ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
o0o
TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ
THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH CỦA VIỆT NAM
NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
GVHD: Trần Thị Bích Dung
NHÓM 2 : - Đặng Hồng Đức
- Vương Chí Công
- Nguyễn Quang Hùng
- Trần Thị Liên Hương
- Bùi Minh Long
- Hồ Văn Phú Thành
- Nguyễn Thị Thanh Thảo
- Hoàng Đào Phương Thảo
Lớp: Đêm 3
Khóa: K22
TP. HỒ CHÍ MINH , THÁNG 03/2013
1
PHỤ LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………. 1
CHƯƠNG 1: Lý thuyết ngân sách và thâm hụt ngân sách ……………………. 3
I. Ngân sách nhà nước (NSNN) ………………………………………………… 3
1. Khái niệm …………………………………………………………… 3
2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước …………………………………………… 4
3. Thu và chi NSNN …………………………………………………………… 4
4. Vai trò của NSNN …………………………………………………………… 4
II. Thâm hụt ngân sách ……………………………………………………………… 6
1. Khái niệm ……………………………………………………………. 6
2. Các dạng thâm hụt ngân sách ………………………………………………… 7
3. Tác động của thâm hụt NSNN đối với nền kinh tế ………………………… 7
Tất cả những vấn đề trên sẽ được phân tích và giải quyết trong đề tài: “Thâm hụt ngân sách Việt
nam: Thực trạng, Nguyên nhân và Giải pháp”. Với mục tiêu nghiên cứu về ngân sách nhà nước và
những biện pháp của Chính phủ để giải quyết tình trạng thâm hụt ngân sách, cùng những kiến thức
đã thu lượm được từ môn học Kinh tế vĩ mô, bản báo cáo của nhóm 2 sẽ đi sâu nghiên cứu những
vấn đề liên quan đến ngân sách nhà nước, thâm hụt ngân sách và biện pháp tài trợ của nhà nước,
trên cơ sở đó đề ra những giải pháp phù hợp để giải quyết tình trạng thâm hụt ngân sách.
Bản báo cáo của nhóm 2 gồm có 3 chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Lý thuyết ngân sách và thâm hụt ngân sách: Chương này sẽ nghiên cứu những vấn đề
chung nhất về ngân sách nhà nước.
Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân thâm hụt ngân sách của Việt Nam qua các năm.
Chương 3: Biện pháp mà chính phủ Việt Nam sử dụng để bù đắp thâm hụt ngân sách: Chương này
sẽ nghiên cứu cụ thể về cách thức tiến hành, những ưu điểm và nhược điểm của các biện pháp bù
đắp thâm hụt ngân sách.
4
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn bài báo cáo của nhóm vẫn còn nhiều thiếu sót, nhóm
2 rất mong nhận được sự đóng góp từ phía thầy cô và các bạn để bài thảo luận của nhóm được hoàn
thiện hơn.
5
Chương 1:
Lý thuyết ngân sách và thâm hụt ngân sách
I. Ngân sách nhà nước (NSNN):
1. Khái niệm:
Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch
sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng
rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại
chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường
phái và các lĩnh vực nghiên cứu:
Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng
tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia.
Ngân sách nhà nước là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời
thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã
định;
• Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả
trực tiếp là chủ yếu.
3. Thu và chi NSNN
• Thu ngân sách: Là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài
chính quốc gia hình thành quỹ NSNN.
Các khoản thu của chính phủ bao gồm: Thuế (chiếm 70-75% NSNN), các khoản phí, lệ phí,
tiền phạt, các nguồn viện trợ, nguồn lợi nhuận từ hoạt động sản xuất-kinh doanh của nhà
nước…
• Chi ngân sách: Là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức
năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.
Cần lưu ý là không tính vào thu NSNN các khoản thu mang tính chất hoàn trả như vay nợ và
viện trợ có hoàn lại.
Các khoản chi ngân sách bao gồm: chi trả lương cho cán bộ công nhân viên chức; chi cho an
ninh, quốc phòng; chi cho giáo dục, y tế, giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng; các khoản trợ cấp; hỗ
trợ thiên tai, bão lụt; chi trả nợ trong nước và nước ngoài.
4. Vai trò của ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an
ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách nhà nước luôn
gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định. Đối với nền kinh tế thị trường,
ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội.
7
Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển
sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội.
Huy động các nguồn tài chính của ngân sách nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà
nước
Mức động viên các nguồn tài chính từ các chủ thể trong nguồn kinh tế đòi hỏi phải hợp lí
nếu mức động viên quá cao hoặc quá thấp thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế,vì vậy
cần phải xác định mức huy động vào ngân sách nhà nước một cách phải hợp với khả năng đóng
Nhà nước sẽ sử dụng ngân sách nhà nước như một công cụ để góp phần bình ổn giá cả và
kiềm chế lạm phát.Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính
chất chiến lược. Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ
quốc gia. Thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu của chính phủ.
Kiềm chế lạm phát: Cùng với ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ thích hợp NSNN góp
phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của Chính phủ.
Kích thích tăng trưởng kinh tế: NSNN cung cấp nguồn kinh phí để nhà nước đầu tư xây
dựng các công trình kết cấu hạ tầng như cầu đường, sân bay, hệ thống thông tin liên lạc…
- Đầu tư cho các ngành kinh tế: Hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp trong trường hợp
cần thiết đảm bảo cho sự ổn định về cơ cấu kinh tế.
- Điều tiết thị trường, giá cả và chống lạm phát: trong quá trình điều chỉnh thị trường NSNN có tác
động đến sự hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn và trên cơ sở đó thực hiện giảm lạm
phát, kiềm soát lạm phát.
- Điều tiết thu nhập dân cư để góp phần thực hiện công bằng xã hội:
Trong xã hội nào cũng có sự phân chia giàu nghèo. Nhà nước cần phải có chính sách phân phối lại
thu nhập, hợp lí nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư. NSNN là một
công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập dân cư trên phạm vi toàn
xã hội ở cả hai mặt thu và chi bằng việc áp dụng thuế trực thu, thuế gián thu, chi cho phúc lợi công
cộng…
II. Thâm hụt ngân sách
1. Khái niệm
Ngân sách nhà nước: là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện
các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước (Luật Ngân sách Nhà nước CHXHCN Việt Nam).
Thâm hụt ngân sách: Thâm hụt ngân sách nhà nước là tình trạng các khoản thu ngân sách
nhỏ hơn các khoản chi. Thâm hụt ngân sách được thể hiện bằng tỉ lệ phần trăm so với GDP (khi
9
tính người ta thường tách riêng các khoản thu mang tính hoán trả trực tiếp như viện trợ, vay nợ ra
khỏi số thu thường xuyên và coi đó là nguồn tài trợ cho thâm hụt ngân sách).
B = T – G
+ Giảm đầu tư tư nhân
+ Giảm tăng trưởng trong dài hạn
+ Giảm niềm tin đối với năng lực điều hành vĩ mô của chính phủ
+ Tăng nợ quốc gia: Sản lượng tiềm năng tăng chậm lại
Thực tế cho thấy thâm hụt ngân sách không có nguồn bù đắp hợp lí sẽ dẫn tới lạm phát.
Nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng cách phát hành thêm tiền vào lưu thông sẽ dẫn đến bùng
nổ lạm phát.
Như vậy, thâm hụt ngân sách đe dọa sự ổn định vĩ mô
11
Chương 2:
Nguyên nhân và thực trạng thâm hụt ngân sách của Việt Nam
qua các năm
I. Thực trạng thâm hụt ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong những năm qua
1. Thực trạng Thu – Chi Ngân sách Nhà nước
• Thu Ngân sách Nhà nước
Theo các Báo cáo Quyết toán NSNN giai đoạn 2003-2010, có thể thấy nguồn thu NSNN
của Việt Nam khá ổn định, dao động trong khoảng từ 25-30% GDP. Tổng nguồn thu được phân
chia thành ba khoản bao gồm thu từ thuế và phí, thu về vốn, và thu viện trợ không hoàn lại.
Trong số này thì phần lớn vẫn đến từ nguồn thu thuế và phí, thu về vốn chiếm khoảng 2% và thu
viện trợ không hoàn lại chỉ chiếm khoảng 0,5% (Hình 10). Năm 2009 nguồn thu từ thuế có dấu
hiệu suy giảm nhẹ do Chính phủ thực hiện hàng loạt các biện pháp cắt giảm nhằm kích thích
tổng cầu. Tuy nhiên sang năm 2010 thì tỉ lệ thu thuế lại gia tăng trở lại, lên đến gần 30%. Theo
như Dự toán NSNN trong hai năm gần nhất là 2011 và 2012 thì tỉ lệ thu thuế đang có xu hướng
giảm xuống chỉ còn khoảng 25%. Mặc dù vậy những con số của năm 2011 và 2012 chưa thể
phản ánh đúng xu hướng này, do nếu căn cứ vào thực trạng tổng thu NSNN từ năm 2003 đến
2010 thì những số liệu quyết toán luôn luôn vượt so với những số liệu dự toán.
Hình 10: Các nguồn thu trong NSNN của Việt Nam 2003-2012 (% GDP)
35.0
30.0
25.0
quốc doanh đang có xu hướng tăng lên. Nếu căn cứ vào số liệu Dự toán của Bộ Tài chính thì
nguồn thu từ khu vực này đã tăng gấp hơn hai lần nếu như so với một thập kỷ trước, từ khoảng
7% vào năm 2003 lên đến 15% vào năm 2012 (Hình 12).
Tuy nhiên bất chấp việc đã có đóng góp nhiều hơn cho tổng nguồn thu của NSNN, thì
mức độ đóng góp của khu vực này vẫn nhỏ hơn nhiều so với mức đóng góp của khu này vào
GDP cả nước, gần 50% (Hình 13). Tương tự như thế, nghịch lý được đầu tư nhiều nhưng đóng
góp vào nguồn thu kém càng được thể hiện trong khu vực nhà nước, khi đóng góp của khu vực
này vào GDP cả nước vào khoảng 40%, nhưng nguồn thu từ khu vực này lại chỉ ở mức trên dưới
20%. Nghịch lý này có thể được giải thích bằng các hoạt động tham nhũng và trốn thuế của các
doanh nghiệp Việt Nam.
Ngoài ra, nguồn thu từ khu vực các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài lại đang suy giảm, từ
chỗ khoảng 35% vào năm 2005 đã giảm xuống chỉ còn vào khoảng 25% tổng nguồn thu. Trong
khu vực này đáng chú ý là nguồn thu từ dầu thô đã suy giảm đáng kể và chỉ còn ở mức khoảng
12% tổng nguồn thu (Hình 14). Điều này là dấu hiệu tích cực khi nguồn thu NSNN đã không còn
lệ thuộc nhiều vào dầu thô như trước đây, mặc dù vẫn giữ được sự ổn định.
Hình 12: Cơ cấu nguồn thu NSNN 2003-2012 phân theo từng khu vực (% tổng
thu)
100%
90%
80%
70%
60%
45,7 45,1 40,7
38,6
42,8 42,7 47,7 46,3 40,8
39,1
7,1 7,6
50%
40%
6,6
30%
20%
10%
0%
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Khu vực nhà nước Khu vực ngoài nhà nước Khu vực FDI
Nguồn: Tổng cục thống kê
Hình 14: Tỉ trọng thu từ dầu thô (% tổng thu)
35
30
25
20
15
10
5
0
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Nguồn: Quyết toán NSNN (2003-2010) và Dự toán NSNN (2011-2012), Bộ Tài chính
10,8
10,9
11,2
11,6
12,1
12,8
• Chi ngân sách nhà nước:
Theo các Báo cáo Dự toán và Quyết toán của Bộ Tài chính thì tổng chi cân đối NSNN sẽ bao
gồm chi tiêu cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Bắt đầu tư năm 2009, tổng chi tiêu
NSNN đã có xu hướng giảm do chính phủ thực hiện những chính sách thắt lưng buộc bụng nhằm
bình ổn nền kinh tế. Tuy nhiên, nhìn vào thực trạng chi tiêu trong Hình 15, có thể thấy rằng bất
chấp sư thu hẹp của tổng chi tiêu, các khoản chi thường xuyên lại đang có xu hướng tăng lên,
2. Thực trạng thâm hụt ngân sách
Giai đoạn trước năm 1986, thâm hụt ngân sách nhà nước luôn ở tình trạng cao quá mức, thu
ngân sách không đủ bù đắp cho chi thường xuyên, chi tiêu của Chính phủ Việt Nam phải dựa chủ
yếu vào sự viện trợ của nước ngoài, đặc biệt là Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu.
Sang giai đoạn 1986-1990, trước tình hình khó khăn đó, Đảng ta tiến hành đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường
có định hướng XHCN. Với những bước đi chập chững ban đầu, chính sách tài chính đã có đổi mới
một bước. Tuy nhiên, thu NSNN càng không đủ chi và bù đắp thâm hụt NSNN không chỉ phải vay
trong và ngoài nước mà còn phải lấy từ nguồn tiền phát hành.
Giai đoạn 2001-2010: trong những năm gần đây, NSNN cũng đã có chuyển biến đáng kể.
Tốc độ tăng thu hàng năm bình quân là 18,8%. Tốc độ tăng chi bình quân hàng năm đạt 18,5%. Bội
chi NSNN trong giai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối ở mức 5% GDP.
Đơn vị tính: Tỷ Đồng
Năm Số Bội chi Bội chi so với GDP
2001 25.885 4,67%
2002 25.597 4,96%
2003 29.936 4,9%
2004 34.703 4,85%
2005 40.746 4,86%
2006 48.500 5%
2007 56.500 5%
2008 66.200 4,95%
2009 142.355 6,9%
2010 119.700 6,2%
Mặc dù có nguồn thu khá cao nhưng Việt Nam cũng vẫn không tránh khỏi việc thường
xuyên bị thâm hụt ngân sách trong khoảng một thập kỷ trở lại đây. Số liệu Quyết toán và Dự
toán NSNN của Bộ Tài chính phân biệt hai khái niệm bội chi NSNN. Đó là bội chi theo tiêu
chuẩn quốc tế (không bao gồm chi trả nợ gốc) và theo tiêu chuẩn Việt Nam (bao gồm cả chi trả
nợ gốc). Nếu tính theo tiêu chuẩn quốc tế thì mức thâm hụt hay bội chi của Việt Nam thấp hơn
nhiều, và cũng khá gần với thống kê của IMF và ADB (Bảng 7). Tuy nhiên, nếu theo như tiêu
Số liệu của Bộ Tài chính cũng chỉ rõ nguồn bù đắp bội chi NSNN của Việt Nam, bao
gồm các khoản vay trong nước và vay nước ngoài (Bảng 8). Theo đó, thông thường Việt Nam
MoF
1
2001
2002
2003
-1,8
2004
phụ thuộc nhiều vào các khoản vay trong nước, hơn là các khoản vay nước ngoài. Ngoại trừ
năm
2009, Việt Nam vay nợ nước ngoài khá nhiều để bù đắp cho thâm hụt ngân sách.
Bảng 8: Cơ cấu nguồn bù đắp bội chi NSNN 2003-2011 (tỉ
đồng)
Theo thông lệ quốc tế (không gồm chi trả nợ gốc)
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Tổng 10,904 7,881 7,140 8,964 20,094 26,746 61,198 74,370 71,360
Nợ trong nước 6,327 4,671 4,525 3,160 13,315 11,710 30,860 63,100 55,050
Nợ nước ngoài 4,577 3,210 2,615 5,804 6,779 15,037 30,338 11,270 16,310
Theo thông lệ VN (gồm cả chi trả nợ gốc)
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Tổng 29,936 34,703 40,746 48,613 64,567 67,677 114,442 119,700 120,600
Nợ trong nước 22,895 27,450 32,420 35,864 51,572 48,009 78,150 98,700 92,600
Nợ nước ngoài 7,041 7,253 8,326 12,749 12,995 19,668 36,292 21,000 28,000
Nguồn: Quyết toán và Dự toán NSNN 2003-2011
II. Nguyên nhân:
Thâm hụt ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự cân
đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước gồm các nguyên
nhân chính sau:
Thất thu thuế nhà nước
thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách
cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và
được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm. Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để
đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi
hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu
quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách. Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi
vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực
bội chi NSNN.
Quy mô chi tiêu của Chính phủ quá lớn.
Tăng chi tiêu của Chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn,
nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả
của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ
thống tài chính. Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một cách rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của
chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi
tiêu của Chính phủ một khi vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây
ra phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối cùng
là gây ra lạm phát.
Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn được sử dụng
như một công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh
tế
Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này thông qua cân đối NSNN hằng năm. Về nguyên
tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được số thặng dư hoặc thiếu hụt
ngân sách trong năm. Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chúng ta thường xác định số bội chi trước
(thông thường tương đương với mức Quốc hội cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho
phép chuyển nguồn sang năm sau. Đây là chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết
bội chi một cách chủ động và điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng
phải cân nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho các
dự án trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền kinh tế phát triển,
tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không.
Chương 3: Các biện pháp tài trợ thâm hụt ngân sách
hoạt động duy trì, tu bổ các công trình kết cấu hạ tầng phục vụ cho người nộp thuế.
- Thu từ các nguồn viện trợ:
Đặc điểm thu ngân sách nhà nước
• Thu ngân sách nhà nước là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Mọi khoản thu của nhà nước đều được thể chế hóa bởi các
chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước;
• Thu ngân sách nhà nước phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế; biểu hiển ở
các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất, v.v
• Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ
yếu.
Yếu tố ảnh hưởng thu ngân sách nhà nước
• Thu nhập GDP bình quân đầu người: đây là nhân tố quyết định đến mức động viên của
ngân sách nhà nước;
• Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế: đây là chi tiêu phản ánh hiểu quả của đầu tư phát
triển kinh tế, tỉ suất này càng lớn thì nguồn tài chính càng lớn, do đó thu ngân sách nhà nước phụ
thuộc vào mức độ trang trải các khoản chi phí của nhà nước;
• Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên: đây là yếu tố làm tăng thu nsnn,ảnh hưởng đến việc
năng cao tỉ suất thu ngân sách nhà nước;
• Tổ chức bộ máy thu ngân sách: nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thu.
Biện pháp tăng thu
• Một là, trong khi khai thác, cho thuê, nhượng bán tài sản, tài nguyên quốc gia tăng thu
cho ngân sách, nhà nước cần phải dành kinh phí thỏa đáng cho để nuôi dưỡng, tái tạo và phát triển
các tài sản, tài nguyên ấy, không làm cạn kiệt và phá hủy tài sản, tài nguyên vì mục đích trước mắt.
• Hai là, chính sách thuế phải vừa huy động được nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa
khuyến khích tích tụ vốn cho doanh nghiệp và dân cư.
• Ba là, chính sách vay dân để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước phải được đặt trên cơ
sở thu nhập và mức sống của dân.
• Bốn là, dùng ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp vào một số doanh nghiệp quan trọng
trong những lĩnh vực then chốt, nhằm tạo ra nguồn tài chính mới.
Năm là, nhà nước cần có chính sách tiết kiệm, khuyến khích mọi người tiết kiệm tiêu