nâng cao
những kiến thức ngữ pháp tiếng Việt để các em có kĩ năng sử dụng tiếng Việt khi
nói, viết, năng lực phân tích, lĩnh hội khi nghe, đọc. Đây là việc làm quan trọng, đòi
hỏi người giáo viên dạy phải có niềm đam mê và tâm huyết trong sự nghiệp giáo dục
thế hệ trẻ tương lai cho đất nước.
3.2. Một số lỗi ngữ pháp mà học sinh THCS thường mắc phải và cách khắc phục
Từ việc học sinh dùng từ, đặt câu sai dẫn đến việc trong câu xuất hiện các từ
không có trong tiếng Việt cũng như câu trong đoạn, văn bản không diễn đạt được ý,
mục đích muốn nói. Ở trình độ của học sinh THCS, trên cơ sở chỉ ra một số lỗi ngữ
pháp thường gặp và nguyên nhân dẫn đến lỗi, tôi đưa ra cách khắc phục lỗi.
6
3.2.1. Lỗi dùng từ trong cấu tạo cụm từ và câu và cách khắc phục lỗi
3.2.1.1. Về lí thuyết
(một số lỗi ngữ pháp thường gặp, nguyên nhân và cách khắc phục)
* Dùng từ không đúng âm thanh và hình thức cấu tạo khi đặt câu
- Nguyên nhân
+) Không phân biệt được từ gần âm nhưng khác nghĩa
+) Các từ viết sai chính tả do phát âm lệch chuẩn hoặc phát âm địa phương
- Khắc phục
Âm thanh và hình thức cấu tạo là mặt vật chất, là cái biểu đạt của từ. Nếu cái
biểu đạt mà bị dùng sai thì hệ quả kéo theo là cái được biểu đạt sẽ không đúng hoặc
vô nghĩa.
Ví dụ:
(1) Mẹ luôn mơ ước con có một tương lai sáng lạng.
(2) Một tương lai sáng lạn đang chờ đón Việt Nam ở phía trước.
(Trích trong bài kiểm tra Tập làm văn của học sinh lớp 6)
Theo cuốn “Từ điển Tiếng Việt” do Trung tâm Từ điển học và Nhà xuất bản
Đà Nẵng xuất bản (Hoàng Phê chủ biên) giải thích: “xán lạn” là rực rỡ, chói
lọi/tiền đồ xán lạn/tương lai xán lạn (trang 1454) thì cả hai trường hợp trên đều
dùng từ sai. Ở vào vị trí của từ “sáng lạng” (ví dụ 1) hay “sáng lạn” (ví dụ 2) chính
xác phải là từ “xán lạn”. Vì chỉ có từ “xán lạn” mới có nghĩa còn hai từ “sáng
lạng”, “sáng lạn” đều vô nghĩa, không tồn tại trong từ vựng tiếng Việt.
* Dùng từ không đúng về ý nghĩa khi đặt câu
đúng với đặc điểm từ loại cũng như ý nghĩa của từ để kết hợp tạo cụm từ và câu
đúng nên học sinh dễ mắc lỗi.
- Khắc phục
Từ là đơn vị ngôn ngữ trực tiếp cấu tạo nên câu và khi thực hiện chức năng
cấu tạo câu, các ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp của từ được hiện thực hóa
trong những mối quan hệ ràng buộc với nhau. Mỗi loại từ lại có những khả năng
kết hợp khác nhau, bị chi phối bởi chính đặc điểm ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ
pháp của từ đó. Khi dùng từ, chúng ta nhất thiết phải nắm chắc được đặc điểm ý
nghĩa của từ để kết hợp tạo câu đúng, nếu không sẽ dễ mắc lỗi.
Ví dụ Trong những ngày Tết, lượng mưa kéo dài đã gây ngập úng nhiều nơi
khiến cho em không thể đi chơi được.
(Trích trong bài kiểm tra Tập làm văn của học sinh lớp 6)
Ở ví dụ trên, sự kết hợp giữa “lượng mưa” với “kéo dài” là không phù hợp
bởi khi đã tính đến “lượng” thì phải là nhiều/lớn hay ít chứ không thể kết hợp
với “kéo dài” (biểu thị khoảng cách hoặc thời gian). Dùng từ như vậy dẫn đến sai
logic trong việc kết hợp các từ/cụm từ trong câu.
Sửa lại: Trong những ngày Tết, mưa kéo dài đã gây ngập úng nhiều nơi
khiến cho em không thể đi chơi được.
* Dùng từ không thích hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản
- Nguyên nhân
Từ địa phương chỉ dùng trong sinh hoạt hàng ngày và trong sáng tác văn học
nhưng trong văn bản chính luận, khoa học thì không được dùng.
- Khắc phục
Ví dụ: Vào một buổi sáng đẹp trời, ánh bình minh vẫy gọi, rứa là em không
ngần ngại trốn mẹ đi chơi.
(Trích trong bài kiểm tra Tập làm văn của học sinh lớp 6)
Ở ví dụ trên, học sinh không được dùng từ địa phương mà phải chọn các từ
toàn dân tương ứng để đặt câu, diễn đạt ý.
Sửa lại: thay từ "rứa" bằng từ "thế".
Vào một buổi sáng đẹp trời, ánh bình minh vẫy gọi, thế là em không ngần
sinh nắm vững kiến thức cơ bản, đặc biệt đối với học sinh lớp tôi phụ trách thường
mắc lỗi sử dụng lẫn lộn các phụ âm đầu như: ch/tr, s/x, r/d/gi hoặc sử dụng sai dấu
thanh: hỏi (?) và ngã (~) (giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu và vận dụng các
mẹo luật chính tả; sử dụng Từ điển để tham khảo). Bên cạnh đó, giáo viên chú ý
đến việc cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về từ cũng như kĩ năng sử
dụng từ qua hệ thống bài tập tùy thuộc vào những đối tượng học sinh khác nhau.
a. Định hướng bài tập
- Tiếp xúc và tìm hiểu từ về chính tả
(Giáo viên đưa ra các dạng bài để học sinh phân biệt phụ âm và dấu thanh)
+) Ghi nhớ mặt chữ của từng từ
+) Luyện phát âm đúng chuẩn để vận dụng viết đúng
Ví dụ
* Bài tập 1: Điền vào chỗ trống ch/tr; s/x; r/d/gi trong đoạn thơ sau:
...ưa có một ông ...à với vợ,
Ở bên bờ biển cả xanh xanh,
...ơ ...ác một túp lều ...anh
Băm ba năm ...ọn một mình bơ vơ.
...ồng ...uyên đi quăng ...ài, thả lưới,
Vợ ở nhà kéo ...ợi, ...e ...ây...
(Thơ A.Puskin – do Hoàng Trung Thông dịch)
9
Đáp án:
Xưa có một ông già với vợ,
Ở bên bờ biển cả xanh xanh,
Xơ xác một túp lều tranh
Băm ba năm trọn một mình bơ vơ.
Chồng chuyên đi quăng chài, thả lưới,
Vợ ở nhà kéo sợi, xe dây...
sáng tạo nét nghĩa mới ở bình diện ngữ âm, hình thức cấu tạo từ)
+) Dùng từ thích hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản
Ví dụ
* Bài tập 1: Trong các câu sau, từ (in đậm) nào dùng đúng?
(1) Lớp chúng em tổ chức đi tham quan.
10
(2) Lớp chúng em tổ chức đi thăm quan.
(3) Bạn ấy rất lạnh lẽo với mọi người.
(4) Bạn ấy rất lạnh lùng với mọi người.
Đáp án:
Từ dùng đúng là từ tham quan trong câu (1), từ lạnh lùng trong câu (4)
* Bài tập 2: Các câu sau đã chuyển nghĩa của từ theo phương thức nào?
(1)
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
(Trích Viếng lăng Bác - Viễn Phương)
(2)
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.
(Trích Việt Bắc - Tố Hữu)
Đáp án
(1) Câu đã chuyển nghĩa của từ theo phương thức ẩn dụ: "mặt trời"(trong
lăng) chỉ Bác Hồ.
(2) Câu đã chuyển nghĩa của từ theo phương thức hoán dụ: "áo chàm" chỉ
người dân Việt Bắc.
* Bài tập 3: Chỉ ra từ dùng không đúng trong các câu sau và sửa lại cho đúng với
nội dung của câu.
(1) Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ kể lại câu truyện về một đêm Bác không
bạn, bàn bạc thống nhất cách khắc phục lỗi đó. Trong quá trình thực hiện, giáo viên
quan sát cá nhân học sinh, nhóm học sinh để đôn đốc hướng dẫn và biết được
những bài làm sai để tổ chức cho học sinh nhận xét và sửa chữa . Đặc biệt đối với
những học sinh mắc nhiều lỗi, chỉ ra từng lỗi sai và cho các em viết lại các từ đã
sửa dưới bài viết.
3.2.2. Lỗi đặt câu
3.2.2.1. Về lí thuyết
(một số lỗi ngữ pháp thường gặp, nguyên nhân và cách khắc phục)
Câu là một tập hợp từ, ngữ kết hợp với nhau theo những quan hệ cú pháp xác
định, được tạo ra trong quá trình tư duy, giao tiếp, có giá trị thông báo, gắn liền với
mục đích giao tiếp nhất định.
Ở bậc tổ chức câu, hiện tượng sai ngữ pháp, trước hết có thể quy thành hai
loại lỗi lớn: câu sai do cấu trúc không hoàn chỉnh và câu sai do vi phạm quy tắc kết
hợp. Mỗi loại lỗi sai này được chia thành nhiều kiểu lỗi nhỏ, dựa vào đặc điểm, tính
chất của hiện tượng sai.
Lưu ý:
Khi tiến hành sửa chữa câu sai ngữ pháp, một mặt chúng ta phải căn cứ vào
cấu trúc có sẵn và nội dung biểu đạt của câu; mặt khác, phải đặt câu sai trong văn
cảnh, nghĩa là phải xem xét câu sai trong mối quan hệ nhiều mặt với các câu xung
quanh. Kết quả sửa chữa câu sai được xem là tối ưu khi câu đã sửa chữa đảm bảo
các yêu cầu sau đây: Nội dung biểu đạt của nó vừa chính xác, vừa trung thực với ý
đồ biểu đạt của học sinh và chỉ nên điều chỉnh, thay đổi, thêm bớt trong trường hợp
nội dung biểu đạt của câu quá vụng về hay lệch lạc, mâu thuẫn; cấu trúc câu đã sửa
phải phù hợp với chuẩn mực ngữ pháp; câu đã sửa phải liên kết chặt chẽ với các
câu chung quanh ở cả hai bình diện: nội dung và hình thức.
* Câu sai về cấu tạo ngữ pháp
- Câu thiếu thành phần nòng cốt: Chủ ngữ, vị ngữ, cả chủ ngữ và vị ngữ
+) Nguyên nhân
Học sinh nắm không vững kiến thức về cấu tạo của câu đơn, câu ghép. Đặc
biệt là thành phần chính, thành phần phụ của câu (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ…)
Ví dụ: Trong cuộc đọ sức, đánh nhau dữ dội hai con diều hâu lớn đầu đàn.
(Trích trong bài kiểm tra Tập làm văn của học sinh lớp 6)
Đảo lại ví trí của các thành phần trong câu: chủ ngữ và vị ngữ để câu phù
hợp với mục đích nói là kể lại sự việc. Sửa lại: Trong cuộc đọ sức, hai con diều hâu
lớn đầu đàn đánh nhau dữ dội.
* Câu sai về quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận
- Nguyên nhân
Câu phản ánh sai hiện thực khách quan, không lôgíc do học sinh nắm không
vững kiến thức về sự vật, sự việc, hiện tượng…
- Khắc phục
Ví dụ: Hồ Chủ tịch đã lãnh đạo nhân dân ta đánh đuổi giặc Mĩ giành thắng
lợi, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945.
(Trích trong bài kiểm tra Tập làm văn của học sinh lớp 9)
Ở ví dụ trên, kiến thức về lịch sử của học sinh không vững, không nắm được
mốc thời gian của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ ở Việt Nam.
Sửa lại: Hồ chủ tịch đã lãnh đạo nhân dân ta đánh đuổi giặc Pháp giành
thắng lợi, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945.
* Quan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận của câu không phù hợp với các phương
tiện hình thức thể hiện quan hệ
- Nguyên nhân
Lỗi học sinh gặp phải thường xảy ra ở các câu ghép có dùng quan hệ từ
nhưng không thích ứng với quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu, bộ phận câu.
13
- Khắc phục
Ví dụ: Ngô Tất Tố đã tố cáo bọn thực dân Pháp bóc lột nhân dân ta về thuế má
nhưng ông không ngần ngại vạch mặt bọn chúng.
(Trích trong bài kiểm tra Tập làm văn của học sinh lớp 8)
Ở câu ghép trên, hai vế không đối lập nhau về mặt ý nghĩa nhưng học sinh
chủ đề. Vì vậy, để hoàn chỉnh đoạn diễn đạt ý tương đối trọn vẹn cần sử dụng
phương tiện liên kết câu trong đoạn.
Sửa lại: Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, có rất nhiều câu nói về kinh
nghiệm lao động sản xuất cũng như quan hệ ứng xử trong đời sống hằng ngày. Đó
là những kinh nghiệm quý báu còn lưu truyền cho con cháu muôn đời. Nó thể hiện
rõ trong các câu: “Nhất thì nhì thục”, “Tấc đất tấc vàng” “Đói cho sạch, rách cho
thơm”, “Một mặt người bằng mười mặt của”…
14
3.2.2.2. Về thực hành
Trong quá trình giảng dạy ở bậc học THCS, tôi tiến hành sửa lỗi đặt câu cho
học sinh từ lý thuyết đến thực hành. Ngoài việc chỉ ra một số lỗi ngữ pháp trong đặt
câu mà các em thường gặp, nguyên nhân và cách khắc phục (theo mục 3.3.2.1 đã
dẫn ở trên), tôi kết hợp với quá trình thực hành như sau:
(1) Đưa ra các dạng bài tập vận dụng
(2) Làm bài kiểm tra - đánh giá
(3) Học sinh tự chỉ ra lỗi sai của mình và sửa lỗi qua bài kiểm tra
(4) Giáo viên sửa lại, khắc sâu kiến thức qua việc hỏi - đáp trực tiếp và chấm
bài kiểm tra của học sinh.
Các bước trên được tiến hành ở những tiết học liên quan đến kiến thức tiếng
Việt và kết hợp ở các tiết trả bài kiểm tra theo phân phối chương trình của từng
khối lớp.
a. Định hướng bài tập
+) Câu cần cấu tạo đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt (các cụm từ, các kiểu câu)
+) Câu cần đúng về nội dung ý nghĩa
+) Sử dụng dấu câu hợp lý (dấu chấm, dấu phẩy, chấm than, chấm hỏi…)
+) Câu cần có liên kết chặt chẽ với các câu khác trong văn bản (liên kết về
nội dung và hình thức).
Lưu ý: Trong quá trình học sinh làm bài, giáo viên quan sát cá nhân học sinh, nhóm
ngoại xâm.
Đáp án
- Câu (1): Câu thiếu thành phần chủ ngữ.
Sửa lại:
+ Thêm chủ ngữ cho câu: Qua tác phẩm này, tác giả đã tố cáo xã hội phong
kiến đầy bất công và tàn bạo.
+ Bỏ từ Qua: Tác phẩm này đã tố cáo xã hội phong kiến đầy bất công và tàn bạo.
- Câu (2): Câu thiếu thành phần nòng cốt: chủ ngữ và vị ngữ
Sửa lại: Thêm chủ ngữ và vị ngữ cho câu
Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, với tinh thần đoàn kết một lòng chống
ngoại xâm, quân và dân ta đã giành chiến thắng vang dội trong chiến dịch Điện
Biên Phủ.
* Bài tập 3: Nhận xét về cách sử dụng dấu câu trong đoạn văn sau.
“Thơ văn yêu nước thời kì kháng chiến có đầy đủ cung bậc cảm xúc, mỗi bài
có một nét riêng, độc đáo. Trong số đó, chúng ta không thể không nhắc đến Tố Hữu
một nhà thơ cách mạng nổi tiếng của nền văn học Việt Nam với tập thơ nổi tiếng
Việt Bắc? Đáp án
Trong đoạn văn trên, người viết đã kết thúc đoạn văn bằng dấu chấm hỏi (?)
là không hợp lý. Dấu chấm hỏi (?) thường dùng để kết thúc câu nghi vấn, còn ở
đoạn văn trên, câu thứ hai: Trong số đó, chúng ta không thể không nhắc đến Tố
Hữu - một nhà thơ cách mạng nổi tiếng của nền văn học Việt Nam với tập thơ nổi
tiếng "Việt Bắc"? là câu trần thuật và kết thúc câu phải dùng dấu chấm.
b. Sửa lỗi qua bài kiểm tra
- Giáo viên ra đề kiểm tra theo các dạng: đặt câu riêng biệt theo cấu tạo, theo
mục đích nói hoặc có thể triển khai theo hướng đặt câu trong đoạn văn và liên kết
trong văn bản.
+ Đặt câu theo cấu tạo: câu đơn và câu ghép
+ Đặt câu theo mục đích nói: câu nghi vấn, câu cảm thán, câu trần thuật...
- Qua các bài kiểm tra Tiếng Việt và Tập làm văn, giáo viên giúp học sinh tự
phát hiện lỗi đặt câu trong bài viết của mình và giáo viên chữa, chỉ ra cách khắc
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Vận dụng những kinh nghiệm trên đây tôi đã thu được những kết quả như sau:
(1) Chất lượng môn Ngữ văn nói chung, phân môn Tiếng Việt nói riêng của
các lớp tôi dạy đã được nâng lên, đặc biệt là việc các em tạo lập văn bản tốt hơn,
hạn chế rõ rệt lỗi ngữ pháp mà các em thường gặp thể hiện qua việc các em làm bài
tập và bài kiểm tra đạt kết quả cao hơn.
(2) Trong giờ học, thay vì thụ động tiếp nhận bài học, các em trở thành chủ
thể của quá tình tìm hiểu và chiếm lĩnh tri thức. Các em đã có ý thức trong việc lựa
chọn và sử dụng từ, câu đúng ngữ pháp. Đồng thời hứng thú hơn trong các giờ học
Văn. Các em chủ động nêu lên lỗi mình thường gặp khi tạo lập văn bản và giao tiếp
để cả lớp thảo luận, khắc phục nên các em đã có sự thay đổi, tiến bộ rõ rệt. Điều đó
được thể hiện qua bảng thống kê sau:
Khảo sát về số học sinh mắc lỗi ngữ pháp qua bài kiểm tra của các em
từ lớp 6 đến lớp 9 (năm học 2015 - 2016)
(thực hiện điều tra khi giáo viên vận dụng một số biện pháp khắc phục lỗi ngữ
pháp kết hợp trong giảng dạy ngoài những tiết theo phân phối chương trình)
TT Lớp
Tổng số
Số học sinh mắc lỗi
Tỉ lệ (%)
học sinh
ngữ pháp
1
6B
35
14
40
2
7A
32
lỗi trong sử dụng tiếng Việt là trách nhiệm không của riêng ai. Trước hết chính là ở
bản thân những học sinh mắc lỗi và quá trình giảng dạy của các giáo viên trên bục
giảng, cần kết hợp giữa các hoạt động của nhà trường, gia đình và xã hội để quá
trình đó tạo hiệu quả cao nhất.
Giới hạn của đề tài này, tôi chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu một số lỗi ngữ pháp
mà học sinh THCS thường mắc phải mà bản thân khảo sát được qua các tiết dạy
nhằm đưa ra biện pháp khắc phục lỗi chứ không nhằm đi vào các lỗi ngữ pháp nói
chung mà hiện nay nhiều người sử dụng tiếng Việt đang gặp phải.
2. Đề xuất
- Sở Giáo dục và đào tạo cần có một cuốn ngữ pháp tiếng Việt chuẩn và tập
hợp các tài liệu có liên quan về cách khắc phục lỗi ngữ pháp mà học sinh thường
gặp để hỗ trợ giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học góp phần vào việc
giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
- Phòng Giáo dục thường xuyên mở các hội thảo trao đổi về chuyên môn để
giáo viên có điều kiện lắng nghe, học hỏi về các kinh nghiệm của đồng nghiệp trong
việc giảng dạy ngôn ngữ dân tộc cho học sinh.
- Nhà trường nên tổ chức các cuộc thi trong các dịp lễ cho học sinh tìm hiểu
thêm về tiếng Việt.
- Đội ngũ giáo viên - những người trực tiếp giảng dạy các em cần quan tâm
đến việc giúp các em nắm vững kiến thức về tiếng Việt qua các giờ học, không chỉ
giới hạn ở bộ môn Ngữ văn mà ở tất cả các môn học.
Có thể có nhiều biện pháp để khắc phục lỗi ngữ pháp tiếng Việt mà học sinh
đang gặp phải trong quá trình học tập và sử dụng trong giao tiếp, trên đây chỉ là
18
một giải pháp mà bản thân tôi thấy có nhiều thuận lợi trong việc áp dụng giảng dạy
trong nhà trường, tôi muốn trao đổi cùng đồng nghiệp để nhằm học hỏi và nâng cao
trình độ chuyên môn của mình. Vì vậy, kính mong các cấp chỉ đạo và đồng nghiệp
vui lòng đóng góp ý kiến để kinh nghiệm được hoàn thiện hơn./.