Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
======= =======
Phòng giáo dục đào tạo vũ th
KHắC PHụC MộT Số VƯớNG MắC CủA HọC SINH KHI LàM
DạNG BàI VĂN MIÊU Tả Đồ VậT
Của học sinh lớp 4
Họ và tên : Lại Thị Minh Chiến
Giáo viên chủ nhiệm: Lớp 4E
Trờng tiểu học Minh Lãng
Huyện Vũ Th - tỉnh Thái Bình
Năm học: 2007 2008
I/ Đặt vấn đề
1/ Cơ sở lý luận
Nói đến Tiếng Việt chúng ta đều cảm nhận được sự giàu đẹp, sức
mạnh và giá trị tâm hồn của nó. Bởi ai chẳng yêu tiếng nói từ thuở trong
nôi, Tiếng Việt gắn với lời ru yêu thương của mẹ. Tiếng Việt giàu nhạc
điệu, giàu cảm xúc. Trong chương trình dạy học ở Tiểu học môn Tiếng
Việt giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành khả năng nghe, đọc,
nói, viết cho học sinh. Nó được xếp ở vị trí hàng đầu làm nền tảng vững
chắc cho việc tiếp thu kiến thức các môn học khác được tốt hơn. Bởi lẽ
tất cả nhưng kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa khoa
học, những tư tưởng tình cảm của cả thế hệ trước và cả thế hệ ngày nay
phần lớn được ghi bằng chữ viết. Một trong bốn kỹ năng trên thì kỹ năng
viết có một tầm quan trọng rất lớn, nó tập trung nhiều ở phân môn Tập
làm văn.
Tập làm văn là một phân môn của môn Tiếng Việt, thông qua phân
môn Tập làm văn, học sinh được rèn luyện về khả năng dùng từ chính
xác, độc đáo để từ đó các em có thể viết được bài văn hay, giàu cảm xúc.
Phân môn Tập làm văn là phân môn sử dụng các hiểu biết và kỹ năng
phải làm những gì đây để giúp các em có một vốn kiến thức tối thiểu là
hành trang để đáp ứng với nhu cầu chung của xã hội? Một câu hỏi luôn
thách thức tôi cùng các đồng nghiệp phải đánh thức các em bằng một hệ
thống kiến thức có lôgíc có sự gợi mở sáng tạo. Đứng trớc những đòi hỏi
một cách thiết thực, chính đáng đó làm thế nào để tháo gỡ một số vớng
mắc, khó khăn mà học sinh của tôi từ thế hệ này đến thế hệ khác nối tiếp
gặp phải và làm thế nào để luồng thông tin đó đến với học sinh một cách
có hệ thống tạo điều kiện ơm mầm cho những nhân tài mai sau có đủ
điều kiện để đáp ứng với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n-
ớc. Theo tôi nghĩ hơn bất kỳ một loại hình nào khác, mụn Tp lm vn
có khả năng bồi dỡng đời sống tâm hồn của trẻ, đó cũng là tác dụng bồi
dỡng tâm hồn con ngời nói chung và sẽ nghèo nàn đi mất bao nhiêu khi
trẻ không đợc học một cách tỷ mỉ, thấu đáo, không đợc tiếp xúc với vẻ
đẹp của ngôn ngữ. Thật không công bằng nếu suốt những năm học ở tiểu
học các em không đợc cung cấp, trang bị đầy đủ kiến thức bổ ích và lý
thú, hình tợng hóa mọi vật xung quanh gần gũi nhất với các em nếu kiến
thức đó đợc trau dồi có hệ thống thì các em sẽ có những biểu tợng ban
đầu tạo ra sự tích lũy đầu tiên để khi có điều kiện gặp lại qua môn văn
học ở lớp trên các em đã có khuôn mẫu ngôn ngữ đầu tiên để phát triển
t duy.
Hn na hc sinh tiu hc mi ch c hc nhng mu cõu n
gin, vic hiu v s dng cỏc bin phỏp tu t cũn hn ch c bit l
vi th loi vn miờu t núi chung thỡ yờu cu s dng nhng hỡnh nh
so sỏnh, nhõn húa rt cn giỳp cho cõu vn sinh ng hn.
3/ Phm vi ti
Có lẽ tất cả những lý do trên cùng với những bức xúc từ thực tế của
lớp tôi. Đứng trớc những trăn trở của ngời thầy tôi không thể bỏ qua cũng
nh làm ngơ trớc thực tế đó nên đã khiến tôi mạnh dạn đi sâu vào việc:
Rốn k nng vit vn miờu t cho hc sinh lp 5.
II/ GII QUYT VN
loay hoay mất rất nhiều thời gian.
Quả thật khi chấm bài tôi cũng phát hiện ra có một số em kể cả em
khá cũng chỉ viết đợc một câu mở bài.
Ví dụ: T bn hc: Em thớch nht l bn Lan hc cựng lp vi em.
Vớ d: T cn ma ro: Tri ang oi bc bng chc mõy en ựn ựn
kộo n.
Cha gii thiu c cnh vt nh t
Vớ d: T ngụi trng
Trng Tiu Hc Minh Lóng, ngụi trng thõn yờu.
Khi lm bi ri vo tỡnh trng bớ t, dựng t thiu chớnh xỏc.
Vớ d: + T b
Khuụn mt ca b bu bnh
+ T m
Thng con l vy nhng m rt nghiờm tỳc vi con cỏi
+ T ngụi trng:
T xa nhỡn li ngụi trng nh mt tng i
+ T ca s biu din:
- Ri anh tung bay lờn hỏt mt cõu
- Cú lỳc anh ht túc lờn u v nhỏy mt mt phỏt
Khi lm bi cỏc em khụng bit dựng du phy, du chm cõu nh
em Thnh, Nam lp tụi. C phn thõn bi khụng bit dựng du chm cõu,
du phy ngn cỏch cỏc thnh phn cõu.
Nguyờn nhõn ca li ny l do hc sinh ó vi phm nguyờn tc s
dng du cõu. Vic khụng s dng du cõu s gõy ra rt nhiu khú khn.
Ngi c khụng nm bt c ni dung cỏc em cn truyn t, thm chớ
cú khi khụng xỏc nh c ý mun din t.
Vớ d: Em Thnh khi t bn hc
Cú th s cú mt ngy tụi v Hi khụng cũn hc chung trng chung
lp na nhng tụi khụng th no quờn c vng trỏn cao ca Hi mt
vng trỏn l rừ v thụng minh.
theo dõi, giúp đỡ.
Để trang bị kiến thức cho mình, tôi xem lại yêu cầu của chơng trình
từ lớp 1 đến lớp 4 nhất là mục tiêu của môn văn. Qua đó cũng thấy đợc
với chơng trình lớp 4 các em đã có sự phát triển đột biến và chất, các em
đã đợc làm với một bài văn thực sự hoàn chỉnh gồm ba phần: Mở bài,
thân bài và kết bi.
3.2/ Ngoài các tiến trình dạy nh phân phối chơng trình ở mỗi tiết cần
nhấn mạnh cho các em điều cần ghi nhớ.
a) Khi dy bi: Cấu tạo bài văn t ngi, t cnh, t vt, t cõy
ci Tôi luôn hớng cho các em theo hai hớng mở bài đó là: Mở bài trực
tiếp và mở bài gián tiếp. Kt bi m rng v khụng m rng.
Nhng cách mở bài gián tiếp là gì? Kt bi m rng l gỡ? Học sinh
phải hiểu và thuộc đợc những ghi nhớ từ đó vận dụng và tho lun để viết
đợc theo hai hớng đó thành thạo. Song tôi vẫn yêu cầu cụ thể đối với học
sinh yếu các em có thể tự chọn cách mở bài trực tiếp. Còn đối với các em
học sinh trung bình, khá trở lên các em tập viết mở bài theo cách mở bài
gián tiếp. Kt bi m rng.
-Ví dụ: T con ng
+ Hng m bi trc tip: T nh em n trng cú th i theo
nhiu ng ng. Nhng con ng m em thớch i hn c l con ng
223.
+ Hng m bi giỏn tip: Tui th ca em cú bit bao k nim gn
vi nhng cnh vt ca quờ hng. õy l dũng sụng nh y p ting
ci ca bn tr chỳng em mi bui chiu hố. Kia l trin ờ rn ró ting
hỏt ca thanh niờn nam n nhng ờm sỏng trng. Nhng gn gi, thõn
thit nht vi em vn l con ng t nh n trng con ng p
sut nhng nm thỏng hc trũ ca em.
+ Kt bi khụng m rng: Con ng t nh em n trng cú l
khụng khỏc nhiu lm nhng con ng trong thnh ph, nhng nú tht
thõn thit i vi em.
- Bu tri bui sỏng th no?
- Sõn trng khi cha cú hc sinh thỡ nh th no?
- Cỏc em hoc sinh lp bộ i hc bng cỏch no? Cỏc em hc sinh
lp 4, 5 i nh th no?
- Cnh sõn trng khi hc sinh cú mt thỡ nh th no? Cnh vt
xung quanh ra sao? Nng, giú, by chim ra sao?
- Hc sinh nụ ựa nh th no?
- Trờn cỏc lp hc ra sao?
- Ton cnh trng to cho em cm giỏc gỡ?
- Khi hi trng vang lờn cỏc trũ chi th no?
- Cnh trng trc gi vo hc gi cho em suy ngh gỡ?
Luôn hớng cho các em kỹ năng, tạo cho mình một thói quen tập
quan sát đã quan sát phải công phu, có công quan sát thì phải quan sát
thật kỹ, nắm bắt đợc cái thần, cái hồn, cái dáng vẻ của vật định tả mà rồi
bằng ngôn ngữ vẽ nó hiện lên trớc mắt ngời đọc, gợi cho ngời đọc cùng
cảm nhận, cùng suy nghĩ với mình
Tôi thấy muốn cho văn miêu tả hay, phải có công quan sát chính vì
vậy tôi rèn cho các em kỹ năng quan sát. Vì kỹ năng quan sát chủ yếu đ-
ợc hình thành trên cở sở luyện tập, thực hành (một cách tự giác). Tôi th-
ờng thấy ở các em đã sử dụng kỹ năng này nhiều lần và thờng là không tự
giác, là sơ lợc, giản đơn Từ đó tôi tìm ra phơng pháp rèn luyện thích
hợp là:
-Hớng dẫn học sinh lựa chọn trình tự quan sát: Thờng cho các em tự
tìm cho mình trình tự quan sát thích hợp. Còn trờng hợp các em khó
khăn tôi hớng dẫn các em quan sát theo trình tự bản thân đã có sự chuẩn
bị trớc hoặc gợi ý các em trình tự quan sát khác nhau
Ví dụ: Các trình tự quan sát:
Trình tự không gian: Từ toàn bộ đến quan sát đến từng bộ phận
hoặc ngợc lại; từ trái sang phải hoặc từ trên xuống dới, ngoài vào trong
hoặc ngợc lại
tiết mở rộng vốn từ này đợc rải khắp từ đầu năm đến cuối năm theo các
chủ điểm. Có đợc nh vậy thì trong các tiết đó tôi luôn tìm hiểu về ngữ
nghĩa qua từ điển, thành ngữ, tục ngữ, hiểu các cách chính xác nghĩa của
nó rồi từ vốn từ đó tôi cung cấp cho các em một thông tin chính xác về
nghĩa của từ. Từ việc các em hiểu nghĩa của từ các em có thể mở rộng
hơn và phát triển vốn từ, đó là các từ cùng nghĩa, trái nghĩa, t nhiu
ngha các em hiểu và đặt đợc câu đúng ngữ pháp, sử dụng từ đúng với
nghĩa. Từ việc hiểu đợc chủ đề, hiểu đợc nghĩa của từ các em có thể giải
nghĩa đợc các câu thành ngữ tục ngữ nghĩa là đã xây dựng đợc một vốn
từ thờng trực có hệ thống trong trí nhớ của học sinh, để tạo điều kiện cho
từ đi vào hoạt động ngôn ngữ (nghe, đọc, nói, viết ) đợc thuận lợi. Chính
xác hóa đợc vốn từ là giúp các em hiểu đợc nghĩa của từ một cách chính
xác và từ đó các em cũng thu nhận đợc qua cách học tự nhiên giúp các
em có đợc vốn từ ngữ mới: Qua hình thức luyện tập sử dụng từ ngữ trong
nói - viết nghĩa là giúp các em chuyển hóa đợc từ ngữ phát triển kỹ năng,
kỹ sảo sử dụng từ.
b/ Ngoài ra cũng là phân môn luyện từ và câu thì tôi thấy một nhiệm
vụ không thiếu phần quan trọng đó là các tiết dạy về t cựng ng õm , t
nhiu ngha, t lỏy, t ghộp, t cú ngha gc, ngha chuyn giỳp hc
sinh hiu ngha ca t, nm chc khỏi nim, vn dng c cỏc t ú vo
cỏc tit luyn Tp thc hnh ca vn miờu t cú tỏc dng lm c s, ch
da giỳp cỏc em phỏt trin tt cỏc hỡnh nh so sỏnh nhõn húa trong bi
vn.
Khi hớng dẫn các tiết luyện tập về văn tả tôi luôn hớng các em biết
sử dụng từ láy hoặc từ ngữ gợi tả để các câu văn sinh động.
Ví dụ: T chic ng h
- Kim ch phỳt di hn thanh mnh hn
- Kim dõy chút nh cỏi tm cn mn chuyn ng
- Ting chuụng ng h bỏo thc nh thay li b m nhc nh em
hc hnh chm ch, hc tp cú gi gic khoa hc
cun ngi c.
Từ những vẻ đẹp, giá trị đặc sắc bởi cách viết đó của tác giả, lời
giảng, chỉ dẫn của cô thì em học tập đợc gì qua lối viết văn của tác giả
về biện pháp nghệ thuật, dùng từ ngữ;
3.4/ Ngoài việc quan sát làm giàu vốn từ cho các em thì để có một bài
văn hoàn chỉnh bố cục một bài văn trong tiết cấu tạo baì văn miêu tả.
Không thể thiếu. Tôi luôn hình thành cho học sinh một dàn bài cụ thể
bằng hệ thống câu hỏi. Bài văn gồm mấy phần? Cụ thể từng phần.
Ví dụ: + Khi viết phần mở bài ta có cách mở bài nào mở bài gián
tiếp, mở bài trực tiếp
+ Thân bài theo trình tự đã quan sát đợc ta tả từ cái bao quát
rồi đến tả chi tiết.
Tả bao quát gồm những gì?
Tả chi tiết gồm những gì?
Ngoài tả bao quát và chi tiết thì mỗi chi tiết gi cho em cm xỳc v
suy ngh gỡ? Đó chính là cảm xúc sáng tạo em có thể vận dụng đọc từ
việc học qua các bài tập đọc, luyện từ và câu.
+ Kết bài nêu lên đợc những gì?
Ví dụ: Khi dy kiu bi vn t ngi: Cn lu ý
- T ngoi hỡnh (t hỡnh dỏng bờn ngoi)
- T tớnh tỡnh (i sng ni tõm)
Khi t phi bit Tp trung t nhng ng nột ngoi hỡnh tiờu biu,
nhng cỏ tớnh riờng bit m ớt thy hoc khụng thy ngi khỏc. Nu
miờu t ngoi hỡnh (dỏng ngi, ln da, mỏi túc, i ng) m khụng
miờu t ni tõm (thỏi , t tng, suy ngh) v hnh ng ca ngi
c miờu t thỡ con ngi hin lờn trong bi vn s tr nờn n iu,
vụ hn, cng nhc. Vỡ vy cn an sen gia t hỡnh vi t tỡnh lm
ni rừ cuc sng ni tõm, cuc sng hot ng ca ngi c t.
Ví dụ: Khi dy kiu bi vn t phong cnh: Cn lu ý
i tng ca kiu bi vn t phong cnh l rt nhiu: Lng quờ,
cái đẹp của đoạn, bài mẫu ngoài câu hỏi sách giáo khoa.
Ví dụ: Bài: ễn tp v t cõy ci: Tr li cõu hi:
Tỡm cỏc hỡnh nh so sỏnh, nhõn húa c t gi s dng t cõy
chui
Ngoài hệ thống câu hỏi sách giáo khoa tôi có thể nhấn mạnh thêm
câu hỏi: Em học tập đợc gì qua cách viết của tác giả có thể là biện pháp
nghệ thuật nhân hóa, so sánh.
Từ các bài mẫu đó các em có hớng để tự trang bị cho mình vốn
kiến thức về từ ngữ và vẻ đẹp của văn miêu tả
3.6/ Để tháo gỡ một số vớng mắc của các em khi gặp phải trong quá
trình giảng dạy tôi luôn chú trọng rèn cho các em một số kỹ năng có thể
coi đó nh là một bí quyết để giúp các em thực hành tốt ở các bài luyện
tập miêu tả đồ vật.
a/ Nh ngời ta thờng nói Văn không so sánh nh chim không có cánh
Chính vì vậy so sánh ví von giúp cho ý muốn nói, muốn viết đợc cụ thể,
sinh động, ngời đọc ngời nghe cảm thấy dễ hiểu.
Ngoài ra biết sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa thì các câu văn
trở nên gần gũi thân thiết nh con ngời từ đó các em có thể tởng tợng, hình
tợng hóa đợc vật làm cho vật từ vô tri vô giác cũng trở nên sống động gần
gũi với con ngời.
Ví dụ: Khi dy bi ụn tp t cõy ci
Bi cõy chui m Tụi luụn hng cho cỏc em bng cõu hi gi ý:
Mi u cõy chui nh th no? Sau mt thi gian nú ó tr thnh mt cõy
chui m trng thnh th no? lm ra bung ra ni cõy chui m ó
phi vt v nh th no?
Nhng hớng gợi mở khi sử dụng biện pháp nghệ thuật này quan
trọng nhất là đối với những em khá. Còn đối với những em yếu hơn có thể
sử dụng đợc biện pháp nghệ thuật so sánh đã là tốt nhng không quá bắt
buộc đối với các em chậm và yếu.
b/ Ngoài ra đối với những em khi dùng từ còn bí từ hoặc dùng từ
Vớ d: Cụ giỏo em nm nay chng 30 tui. Cụ cú vúc ngi nh
nhn,dỏng i nhanh nhn. Cụ c tri phỳ cho nc da trng hng.
Mikhi n n ci cụ thng l ra hm rng trng búng v ụi mụi
thm.
Vậy khi viết các em chỉ cần bỏ bớt các cụm từ nh: Cụ giỏo em, cụ
cú,
i
thêm vào những từ láy, tính từ gợi tả, câu văn sẽ nhẹ nhàng, sinh động:
Đối tợng miêu tả sẽ trực tiếp hiện ra.
e/ khc phc tỡnh trng cỏc em vit sai li chớnh t trong cỏc bi
vn tụi thng xuyờn chỳ trng cỏc tit chớnh t nh: Hng dn hc
sinh lm bi tp chớnh t cú h thng, bit phõn bit ngha ca t, to
ting, t cú ngha. Bit cỏc nguyờn tc vit chớnh t.
Vớ d: +) Ng (c)thng i vi: o, a, ụ, u, uo, ua
+) Ngh (k) thng i vi: e, ờ, i, iờ
+) Hoc cỏc loi cõy thng ghộp vi õm s: cõy su, cõy si,
cõy hoa sen, hoa sỳng, cõy sung, cõy vỳ sa
+) Phõn bit lo - no:
Lo lng, lo toan, lo ngh | n no, no nờ
3.7/ a/ Để viết một bài văn tự nhiên, có tính sáng tạo cảm thụ đợc,
biến cái vốn đó thành ngôn ngữ của riêng mình giúp các em có cơ sở để
lên lớp trên có nền tảng tốt thì cuốn sổ tay văn học, cũng là cần thiết
đối với các em. Có thể giúp các em c và ghi lại những câu văn, những
đoạn thơ, những chi tiết mà mình thấy hay và xúc động, sau đó viết lại
những gì mình có thể cảm nhận đợc dù chỉ là rất nhỏ. Ngoài ra tài liệu
tham khảo (bài văn hay) để xem cách viết của bài đó và tự mình rút ra
những bài học để từ đó vận dụng và có thể mợn lời hay ý đẹp của tác giả
(chú ý vận dụng chứ không sao chép mẫu vào bài làm của mình).
Từ đó tôi có thể giúp đỡ các em rèn luyện khả năng cảm thụ trong
các giờ dạy tiếng việt. Bản thân tôi phải đánh thức đợc cảm xúc của các
tuyên dơng các em, để các em phấn khởi và tự tin hơn biết đợc u điểm
của mình khi làm đồng thời những em yếu còn có thể học tập hoặc ghi lại
theo trí nhớ của mình về câu văn, đoạn văn hay.
- Tôi thờng xuyên trao đổi trực tiếp những phụ huynh của những
em yếu, chậm tiến để kết hợp giáo dục giữa phụ huynh với nhà tr-
ờng: Vừa rèn luyện ở nhà, vừa rèn ở lớp giúp các em có đ ợc sự giáo
dục toàn diện hơn Bên cạnh đó sổ liên lạc là sợi dây liên lạc rất
quan trọng. Hàng tháng tôi ghi kết quả học tập và sự chuyển biến của
các em trong học tập gửi về gia đình.
- Hàng tháng tôi lên kế hoach để có thời gian rèn thêm cho các
em yếu, bồi dỡng em khá, giỏi.
- Thành lập tổ, nhóm, xây dựng đôi bạn học tập để em khá kèm
em yếu.
Hình thành cho các em thói quen có sổ tay học văn, sổ nhật ký (đối
với học sinh khá giỏi) để các em có thể học tốt hơn.
- Luôn tạo ra bầu không khí thân mật, tin cậy, khéo léo để động viên
các em còn nhút nhát. Nhất là những em có hoàn cảnh khó khăn tôi luôn
động viên an ủi về tinh thần còn giúp đỡ các em về kiến thức trong các
tiết lờn lớp để các em có hớng phấn đấu.
-Ngoài ra những em quá kém tôi giành riêng cho các em vào buổi đầu
giờ truy bài hoặc cuối buổi học.
5/ Kết quả: Bằng những việc làm cụ thể trên tôi đã áp dụng trong quá
trình giảng dạy trong môn tập làm văn. Sau gần một năm học trôi qua tôi
tự cảm nhận đợc sự thành công của tôi cũng nh sự tiến bộ vợt bậc của các
em. Hầu hết các em bit viết: bố cục rõ ràng, câu văn diễn đạt khá trôi
chảy, những sai lầm đáng tiếc không còn, một số em khi viết còn biết xen
cảm xúc, câu văn có tính sáng tạo, các em học một cách có hứng thú, tự
giác. Không có hiện tợng ngại học văn .
Với sĩ số 36 em tôi cũng khẳng định đợc sự thành công lớn nhất của
các em nh môn viết mà cụ thể là môn văn:
Minh Lãng, ngày 28 tháng 4 năm 2011
Ngi trỡnh by
L¹i ThÞ Minh ChiÕn
i