MỘT SỐ LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 1 VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC (QUA THỰC TẾ TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN ĐỊNH, HUYỆN BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG) - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA SƯ PHẠM
LÊ THỊ VINH
MỘT SỐ LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 1 VÀ BIỆN
PHÁP KHẮC PHỤC
(QUA THỰC TẾ TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN ĐỊNH,
HUYỆN BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG)
TIỂU LUẬN KHOA HỌC CUỐI KHÓA
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: ThS. Thái Thị Hoài An
BÌNH DƯƠNG, 2011
1
LỜI CẢM ƠN
Tiểu luận cuối khóa của tôi nay đã hoàn thành. Có được kết quả hôm nay, tôi đã nhận
được nhiều sự đóng góp, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, cơ quan
nơi tôi công tác, người thân trong gia đình và các em học sinh.

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo khoa Sư phạm trường Đại học Tây
Nguyên, đặc biệt là cô giáo Thái Thị Hoài An đã tận tình dạy bảo, góp ý, giúp đỡ em trong quá
trình học tập cũng như nghiên cứu và thực hiện đề tài
.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, bạn bè đồng nghiệp và các em học sinh lớp 1
trường Tiểu học Tân Định đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài này. Tôi
cũng xin chân thành cảm ơn các tác giả của những tài liệu mà trong quá trình thực hiện đề
tài tôi đã sử dụng.
Với năng lực có hạn, lại là lần đầu tiên viết tiểu luận nên kinh nghiệm thiếu. Mặt khác,
nơi công tác chưa phải là nơi hoàn toàn thuận lợi, việc tìm kiếm các nguồn thông tin còn gặp
khó khăn, nên dù bản thân đã hết sức cố gắng nhưng chắc chắn đề tài còn nhiều thiếu sót. Rất
mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Bình Dương , Ngày 8 tháng 9 năm 2011

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu một số lỗi chính tả thường gặp ở học sinh lớp 1 và
đề xuất giải pháp khắc phục.
- Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 1, trường tiểu học Tân Định, huyện Bến Cát,
tỉnh Bình Dương và đề xuât giải pháp khắc phục.
3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Chỉ rõ những lỗi chính tả cơ bản mà học sinh thường mắc phải.
Chỉ ra những nguyên nhân mắc lỗi và đề xuất các biện pháp khắc phục.
5. Phương pháp nghiên cứu

Khi tiến hành nghiên cứu về đề tài này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thu thập
thông tin thông qua các hoạt động: trao đổi, chuyện trò, quan sát, khảo sát trên bài kiểm
tra viết, để phân tích và so sánh từ đó rút ra nguyên nhân của vấn đề. Đồng thời, chúng
tôi cũng đã tiến hành tìm kiếm tài liệu tham khảo, đọc và khai thác các tài liệu này cùng
với việc tham khảo các đề tài sáng kiến kinh nghiệm của các đồng nghiệp kết hợp với
việc nghiên cứu các tình huống mắc lỗi về chính tả của học sinh thông qua việc quan sát,
nói chuyện với học sinh và dự giờ của đồng nghiệp cùng với việc tổng hợp những kinh
nghiệm và hiểu biết của bản thân. Vì vậy, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu
chủ yếu sau đây:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh đối chiếu

4
Chương 1.
Một số lỗi chính tả thường gặp của học sinh lớp 1(Qua khảo sát tại
Trường tiểu học Tân Định, Bến Cát, tỉnh Bình Dương)
1.1. Vài nét về chữ viết tiếng Việt và chính tả tiếng Việt
1.1.1. Đặc điểm chữ viết tiếng Việt

của từng ngôn ngữ và mỗi quốc gia, mặc dù dựa trên những nguyên tắc chung nhưng
vẫn có cách khác nhau trong việc xác định âm chuẩn. Tình hình thực tế trên, các nhà
nghiên cứu đã đưa ra luận thuyết về việc lấy hệ thống âm của Hà Nội làm chuẩn.
Theo nguyên tắc này chuẩn mực ngữ âm rất phù hợp với hệ thống ngữ âm mà chữ
quốc ngữ phản ánh, tức là rất phù hợp với chữ viết. Nó sẽ tránh được hiện tượng đồng
âm. Chính vì thế, bên cạnh chuẩn phát âm quốc gia chúng ta chấp nhận thêm một khái
niệm nữa “chuẩn phát âm địa phương”.
1.1.2.2. Đặc điểm chữ viết tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ âm tiết tính: cách phát âm được tách bạch rõ ràng trong
dòng lời nói. Vì thế khi viết các chữ biểu thị âm tiết được viết rời, cách biệt nhau.
Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định (tiếng Việt có sáu
thanh) khi viết chữ phải đánh dấu ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối
với âm chính là nguyên âm đôi) của âm tiết.
Cấu tạo âm tiết của tiếng Việt rất chặt chẽ và ổn định. Ở dạng đầy đủ, âm tiết
tiếng Việt có cấu tạo như sau:
Thanh điệu
Phụ âm Vần
Âm đệm Âm
chính
Âm
cuối
Trong đó âm chính và thanh điệu là hai bộ phận không thể thiếu được trong cấu tạo của
âm tiết.
Cách xác định ký hiệu ghi âm chính trong chữ: muốn xác định ghi âm chính
trong chữ, ta đặt chữ vào trong khuôn âm tiết.
1.1.2.3. Một số kiến thức cần thiết về chính tả tiếng Việt
- Các chữ cái biểu thị các phần của âm tiết
6
+ Tất cả các chữ cái ghi phụ âm đầu đều có thể làm kí hiệu ghi âm đầu của âm tiết.
+ Tất cả các chữ cái ghi nguyên âm đều có thể làm kí hiệu ghi âm chính của âm tiết.

- ƯA viết khi không có âm cuối: chưa, thừa …
- ƯƠ viết trước âm cuối: nước, thương …
* O, U làm âm đệm
- Sau chữ cái ghi phụ âm Q chỉ viết U: quang, quân, quen …
- Sau các phụ âm khác hoặc mở đầu âm tiết: uống, ong …
Viết O trước các nguyên âm: a, ă, e (hoa, khoăn, toét …)
Viết U trước các nguyên âm: â, ê, y, ya, yê (huân, huynh, khuya, nguyên, huê …)
* I, Y làm âm chính
- I viết sau âm đầu: bi, phi, kì, mì …
- Y viết sau âm đệm: quy, quynh …
Khi đứng một mình viết I đối với các từ thuần việt: ỉ eo, ầm ỉ … Viết Y đối với từ
gốc Hán: y tá, ý kiến …
Dựa trên những nhận xét trên đây, có thể rút ra mấy kết luận có ý nghĩa thực tiễn:
Chính tả tiếng Việt có thể nắm một cách có hệ thống với một phương pháp thích hợp,
điều này có thể thực hiện trong một thời gian tương đối ngắn. Hoàn toàn có thể dạy cho
học sinh viết đúng chính tả khi học xong cấp trung học cơ sở.
Dạy và học tiếng Việt, trong điều kiện có thể, nên dạy và học lối phát âm phản ánh
trên chữ viết, điều này giúp rất nhiều cho việc nắm chính tả.

1.2. Một số lỗi chính tả của học sinh lớp 1 (Qua khảo sát một số học sinh trường tiểu học
Tân Định, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương)

1.2.1. Đặc điểm địa phương
Trường tiểu học Tân Định nằm tại trung tâm khu công nghiệp, một địa bàn thuộc
huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Mặc dù thuộc địa bàn tỉnh Bình Bương, nhưng dân số
chủ yếu ở đây lại là người phía Bắc và các địa phương thuộc Bắc Trung Bộ như Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và cả cư dân Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Do dân
8
cư thuộc nhiều đia phương như vậy nên tiếng nói rất đa dạng . Điều này đã ảnh hưởng rất
nhiều đến chính tả của học sinh.

Giếu gít
Ch-/Tr- Học trò, trâm bầu
Che chở
Học chò, châm bầu
Tre trở
Gh-/G- Ghe thuyền
Gỗ
Ge thuyền
Ghỗ
S-/R- Ríu rít
Sẽ
Síu sít
Rẽ
Qu-/C-/K- Cũi
Ca
Quĩ
Ka
9
Kéo co Céo co
Ng-/Ngh- Lắng nghe
Nghề nghiệp
Ngộ nghĩnh
Lắng nge
Ngề ngiệp
Nghộ nghĩnh
g-/ng- Gặp gỡ Ngặp ngỡ
y-/i- Yêu thương Iêu thương

1.2.3.2. Lỗi viết sai âm đệm và âm chính
Âm chính Viết đúng Viết sai

-ât/-ăt Đất nước Đắt nước
-uân/-ân Mùa xuân Mùa xân
-ưng/-ương Rừng mơ Rường mơ
-oan/-on Soạn bài Sọn bài
-ong/-ông Con ong Con ông

1.2.3.3. Lỗi viết sai âm cuối
Âm cuối Viết đúng Viết sai
10
-anh/-ang Thành nơi gặp gỡ Thàng nơi gặp gỡ
-anh/-ăn Thành nơi gặp gỡ
Gánh nặng
Thằn nơi gặp gỡ
Gắn nặng
-on/-ong Đón mời Đóng mời
-ich/-inh Cổ tích, thanh lịch Cổ tính, thanh lịnh
-iêc/-iêt Làm việc Làm việt
-uốc/-uốt Uống thuốc Uống thuốt
-ứt/-ức Sức Sứt
-au/-âu/-ao Đau khổ
Chim đậu
Đâu khổ
Chim đạo
-ai/-ay Hai tay
Thay áo
Hay tay
Thay áo
-inh/-ing Tỉnh khô Tỉng khô
-it/-ich Có ích Có ít
-uy/-ui Tùy theo Tùi theo

chấm, không viết hoa tên riêng, đặt dâu chấm câu không đúng chỗ. Ví dụ:
Viết đúng Viết sai
Hôm nay, bạn Loan đi học muộn. Hôm nay bạn loan đi học muộn.
Hôm nay, Bạn Loan đi học muộn.
Hôm nay , bạn Loan đi học muộn .
hôm nay, bạn Loan đi học muộn.
….
1.3. Những nguyên nhân chính trong việc viết sai chính tả của học sinh lớp 1,
Trường tiểu học Tân Định, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
1.3.1. Nguyên nhân khách quan
- Trường tiểu học Tân Định nằm tại xã Tân Định, một địa bàn dân cư thuộc nhiều đia
phương (người phía Bắc và các địa phương thuộc Bắc Trung Bộ như Quảng Nam, Quảng
Ngãi, Bình Định, Phú Yên và cả cư dân Nam Trung Bộ) nên tiếng nói rất đa dạng. Điều
này đã ảnh hưởng rất nhiều đến chính tả của học sinh, vì nói sai cũng là một nguyên nhân
dẫn tới viết sai.
- Vì điều kiện kinh tế khó khăn và nhiều lý do khác, một bộ phận các em không
học qua mẫu giáo, không được làm quen với kiến thức tiếng Việt một cách hệ thống
trước khi vào lớp 1, dẫn đến khả năng tiếp thu tiếng Việt ở tiểu học nói chung sẽ bị ảnh
hưởng.
1.3.2. Nguyên nhân chủ quan
- Nhiều gia đình học sinh chưa có thói quen nhắc nhở, hướng dẫn các em trong
việc học bài và làm bài tập ở nhà. Chưa tạo được điều kiện thuận lợi cho các em như:
đồ dùng học tập, góc học tập, thời gian học tập, …Ít quan tâm động viên, nhắc nhở đối
với việc học của các em. Việc thi đua học tốt, phong trào khuyến học trong cộng đồng
dân cư còn chưa rộng rãi và chưa có hiệu quả tốt.
12
- Về phía thầy cô giáo, do giáo viên đến từ nhiều địa phương khác nhau nên phát
âm của giáo viên không thống nhất và phải nói là chưa chuẩn chính âm. Điều đó đã dẫn
tới sự ảnh hưởng yếu tố phương ngữ nên nhiều trường hợp học sinh người nói tiếng
Việt theo các phương ngữ khác nhau, mà thường thì các em đọc thế nào thì sẽ viết thế

làm văn.
Với những học sinh có vấn đề về mặt phát âm (nói ngọng, nói lắp,…), giáo viên
lưu ý học sinh chú ý nghe cô phát âm để viết cho đúng. Vì vậy, giáo viên phải cố gắng
phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng được
Nếu giáo viên là người đang sử dụng phương ngữ thì cần phải tự tập luyện để phát
âm cho chuẩn. Trường hợp chưa thể phát âm cho đúng chuẩn, có thể sử dụng máy ghi
âm, băng, đĩa, … để đọc thay cho đúng.
2.1.2. Ghi nhớ hình thức và ý nghĩa của từ
Hướng dẫn đánh vần từng chữ cái có tác dụng giúp người học nhớ cách viết từng
chữ đúng chính tả.
Để khắc sâu ghi nhớ về mặt hình thức, giáo viên có thể tăng cường sử dụng kênh
chữ thông qua đồ dùng trực quan, phấn màu,…Giúp học sinh học chính tả bằng cách
nhớ từng chữ một, sai gì học nấy.
Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết luyện từ và câu, tập đọc, tập
làm văn… nhưng nó cũng là viêc làm rất cần thiết trong tiết chính tả, khi mà học sinh
không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng
14
Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học sinh đọc
chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ
đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh.
Ví dụ: Để viết đúng chữ chiêng và chiên
Chiêng: giáo viên có thể cho học sinh xem tranh ảnh cái chiêng hoặc mô tả đặc điểm
Chiên: giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ chiên hoặc giải thích bằng định nghĩa.
Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt các từ đó trong những văn cảnh cụ thể, gần gũi với
học sinh để giải nghĩa từ.
2.1.3. Dùng mẹo luật chính tả và từ điển chính tả

Dựa vào hiện tượng mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, người ta thường thiết
lập các mẹo luật để học sinh tự học nhằm tránh lỗi chính tả một cách hữu hiệu.
Ngay từ lớp

• Nặng + ngã: Nhẹ nhõm, đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo,…
• Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo…
Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:
Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: Gập ghềnh, khấp
khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh,
bấp bênh, công kênh…
Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng đoàng, loảng xoảng,
đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, ăng ẳng, ằng ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng
sặc, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, reng reng, phèng phèng, lẻng kẻng, lẻng
xẻng, ùng ùng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh
huỵch…
Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeo
chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân
Cách này có các ưu điểm: tiết kiệm công sức ghi nhớ, tạo sự hứng thú cho người
học, biết được một số đặc điểm của tiếng Việt.
2.1.4. Xây dựng bài tập luyện thêm
Giáo viên cần tùy theo tình hình mắc lỗi chính tả của học sinh để lựa chọn bài tập
cho phù hợp.
Muốn vậy, giáo viên nên theo dõi, thống kê lỗi của học sinh, lỗi nào phổ biến thì
sửa; đọc cho học sinh viết những văn bản, những bài học có chứa nhiều lỗi để học sinh
16
tự nhận diện từ đó rồi viết lại cho đúng; có thể chọn những bài có nhiều tình huống học
sinh dễ mắc sai để học sinh luyện đọc, luyện viết.
Có thể sử dụng một số dạng bài tập sau đây:
2.1.4.1. Bài tập trắc nghiệm
Khoanh tròn vào chữ cai trước những chữ viết đúng chính tả:
a. Hướng dẩn b. Hướng dẫn
c. Giải lụa d. Dải lụa
e. Oan uổng f. Oan uổn
2.1.4.2. Điền chữ đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S vào ô trống

• l/n: lành…. ặn, nao…úng,…anh lảnh
• s/x: chim…ẻ, san…ẻ, …ẻ gỗ. …uất khẩu, năng….uất.
• ươn/ương: bay l…
.
, b…. chải, bốn ph… , chán ch…
\

• iêt/ iêc: đi biền b…
.
, thấy tiêng t…
/
, xanh biêng b…
/

* Điền tiếng láy thích hợp vào chỗ trống:
• Hắn bỡ…… trước cuộc sống mới lạ.
• Buổi trưa hè, trời nắng chói …….
• Dây leo chằng………, chắn cả lối đi.
• Tiếng gà kêu quang ………
2.1.4.7 Bài tập tìm từ
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từ
đồng âm, từ trái nghĩa….
* Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng ươt hoặc ươc có nghĩa như sau:
• Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ:
• Thi không đỗ:
• Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh:
* Tìm các từ chỉ hoạt động:
• Chứa tiếng bắt đầu bằng r:
• Chứa tiếng bắt đầu bằng d:
• Chứa tiếng bắt đầu bằng gi:

hoặc gắn những lỗi sai với những tình huống dễ nhớ, gần gũi với các em, kích thích sự
hứng thú của các em.
19
Khi đánh giá, nhận xét bài viết chính tả, có thể để học sinh tự trao đổi, chấm bài
chéo cho bạn dưới sự hướng dẫn của giáo viên, sẽ giúp các em nhớ lâu hơn khi gặp
những tình huống “có vấn đề”.
2.2. Về những giải pháp cụ thể cho học sinh Trường tiểu học Tân Định, huyện
Bến Cát, tỉnh Bình Dương
2.2.1. Nâng cao điều kiện cơ sở vật chất (giúp học sinh học trực quan)
Giáo viên và nhà trường cần tạo cho các em một môi trường học tập đảm bảo đầy
đủ về trang thiết bị và đồ dùng trực quan: tranh, ảnh, máy vi tính, máy chiếu, máy ghi
âm, đầu VCD,
Bên cạnh đó, giáo viên cần được trang bị đầy đủ các loại sách, tài liệu tham khảo
như: từ điển tiếng Việt, sách về ngôn ngữ học, máy vi tính để khai thác thông tin trên
internet, máy in, …
2.2.2. Xác định thái độ học tập đúng đắn cho học sinh
Để phát âm cho đúng âm chuẩn, giáo viên cần tập cho học sinh thói quen tự mình
kiên trì luyện phát âm cho chính mình, khắc phục những lỗi sai do ảnh hưởng của tiếng
mẹ đẻ.
Thông qua các cuộc họp với phụ huynh học sinh và nhiều hình thức khác, giáo
viên nên phối hợp và đề nghị với gia đình học sinh tăng cường việc sử dụng tiếng Việt
và chữa lỗi khi nói, viết tiếng Việt cho các em.
Khích lệ các em trong việc tăng cường sử dụng tiếng Việt khi đến trường, khi
chơi; quan hệ thân thiện với mọi người xung quanh, nhất là bạn học cùng lớp, để mạnh
dạn, tự tin trong giao tiếp, qua đó tự học được cách sử dụng đúng tiếng Việt khi nói, khi
viết.
2.2.3. Phân hóa đối tượng để tìm những giải pháp phù hợp trong việc khắc
phục lỗi chính tả của học sinh
Khi dạy chính tả, giáo viên phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính tả của
học sinh ở từng khu vực, từng miền để hình thành nội dung giảng dạy, phải xác định

thường xuyên tự học, tự nghiên cứu bằng nhiều hình thức và trao đổi kinh nghiệm với
các đồng nghiệp để qua đó nâng cao trình độ chuyên môn và tay nghề. Có như thế mới
có thể dạy tốt và giúp học sinh học thật tốt không chỉ trong phân môn chính tả mà trong
tất cả các môn học.
Thực tế cho thấy lời nói tồn tại ở cả hai dạng: nói và viết. Hai dạng này có liên
quan mật thiết tác động qua lại lẫn nhau. Muốn học sinh nói chuẩn (chuẩn chính âm) và
viết đúng (chuẩn chính tả), khi dạy chính tả ngoài nguyên tắc đặc thù, giáo viên phải
dạy theo đúng các nguyên tắc chính tả. Vì nguyên tắc chính tả là cơ sở cho việc tổ chức
dạy học chính tả, quyết định sự thành bại của quá trình dạy tiếng Việt, trong đó có dạy
chính tả. Việc rèn luyện sửa lỗi cho học sinh phải được tiến hành thường xuyên, liên tục
trong tất cả các môn học cũng như trong giao tiếp. Nhất là việc luyện viết “từ khó”
trong giờ chính tả là một thao tác không thể thiếu được. Chỉ có trong giao tiếp, các yếu
tố ngôn ngữ mới bộc lộ hết đặc điểm của nó. Dù dạy bất cứ yếu tố chính tả nào cũng
phải hướng dẫn cho học sinh thấy chúng được sử dụng trong giao tiếp như thế nào và
22
liên hệ với bản thân mình để có phương pháp tự sửa chữa. Đặc biệt, giáo viên phải
hướng dẫn cho các em có ý thức nói, viết đúng chính tả ở mọi lúc, mọi nơi; giao tiếp ở
trường cũng như giao tiếp trong gia đình và ngoài xã hội. Thiết nghĩ, dạy học vốn đã là
một việc khó, dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc trong đó có dạy học chính tả lại
càng khó hơn. Việc càng khó đòi hỏi thầy càng giỏi.
Qua thăm dò ý kiến của nhiều đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy việc học sinh dân
tộc thiểu số học tiếng Việt cần được chú ý nhiều hơn nữa. Cần có sự quan tâm đầu tư về
nhiều mặt và có những công trình nghiên cứu khoa học với đối tượng học sinh này. Với
nét đặc thù riêng, nên thiết nghĩ cần có một chương trình học, sách giáo khoa, phương
pháp và phương tiện dạy học tiếng Việt dành riêng cho học sinh dân tộc. Nếu cần thiết,
nên kéo dài thời gian học ở Tiểu học đối với học sinh dân tộc lên 6 năm. Năm đầu tiên,
chỉ dành riêng cho việc làm quen và học tiếng Việt. Nội dung trong sách giáo khoa
cũng cần được điều chỉnh sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh người
dân tộc thiểu số.
Đối với giáo viên đang giảng dạy tại vùng có tỷ lệ học sinh có dân trí thấp, cần có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status