Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2006
- 2007
Kinh nghiệm: Góp phần giúp học sinh tiểu học khắc phục một số
lỗi
chính tả thờng gặp ở địa phơng.
a. Đặt vấn đề
1. Cơ sở lý luận:
Để chuẩn hoá ngôn ngữ một dân tộc, cần phải chuẩn hoá hai mặt: chính
âm và chính tả. Chính âm giúp cho việc thống nhất cách đọc, chính tả giúp
cho việc thống nhất cách viết. Chính tả có tính chất xã hội, nó là những quy ớc
của xã hội trong ngôn ngữ khi dùng mã chữ viết làm phơng tiện giao tiếp. Vì
vậy, để bảo đảm cho ngời phát và ngời nhận đều hiểu nội dung của văn bản
một cách thống nhất, ngời ta phải đa ra hệ thống quy tắc về cách viết cho các
từ của một ngôn ngữ.
Trong nhà trờng tiểu học, chính tả đợc dạy với t cách là một phân môn
của tiếng Việt. Nh vậy, chính tả có một vị trí quan trọng là hình thành năng
lực , thói quen viết đúng chính tả, tức là hình thành một trong những năng lực
giao tiếp bằng ngôn ngữ cho học sinh.
Chỉ có trong nhà trờng tiểu học Chính tả mới đợc dạy và học với một t
cách là một môn học. Vì vậy, nó có một vị trí đặc biệt. Nếu ở tiểu học, học
sinh đã mắc phải những lỗi chính tả thì sau này rất khó chữa.
Từ vị trí ở trên, phân môn chính tả có nhiệm vụ là cung cấp cho học sinh
các quy tắc viết chính tả và hình thành kỹ năng viết chính tả. Ngoài ra chính tả
còn rèn luyện cho học sinh các phẩm chất nh: cẩn thận, tính thẩm mĩ, tình yêu
đối với tiếng Việt.
Trang 1
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2006
- 2007
Để hình thành cho học sinh thói quen và năng lực viết chính tả, trong
thực tế dạy học cũng đã đi theo hai con đờng, đó là: dạy học chính tả đi theo
con đờng máy móc, cơ giới tức là trong quá trình dạy học không cần biết đến
giúp học sinh tiểu học khắc phục một số lỗi chính tả thờng gặp trên địa phơng
mình.
Mong rằng qua đây đợc Hội đồng khoa học của ngành và bạn đọc gần
xa góp ý bổ sung để tôi đúc rút đợc nhiều kinh nghiệm hơn, góp phần chỉ đạo
dạy tốt phân môn chính tả trong trờng Tiểu học.
B. Nội dung nghiên cứu.
I. Lỗi chính tả do sai về nguyên tắc chính tả hiện hành.
1. Lỗi sai do không nắm đợc sự thể hiện chữ viết cùng thể hiện một
âm.
a) Viết sai giữa i và y ; iê và yê ; ia và ya
Qua thực tế kiểm tra ở lớp hai tôi thấy học sinh còn nhầm lẫn
Ví dụ:
Từ Học sinh viết
yên ổn
yêu quý
ý nghĩ
chiến sĩ
kĩ s
iên ổn
iêu quý
í nghĩ
chiến sỹ
kỹ s
Trang 3
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2006
- 2007
địa lí
kĩ thuật
yêu quý
quý hiếm
Đối với giáo viên cần nắm thêm:
+ Khi | i | đứng một mình và nếu là từ thuần Việt thì viết i.
Ví dụ: ì ạch, ỉ eo, í ới, í a í ới, ì ầm,
+ Khi | i | đứng một mình và nếu là từ Hán Việt thì viết y.
Ví dụ: y tá, y sĩ, ý nghĩ, y khoa, ý thức,
Nhng đối với học sinh tiểu học giáo viên ch thể đa khái niệm từ Hán
Việt, thuần Việt để áp đặt cho học sinh. Bởi vậy để giúp các em nhận biết
cách viết đúng những chữ dạng nh trên, giáo viên cần đa ra phơng pháp so
sánh để giúp học sinh chọn cách viết đúng.
Ví dụ:
A B
y tá
ý nghĩ
ý đồ
ý thức
ì ạch
ỉ eo
ì ầm
i tá
í nghĩ
í đồ
í thức
ỳ ạch
ỷ eo
ỳ ầm
Trên cơ sở đó giáo viên hớng dẫn và khẳng định với học sinh cách viết ở
nhóm A là đúng, còn cách viết ở nhóm B là sai. Từ đó hình thành cho học sinh
thói quen viết khi gặp các trờng hợp nh trên.
Chúng ta thấy rằng trên thực tế, cũng nh trên sách vở, báo chí, việc
viết i hay y còn khá tuỳ tiện, tạo nên hiện tợng song tồn trong cách viết
ngiêm túc
nghày mới
thơm nghát
cổ cính
kân lờng
của cuý
cệ sách
Lỗi sai trên là do học sinh cha nắm vững nguyên tắc kết hợp của các âm
và sự thể hiện chữ viết cùng biểu thị âm gờ, ngờ, cờ. Để tránh đợc
những sai lầm trên, giáo viên lớp 1 khi dạy bài âm g và gh; ng và
Trang 6
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2006
- 2007
ngh; k, c, q, ngoài giúp học sinh nhận biết và đọc tốt các âm trên cần phải
giúp các em nắm vững nguyên tắc kết hợp của nó.
Cụ thể: + Âm g, ng, c kết hợp đợc với các âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, .
Nên khi viết, ta viết con chữ g, ng, c trớc các kí hiệu ghi nguyên âm
(hoặc bộ phận nguyên âm đôi) : a, ă, â, o, ô, ơ, u, .
Ví dụ: Nga, ngăn, gò, gô, ngơ, ngng, nguội, ngớc, ca, căn, cân, cô, c,
+ Âm gh, ngh, k kết hợp đợc với các nguyên âm: e, ê, i. Bởi
vậy ta viết gh, ngh, k trớc các kí hiệu ghi nguyên âm (hoặc bộ phận nguyên
âm đôi): e, ê, i
Ví dụ: ghe, nghe, nghề, nghĩ, ghim, ghép, ghế, kính, kiến, kẹo, kiện,
(Riêng trờng hợp ka ki vẫn viết theo thói quen: k viết trớc a.
+ Âm q nó chỉ xuất hiện trong các trờng hợp: quy, quả, quang,
quăng
vậy giáo viên lu ý học sinh khi viết trớc âm đệm u thì ta viết q.
Đối với học sinh lớp 1, nếu giáo viên chỉ nói mà học sinh không đợc
thực hành nhiều thì các em rất dễ quên. Bởi vậy trong những giờ luyện tập
buổi chiều giáo viên cần chú ý cho học sinh đợc luyện viết nhiều những tiếng,
phần vần trong tiếng này. Phần vần của tiếng quét gồm âm đệm: ( viết là:
u), âm chính (viết là: e), âm cuối (viết là : t). Vì vậy viết quyét là thừa
chữ y. Bởi vậy viết đúng là: quét nhà.
Nh vậy, để học sinh không mắc những lỗi chính tả nh trên, giáo viên
cần lu ý hớng dẫn các em nắm đợc cấu tạo của một số vần khó ( đa số là vần
có âm đệm) và nắm đợc sự thể hiện bằng chữ viết của âm đệm trong tiếng
Việt.
Ví dụ: Đứng sau q âm đệm viết là u ( quả quyết, quanh quẩn)
Đứng trớc a, ă, e âm đệm viết là o (loà xoà, loăn xoăn, loè loẹt).
Trang 8
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2006
- 2007
Đứng trớc y, ê, ơ, â, âm đệm viết là u (tuý luý, hoa huệ, huơ tay,
mùa xuân).
2. Lỗi sai do không nắm vững quy tắc viết hoa:
Qua kiểm tra ở học sinh lớp 3, 4, 5, tôi thấy nhiều em đang viết hoa tuỳ
tiện trong chính tả tiếng Việt cũng nh tiếng nớc ngoài. Cụ thể:
a) Lỗi sai khi viết địa danh Việt Nam.
Ví dụ: + Giáo viên đọc: Quê tôi ở xã Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì,
thành phố Hà Nội.
Học sinh viết: Quê tôi ở Xã Lĩnh Nam, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà
Nội .
+ Giáo viên đọc: Hà Tĩnh quê ta có núi Hồng, sông La đẹp
tuyệt vời.
Học sinh viết: Hà Tĩnh quê ta có Núi Hồng, Sông La đẹp tuyệt vời.
Nguyên nhân dẫn đến học sinh viết sai nh trên là do các em cha phân
biệt đợc đâu là danh từ riêng chỉ tên xã, huyện, thành phố ; đâu là danh từ
chung chỉ các đơn vị hành chính. Bởi vậy, giáo viên cần giúp học sinh phân
tích: xã, huyện, thành phố, là danh từ chung, còn Lĩnh Nam, Thanh Trì, Hà
Nội, là danh từ riêng. Nên viết đúng là: xã Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì,
Hà Nội.
Nhà hát Tuổi trẻ.
Nhà xuất bản Giáo dục.
Trờng đại học bách khoa Hà Nội.
Nhà hát tuổi trẻ.
Nhà xuất bản giáo dục.
Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Trang 10
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2006
- 2007
Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc
trẻ em Việt Nam.
Trờng Mầm non Sao Mai
Việt Nam.
Trờng mầm non Sao Mai.
Đối với cách viết hoa tên tổ chức cơ quan, còn là một vấn đề hết sức
khó đối với giáo viên và học sinh. Bởi vì cùng một tên tổ chức, cơ quan còn
tồn tại nhiều cách viết khác nhau (khác giữa chơng trình cũ và chơng trình
mới). Bởi vậy theo tôi giáo viên cần yêu cầu học sinh phải tuân thủ một cách
chuẩn lúc viết đó là: Viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên đó,
bộ phận thứ ba là danh từ riêng nên viết hoa theo quy tắc viết hoa tên ngời, tên
địa lí Việt Nam.
Ví dụ:
Bộ phận thứ
nhất
Bộ phận thứ hai Bộ phận thứ ba
Trờng
Nhà xuất bản
Uỷ ban
Tiểu học
Với mỗi chức năng trên có quy tắc viết hoa riêng, đòi hỏi giáo viên và
học sinh phải tuân thủ một cách tuyệt đối.
3. Lỗi do đánh sai vị trí dấu thanh:
Qua kiểm tra chữ viết ở lớp 1 2 tôi thấy các em cha có ý thức viết
đúng vị trí dấu thanh trong chữ và giáo viên cũng cha coi trọng lỗi chính tả
này nên trong khi chấm bài còn ít giáo viên chú ý sửa lỗi đánh dấu thanh cho
học sinh. Bởi vậy học sinh còn mắc lỗi chính tả này khá phổ biến (đặc biệt là
học sinh lớp 1)
Ví dụ:
Tiếng Học sinh viết
hoá
nớc
hóa
nứơc
Trang 12
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2006
- 2007
hoạ
quý
yến
loạn
họa
qúy
ýên
lọan
Học sinh mắc sai nh trên bởi vì trong quá trình dạy giáo viên cha chú ý
hớng dẫn các em cách đánh dấu thanh, nên khi viết các em còn viết một cách
máy móc ,theo thói quen . Bởi vậy giáo viên cần hớng dẫn học sinh một cách
cụ thể nh sau:
Để ghi dấu thanh đúng trong chữ ta phải xác định kí hiệu ghi âm chính
doạ nạt
doanh trại
giả định
đơn giản
giặc giã
lò dò
dữ dội
giỗ tổ
gioạ nạt
gioanh trại
dả định
đơn dản
giặc dã
lò giò
giữ dội
dỗ tổ
Nguyên nhân dẫn đến sai lầm nh trên là do hiện tợng chính tả này
không gắn với một quy luật, quy tắc nào mà còn chủ yếu là viết theo thói
quen, theo truyền thống lịch sử. Bởi vậy mà nó rất khó với giáo viên và học
sinh khi dạy học dạng chính tả này. Để giúp khắc phục những sai lầm trên ta
có thể tuân thủ theo một số mẹo nhỏ nh sau:
Trang 14
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2006
- 2007
+ gi không kết hợp với những vần bắt đầu bằng: oa. oă, uâ, uê, uy
(hay nói cách khác gi không đứng trớc các âm đệm u, o) vậy viết đúng
phải là: doạ nạt, doanh trại, duyên nợ,
+ Trong từ láy âm đầu d không láy với gi
Ví dụ: Viết giữ dội là sai, phải viết dữ dội; giỗ dành là sai mà
phải viết là dỗ dành,
giết
giì
giiếng
giiết
Học sinh viết vậy là hoàn toàn có lý. Bởi vì các em sẽ hiểu và phân tích
nh sau:
Gi + ì = giì ; gi + iêng = giiếng
Nhng để tránh nhầm lẫn trong khi viết giáo viên cần lu ý cho học sinh
nếu gi đứng trớc nguyên âm đợc ghi bằng (i, iê, ia) thì gi đợc tinh giản
còn g. Bởi bậy mà âm dờ còn có hình thức chữ viết nữa đó là g.
Vậy thống nhất cách viết đúng là: gì, bẹp gí, cá giếc, tháng giêng, láng
giềng,
Nhng lu ý khi đánh vần hoặc phân tích cấu tạo của tiếng thì tiếng
giềng vẫn đảm bảo âm đầu là gi ( viết bằnộccn chữ g), vần là iêng và
dấu thanh là huyền.
2. Lỗi viết sai thanh điệu ( ? ; ~
Đọc sai và viết sai dấu ? và dấu ~ là lỗi của phơng ngữ Hà Tĩnh.
Bởi vậy mà ở học sinh nhiều em khi đọc, khi viết còn sử dụng một cách tuỳ
tiện dấu ? , ~
Trang 16
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2006
- 2007
Ví dụ:
Giáo viên đọc Học sinh viết
suy nghĩ
nghỉ học
ngẫm nghĩ
giãi bày
giận giữ
suy nghỉ
Ngoài ra, giáo viên cần hiểu thêm đối với những từ Hán Việt thì gặp
những từ bắt đầu bằng một trong các phụ âm : (m, n, nh, v, b, d, ng) thì đánh
dấu ngã ( mĩ mãn, trang nhã, nhã nhặn, vũ lực, vãng lai, phụ lão,dã man,
ngôn ngữ, ). Còn những từ bắt đầu bằng các phụ âm khác, hoặc không có
phụ âm đầu thì đánh dấu hỏi (ảo ảnh, ảo giác, bảo dỡng, ẩn hiện, hải
cảng, ).
3. Lỗi viết sai phần vần:
a) Qua khảo sát ở học sinh lớp 1 tôi thấy các em còn nhầm lẫn cách
viết các từ nh: qua qoa ; quan qoan : quanh quoanh
que quoe ; quốc quuốc ; quyển quuyển
+ Học sinh viết sai nh trên vì các em cha nắm một cách nhất quán về
cách đánh vần; qu đợc coi là một phụ âm đầu: nên các em đánh vần là:
(a) qua: quờ oa => qua (HS viết: quoa)
quan: quờ oan => quan (HS viết: quoan)
Vậy giáo viên cần hớng dẫn học sinh cách đánh vần đối với những tr-
ờng hợp này kĩ hơn và cần nhất quán cách đánh vần nh sau:
Qua quờ - a - qua
Quan quờ - an - quan
Khi các em đánh vần đúng thì chắc chắn là các em viết đúng (qua, quan,
quanh )
Trang 18
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2006
- 2007
+ Nhng với các từ:
(b) quốc -=> đánh vần đúng:
quốc: quờ uốc - sắc quốc
quyển: quờ uyên - hỏi quyển
quỳnh: quờ uynh - huyền quỳnh.
Nh vậy cách đánh vần trong nhóm (a) và nhóm (b) không nhất quán.
Bởi vì nếu theo cách đánh vần ở nhóm (b) thì buộc khi viết chính tả học sinh
tập để giúp học sinh luyện tập khắc sâu những ghi nhớ trên.
I. Dạng bài tập phân biệt các vần khó.
1. Điền vào chỗ trống vần uêch hay uyu, iu
a) rỗng t g) Khúc kh
b) kh tay h) bộc t
c) kh trơng f) ngã kh
d) bận b i) n kéo
e) r rít k) tiu ngh
2. Gạch chân dới những tiếng, từ viết sai chính tả và sửa lại cho
đúng:
quả xài; ngắc ngải; khai lang; thai thải; khái chí; mệt nhài; tại nguyện;
nớc xáy; ngáy đầu; ngáy tai; hí háy; ngọ ngạy; nhay nháy; ngó ngáy.
3. Điền vào chỗ trống vần oam hay oăm
a) xồm x c) sâu h
b) ngồm ng d) oái
4. Điền vào chỗ trống vần u hay iu
a) hoa l e) l luyến
Trang 20
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2006
- 2007
b) l lo g) b điện
c) nặng tr h) nhỏ x
d) m trí f) lông c
5. Điền vào chỗ trống vần eo hay oeo
a) ngoằn ng d) n cây
b) kh tay e) cà kh
c) ngoắt ng g) tr cao
6. Hãy chỉ ra các tiếng, từ viết sai chính tả, viết lại cho đúng:
nghỉ hiu, hiu trí, miu mẹo, trìu tợng, riệu chè, uống riệu, nói hiêu nói v-
ợn, hiêu sao, con ốc biêu, con song, cánh đòng, bòng bế, đập nhà Đờng, bong
5. Hãy chỉ ra các tiếng, từ viết sai dấu thanh và viết lại cho đúng:
a) bạn hựu d) vớ vẫn f) mỉ thuật
b) hựu ích e) kĩ luật h) mỉ mản
c) vẫn vơ g) kỉ thuật k) dụng khí
6. Đánh dấu (x) vào các từ đợc viết đúng cả hai tiếng và viết lại
những từ sai:
vẩn vơ lẫn tránh bay bỗng mâu thuẩn
sỉ nhục củ rích bằng hựu tĩnh lặng
đảo điên lãng tai mãi miết dỗ dành
mãi mê lẫn lộn giải bày dãi dề
7. Chọn các chữ trong ngoặc đơn ( ) để điền vào chỗ trống trong các
câu sau:
a) (nửa/nữa) : Tôi hát bài hát rồi không hát
b) (mải/mãi): Nó cứ chơi thì còn sốt
c) (nổi/nỗi) : Tôi đã nghĩ đến vỡ cả đầu nhng không giải bài
toán.
8. Điền vào chỗ trống mải hay mãi
a) Ma không ngớt c) Mê với công việc
b) Nghĩ không ra d) chơi quên lời mẹ dặn
III. Dạng bài tập phân biệt d/gi, g/gh, ng/ngh, k/c/q
1. Điền vào chỗ trống:
Trang 22
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2006
- 2007
a) dao hay giao
Thức đón thừa ; Trật tự thông công cộng
con ; mác.
b) danh hay gianh
- Hơng Tích là một lam nổi tiếng.
- Những đồi cỏ mọc liên tiếp.
- giao mác - đe doạ - giám sát
- giáo dục - giảng dải - gặc dã
- giảng dạy - giã man - giềnh giàng
- doãi tay - dạ hội - giận dỗi
- gioãng ra - đồng dạng - giả định
7. Hãy chỉ ra các tiếng, từ viết sai âm đầu, viết lại cho đúng.
gi chép ngỉ ngơi thớc cẻ kảm ơn
nge ngóng ngiên cứu cẻ thẳng hàng kổ kính
8. Điền (ng/ngh; g/gh) vào chỗ chấm
Cây iêng bóng xuống lòng sông
Sông ợn sóng lăn tăn.
Xếp bút iên anh lên đờng đánh giặc.
Nó cắm cúi i chép tỉ mỉ
9. Gạch dới những từ viết sai và sửa lại
Nghành giao thông vận tải Ghanh đua là không tốt
Không nên ngi ngờ nhau
IV. Dạng bài tập phát hiện viết sai quy tắc viết hoa.
1. Hãy chỉ ra các tiếng, từ viết sai quy tắc viết hoa tiếng Việt và viết
lại cho đúng.
Trang 24
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2006
- 2007
a) Hà tĩnh, Nguyễn văn ba, Trờng Cao đẳng S phạm hà tĩnh, gió Nam,
Nớc việt nam.
b) Ngành Ca trù đều tôn Đinh lễ và Bạch hoa là hai vị tổ s của ngành
mình. Giờ đây ở Xã Cổ đạm Nghi xuân Hà tĩnh còn có đền thờ và nhiều
nơi khác nh lỗ khê, bàn thạch cũng đều thờ hai vị tổ này.
c) Chiến thắng Điện biên phủ
Thành phố Hà nội
quận Ba đình