Cách khắc phục một số ảnh hưởng về giao văn hoá trong dạy học tiếng anh cho học viên năm thứ nhất - Pdf 24

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đối với bất kì quốc gia nào trên thế giới, văn hoá và ngôn ngữ là hai bộ
phận không thể tách rời. Ngôn ngữ là sản phẩm của văn hoá và phản chiếu
nền văn hoá. Vì vậy mà trong quá trình học ngoại ngữ, học viên không chỉ
phải lĩnh hội kiến thức về ngôn ngữ mà còn phải hiểu biết về nền văn hoá của
ngôn ngữ đó đặc biệt là các giá trị, chuấn mực và khái niệm.
Ngày nay tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ quan trọng trên phạm vi
toàn cầu. Nhu cầu học tiếng Anh ngày càng lớn đặc biệt là ở Việt Nam. Hầu
hết tất cả những người học đều mong muốn sẽ có được khả năng giao tiếp sau
mỗi khoá học. Đa số học viên cho rằng kiến thức về ngữ âm, ngữ pháp, từ
vựng mới là chiếc cầu nối đưa họ tiến đến việc làm chủ một ngôn ngữ. Tuy
nhiên trong thực tế chính sự khác biệt trong thói quen giao tiếp mới là những
rào cản đối với việc dạy và học tiếng Anh. Những khoảng ngưng, chủ đề phù
hợp khi tham gia hội thoại, cách xưng hô là rất khác nhau giữa các nền văn
hoá.
Có thể nói rằng một số phạm trù giao văn hoá có những ảnh hưởng nhất
định đến việc học tiếng Anh. Có nhiều học viên học rất giỏi từ vựng, cấu trúc
hoặc đọc hiểu nhưng vẫn không thể nói hoặc viết theo văn phong của Anh và
sự giao thoa văn hoá này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc học tiếng Anh.
Hơn nữa, trong một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng học viên đặc biệt là đối
với các học viên năm thứ nhất gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận ra các
lỗi mắc phải trong khi sử dụng tiếng Anh do ảnh hưởng của văn hoá Việt. Do
đó, trong sáng kiến kinh nghiệm này, tác giả muốn trình bày “Cách khắc
phục một số ảnh hưởng về giao văn hoá trong dạy học tiếng Anh cho học
viên năm thứ nhất” và đưa ra các giải pháp phù hợp cho giáo viên để phần
nào đó giảm bớt những khó khăn trong giảng dạy do những ảnh hưởng này
mang lại
- 1 -
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận:
Halliday trong công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra ba chức năng

đối với học viên năm thứ nhất, có hai ảnh hưởng điển hình:
1. Ảnh hưởng từ tính khách quan – tính chủ quan trong văn hoá của hai nước .
Người Anh tôn trọng tính khách quan, trong khi đó người Việt lại có xu
hướng dùng nhiều tính chủ quan trong văn hoá giao tiếp của mình. Người
Anh không quan trọng về vị trí và phương hướng của cái tôi. Nhưng người
Việt thì ngược lại. Chính vì lí do này, trong quá trình nói và viết tiếng Anh,
học viên thường mắc phải những lỗi về
a) Vị trí và cách dùng giới từ trong tiếng Anh và tiếng Việt.
Ví dụ người Anh nói:
This is the first time I have come to Hanoi
Từ câu nói này, người nghe không thể đoán được vị trí của người nói. Nhưng
người nghe/người đọc dễ dàng xác định vị trí của người nói/viết trong câu: “
Đây là lần đầu tiên tôi ra/ xuống/ đến Hà nội”. Chính vì lối tư duy này mà học
sinh cũng mắc lỗi khi viết: “I swim under the water” chứ không viết “ I swim
in the water”. Trong trường hợp này, người viết muốn chỉ ra vị trí của mình
so với mặt nước đó là “under the water” chứ không phải là “in the water”.
Sử dụng cặp giới từ “Trong- Ngoài” (In-Out) cũng làm cho học viên gặp rất
nhiều khó khăn. Người Việt thường tư duy theo lối: khi chủ thể đứng ở một vị
trí rộng hơn, sáng hơn so với một nơi khác nhỏ hơn, tối hơn, họ thường dùng
giới từ trong- ngoài. Chẳng hạn như “Trong nhà- Ngoài ngõ” và nếu như so
với đường, ngõ lại nhỏ hơn và tối hơn, họ sẽ viết: Trong ngõ-ngoài đường).
Đương nhiên học viên theo cách tư duy này mà sẵn sàng viết “ in the house-
out the lane” và “in the lane- out the road”.
b) Cách sử dụng câu bị động và câu chủ động của hai ngôn ngữ Anh-
Việt. Người Anh có xu hướng nói và viết ở dạng bị động nhiều hơn người
Việt trong những tình huống trang trọng. Ví dụ : It is believed that… , He is
- 3 -
considered to be……Nhưng trong những tình huống này, người Việt lại nói ở
dạng chủ động: Người ta tin rằng…., người ta cho rằng anh ta…….Ngược lại,
trong những tình huống chủ động của ngôn ngữ Anh người Việt lại dùng bị

Tương tự như “đã”, “đang” cũng gây ra rất nhiều vấn đề cho người học vì bản
thân từ này cũng có rất nhiều cách diễn đạt.
+ Dân số Việt nam đang tăng nhanh từ sau năm 1975 ( Vietnamese population
has been increasing rapidly since 1975)
+ Khi tôi đến, họ đang tán chuyện (When I came, they were chatting)
+ Hắn đang yêu đấy ( He is in love)
+ Mày đang đọc cái gì đấy? ( What are you reading?)
Từ phân tích trên ta thấy, tính chính xác trong văn hoá Anh và phi chính xác
trong văn hoá Việt thật sự là rào cản rất lớn cho học viên khi tiếp cận ngôn
ngữ mới.
III.Các giải pháp
Để giải quyết được những vấn đề nêu ở phần thực trạng, tác giả đã đưa ra một
số giải pháp sau:
1. Dạy sinh viên cách tiếp cận văn hoá của ngôn ngữ bản địa
2. Nâng cao vai trò của giáo viên trong việc dạy ngôn ngữ bản địa
3. Lồng ghép kiến thức văn hoá vào bài giảng
IV. Cách thức tổ chức thực hiện
1. Dạy sinh viên cách tiếp cận văn hoá ngôn ngữ bản địa
“ Chúng ta không thể nói về sự thành công trong việc học tiếng Anh mà
không có kiến thức đầy đủ về sự khác biệt giao văn hoá và không có một sự
khác biệt nào đó sự tiếp biến về văn hoá” (Nguyễn Quang, 1997:5)
Như nhiều tác giả đã nhấn mạnh, học văn hoá của ngôn ngữ bản địa là điều vô
cùng quan trọng. Tuy vậy, ở các lớp học hiện nay, việc học ngôn ngữ thật sự
đang tách rời với việc học văn hoá. Cái mà thầy cô giáo cho học sinh học đơn
thuần mới dừng lại ở hình thức rất mộc mạc của ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng
và đọc hiểu. Thêm vào đó hình thức học cũng chỉ đơn thuần là đọc- bắt
- 5 -
chước. Trong khi đó các thầy cô chưa ý thức được rằng, muốn bài học thật sự
hiệu quả, ngoài phương pháp tích cực, tiếp cận văn hoá của ngôn ngữ đó đóng
vai trò rất lớn. Ta vẫn biết rằng, sách giáo khoa có chứa các yếu tố văn hoá và

khác. Vì vậy ngoài những cơ hội làm việc part-time theo các dự án, tôi kết
bạn trên mạng và tìm hiểu về văn hoá nhờ vào những người bạn này. Vì vậy,
bản thân tôi cũng tự tin khi tổ chức cho các em sinh viên những buổi ngoại
khoá về văn hoá.
3. Lồng ghép những kiến thức văn hoá trong giờ học
Bước đầu tiên khi dạy về một nền văn hoá đó là nâng cao nhận thức của sinh
viên về bản chất của nền văn hoá đó. Vì vậy, trước khi lồng ghép kiến thức
văn hoá, tôi phải cung cấp thông tin cho sinh viên về sự khác nhau cơ bản
giữa hai nền văn hoá Anh- Việt để giảm thiểu những phản ứng tiêu cực của
sinh viên. Và bản thân tôi cũng lưu tâm đến tầm quan trọng của sinh viên
trong việc phát triển quan điểm: các nền văn hoá khác nhau sẽ ứng xử với nhu
cầu cuộc sống theo cách khác nhau. Để tăng sự hứng thú của sinh viên đối với
những kiến thức về văn hoá, tôi đã tổ chức một số hoạt động lồng ghép vào
bài dạy trên lớp:
3.1 Kết bạn qua thư:
Tôi giúp sinh viên cách tìm bạn trên mạng để họ tiếp cận với những người
bạn bản xứ. Yêu cầu sinh viên phải hỏi được bạn của mình về một kiến thức
văn hoá nào đó liên quan đến bài học. Vì dụ, bài học hôm nay liên quan đến
Chủ đề “Thời tiết” thì phải hỏi thế nào, nói những gì… Thêm vào đó, tôi
chia sẻ những thông tin tôi khai thác được từ bạn của tôi để cung cấp thêm
cho sinh viên cùng học tập và tham khảo.
3.2 So sánh:
Theo Michael Byram và Michael Flemming: “ Chính sự so sánh nền văn hoá
của nước mình với nền văn hoá của nước khác sẽ giúp người học lĩnh hội và
đương đầu với những nét khác biệt . Nó cung cấp cho họ những kiến thức cơ
- 7 -
bản để giao tiếp thành công với các thành viên của nhóm văn hoá khác,
không chỉ đơn giản là phường tiện trao đổi thông tin” (1993:4)
Sự khẳng định này cho ta thấy, vai trò của việc so sánh hai nền văn hoá Anh-
Việt trong các bài giảng là hết sức cần thiết. Vì vậy, khi có những tình huống

Into-Out of để viết. Và kết quả sẽ thành:
: Go in South and Go out North hoặc into the South, out of the North
Ở đây tôi giải thích cho học viên hiểu vì sao họ chỉ dùng giới từ To mà không
dùng những giới từ khác. Người Anh không đề cao tầm quan trọng của vị trí
và phương hướng của chủ thể, họ chỉ quan niệm nếu câu mang tính định
hướng sẽ dùng To. Nhưng người Việt, vị trí và phương hướng lại rất quan
trọng, nó làm cho người nghe/đọc dễ xác định vị trí của người nói/viết.
Tình huống 4: Dịch câu “Hôm qua tôi bị thi trượt”
Văn hoá Việt dùng “bị”, hoặc “được” để diễn tả thái độ, cảm xúc của người
nói, nên không phải bị động nhưng chủ thể lời nói vẫn dùng những từ chỉ dấu
hiệu của câu bị động. Song, tiếng Anh lại không vậy. Câu bị động rất hay
dùng nhưng được dùng rất chính xác và rất đúng mục đích. Tuy vậy, sinh viên
của tôi khi viết vẫn dùng:
I was failed the exam yesterday
Trong khi tiếng Anh chỉ cần viết: I failed the exam yesterday
Tình huống 5: Dịch câu. Đợi tôi tí, tôi gọi điện thoại xong đã.
Người Việt không có khái niệm về thì, chỉ đơn giản dùng những từ: đã, đang
và sẽ… để diễn đạt ý niệm thời gian của hành động. Tuy vậy những từ đó
cũng không được sử dụng một cách chính xác. Như câu trên, tiếng Anh chỉ
cần viết:
Wait for a moment. I am making a phone call.
Trong khi có những em sinh viên lại viết:
Wait for a moment. I finish the phone call.
- 9 -
Từ những tình huống trên ta thấy được việc cần thiết và tính hiệu của việc so
sánh những tình huống cụ thể để sinh viên có thể nắm bắt được sự khác biệt
trong cách dùng của từng ngôn ngữ.
3.3. Đóng vai:
Với cách này tôi hay cho sinh viên đóng vai trong những bài hội thoại
vì “Khi sinh viên nhớ đoạn hội thoại và thực hành nó, họ đã học được thông

30-35% học viên bước đầu tái tạo ngôn ngữ
+ Đối với sinh viên K2 và K3 : Hai khoá sau, đầu vào của các em có tốt
hơn khoá 1, tôi mạnh dạn tiếp cậ phương pháp mới, tổ chức nhiều buổi ngoại
khoá cho các em và hướng dẫn các em dịch nhiều hơn. Ban đầu có nhiều dấu
hiêu khả quan. Có tới 65-70% học viên tham gia thành công vào quá trình tái
tạo ngôn ngữ và các bài dịch cũng đạt kết quả khả quan.
- 11 -
+ Đối với các lớp học tiếng Anh không chuyên như lớp Luật Kinh tế,
Kế toán, tôi không tổ chức ngoại khoá vì số học viên trong 1 lớp quá đông,
trình độ Tiếng ânh lại quá thấp vì vậy tôi đã lồng ghép các yếu tố văn hoá vào
bài giảng thông qua các hoạt dộng trên lớp, chủ yếu là so sánh sự khác biệt
giữa hai nền văn hoá, nên học viên cũng phần nào nắm được mục tiêu của
ngôn ngữ. Kết quả tuy chưa khả quan, học viên chưa có khả năng tái tạo ngôn
ngữ nhưng họ đã viết được câu đúng và sử dụng chính xác trong một số tình
huống cơ bản.
II. Đề xuất, kiến nghị
- Văn hoá là một phạm trù rộng, học về văn hoá cần có cả một quá trình,
vì vậy trong quá trình giảng dạy và lồng ghép yếu tố văn hoá vào bài giảng, tôi
cũng không kì vọng quá nhiều vào sự tiến bộ vượt bậc của học viên. Cái mà tôi
muốn là, sinh viên và học viên nắm được sự khác biệt giữa hai nền văn hoá, để
từ đó có cái nhìn khác về tư duy và phương pháp tiếp cận ngôn ngữ của mình.
Nhưng khi làm sáng kiến kinh nghiệm này, bản thân tôi cũng có một số đề xuất
sau :
- Trung tâm tạo điều kiện hơn nữa để giáo viên dạy ngoại ngữ có điều
kiện tìm hiểu về văn hoá. Hàng năm tổ chức những buổi học tập, rút kinh
nghiệm và tham gia những tour du lịch ở các nước nói Tiếng Anh để nâng cao
trình độ.
- Sở giáo dục và đào tạo nên tổ chức những buổi tập huấn có chuyên gia
nước ngoài để họ cũng cấp thêm những kiến thức về văn hoá.
- Trên đây là những đóng góp của tôi trong quá trình giảng dạy. Tuy các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status