Tiểu luận Tình trạng trốn, nợ đọng bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, nguyên nhân và biện pháp khắc phục - Pdf 27

NGHIÊN CỨU CHUYÊN ĐỀ

NỢ ĐỌNG
BẢO HIỂM XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM
NHÓM 2 - LỚP : AN SINH XÃ HỘI
THỰC HIỆN: BÙI THUỲ DƯƠNG
NGUYỄN NGỌC ANH
NGUYỄN THỊ KIM
HOÀN
NGUYỄN THANH
THUỶ
PHẠM TIẾN TRUNG
CHU HÀ LINH
LÊ THỊ OANH
Nghiên cứu chuyên đề:
Tình trạng trốn, nợ đọng
bảo hiểm xã hội ở Việt Nam,
nguyên nhân và biện pháp khắc
phục
I. Tình trạng trốn, nợ đọng bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
Thực trạng trốn nợ đọng của bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay:
Vấn đề trốn, nợ BHXH của các DN trong tỉnh đã được nhắc đến khoảng 5
năm trở lại đây và đã trở thành một "vấn nạn"khó giải quyết. Tính cho đến
thời điểm gần nhất tháng 2 năm 2011, BHXH tỉnh vẫn đang là "chủ nợ" với số
tiền nợ lên đến hàng chục tỉ đồng Tình trạng này đang càng ngày càng diễn ra
một cách gay gắt, cụ thể là:
Báo cáo của Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam cho thấy, tình trạng nợ
đọng BHXH đang diễn ra ở hầu hết các địa phương và số nợ BHXH hiện nay
lên tới hàng nghìn tỷ đồng, chủ yếu tập trung ở khu vực doanh nghiệp :
- Năm 2008, quỹ bảo hiểm xã hội đã thu được gần 30.217 tỷ đồng từ đóng

 Như vậy, có thể thấy tình trạng trốn, nợ đọng bảo hiểm xã hội đang
diễn ra một cách gay gắt tại Việt Nam, với số tiền lên tới hang nghìn tỷ
đồng, và tình trạng này vẫn đang diễn ra một cách công khai mà chưa tìm
được cách giải quyết triệt để.
II. Nguyên nhân xảy ra hiện tượng trốn, nợ đọng bảo hiểm xã hộ i
1. Nguyên nhân trực tiếp nhất:
- Về phía người sử dụng lao động: tìm cách đối phó, trốn tránh hoặc chiếm
dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội của người lao động, tiêu biểu là các doanh
nghiệp dù lảng tránh trách nhiệm nộp tiền bảo hiểm xã hội nhưng vẫn bớt
6% tổng tiền lương của người lao động vốn dĩ được sử dụng để đóng bảo
hiểm.
Bên cạnh đó còn có sự phân biệt cán bộ trong biên chế và ngoài biên chế.
Chỉ có cán bộ biên chế mới được hưởng chế độ BHXH, trong khi luật Lao
Động và luật BHXH không có quy định này.
- Về phía người lao động: sự thiếu hiểu biết về pháp luật hoặc chưa quan
tâm đúng mức đến bảo hiểm xã hội đã vô tình tiếp tay cho hành động sai
trái của các doanh nghiệp, đồng thời đem lại thiệt hại cho hính bản thân và
gia đình mình.
Nhận thức về pháp luật lao động của người lao động vẫn còn hạn chế nên
việc không tự bảo vệ quyền lợi của mình trong việc đóng BHXH.Một số
người không muốn tham gia tổ chức công đoàn vì sợ thu nhập giảm, hoặc
người lao động không dám đấu tranh vì tâm lý lo sợ bị trù dập đuổi việc.
2. Nguyên nhân gián tiếp:
- Khung pháp lí về luật bảo hiểm xã hội chưa có sự chặt chẽ và thống nhất
giữa các điều luật. Bên cạnh đó, chế tài và mức xử phạt vi phạm còn quá
nhẹ, thậm chí được hiểu và xử lý chưa đầy đủ nên chưa đủ sức răn đe. Cụ
thể :
+ Nghị định 135/2007/NĐ-CP, quy định mức phạt tiền cao nhất đối với
hành vi vi phạm về bảo hiểm xã hội là 20 triệu đồng. Theo quy định của
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

- Các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp theo chức năng của mình cần sớm
nghiên cứu và ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện một số nội dung quy
định trong Luật BHXH. Đồng thời, nghiên cứu, sửa đổi và bổ sung các văn
bản hướng dẫn kịp thời những nội dung về BHXH phát sinh trong quá trình
thực hiện chính sách BHXH
2. Biện pháp lâu dài :
- Làm tốt công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật về bảo hiểm xã hội
cho cả người lao động và doanh nghiệp, tăng cường đối thoại giữa doanh
nghiệp, địa phương và người lao động để giải toả những vướng mắc trong
quá trình tham gia bảo hiểm xã hội.
- Tăng cường công tác kiểm tra. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ kiểm tra của hệ
thống bảo hiểm xã hội phải chủ động tiếp cận với doanh nghiệp, phát hiện
sớm những trường hợp chậm đóng, để nhắc nhở kịp thời. Tránh được
trường hợp càng để lâu, khoản nợ càng lớn, càng khó xử lý.
- Thực hiện nghiêm minh các chế tài xử lý vi phạm. Đồng thời nghiên cứu
đề xuất sửa đổi mức phạt. Có ý kiến đề xuất mức độ xử phạt phải được tính
theo tỷ lệ của số tiền nợ đóng, chậm đóng. Đối với những trường hợp cố
tình trốn đóng bảo hiểm xã hội, cần thực hiện kiên quyết, có thể khởi kiện
ra toà.
- Các doanh nghiệp cũng cần thành lập các tổ chức công đoàn và nâng cao
chất lượng các tổ chức công đoàn trong cá doanh nghiệp.
- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng, với sự chỉ đạo sát
sao của chính quyền địa phương, đặc biệt sự phối hợp giữa ngành lao động
thương binh và xã hội, Liên đoàn lao động, các Ban Quản lý khu công
nghiệp, khu chế xuất và Bảo hiểm xã hội, trong việc đôn đốc việc thu và
thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội. Đồng thời, tăng cường phối hợp
với cơ quan cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp, cơ quan quản lý thuế,
để chủ động nắm bắt thông tin về lao động, việc làm, tiền lương của doanh
nghiệp làm cơ sở để thực thi pháp luật về bảo hiểm xã hội.
- Cần phải thay đổi, hủy bỏ các cơ chế, thủ tục rươm rà bất cập trong việc

- Phương thức áp dụng biện pháp
Từ phân tích trên cho thấy, đã đến lúc các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp
theo chức năng của mình cần sớm nghiên cứu và ban hành văn bản hướng dẫn
thực hiện một số nội dung quy định trong Luật BHXH. Đồng thời, nghiên cứu,
sửa đổi và bổ sung các văn bản hướng dẫn kịp thời những nội dung về BHXH
phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách BHXH. Đặc biệt là Bảo hiểm
Xã hội Việt Nam sớm có kiến nghị với Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc
hội để ủy ban này kiến nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung vào Bộ luật Hình sự
những tội danh mới về BHXH, BHYT, như: Tội trốn đóng, chiếm dụng, lạm
dụng quỹ, giả mạo hồ sơ giấy tờ để chiếm đoạt tiền BHXH, BHYT
Có như vậy thì tòa án nhân dân các cấp mới có cơ sở pháp lý cụ thể để xét xử
hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, chủ các doanh
nghiệp chắc chắn chẳng ai muốn vào ngồi tù, nên tình trạng trốn, nợ đọng
hoặc “xù” tiền BHXH, BHYT đối với người lao động sẽ không còn.
- Cơ sở tạo lập biện pháp :
Từ khi Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) được triển khai, đến nay đối tượng
tham gia BHXH tiếp tục tăng lên, hoạt động thu BHXH đã có những chuyển
biến tích cực, Quỹ BHXH có sự tăng trưởng góp phần bảo đảm an sinh xã
hội. Tuy nhiên các văn bản hướng dẫn chưa kịp thời, một số nội dung hướng
dẫn chưa rõ ràng Do đó, gây khó khăn, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai.
- Khó khăn gặp phải : Chồng chéo Văn bản hướng dẫn Luật
Ngay sau khi Luật BHXH được ban hành, Chính phủ và các Bộ, ngành đã tập
trung xây dựng một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật thực hiện các
quy định của Luật BHXH bao gồm các nội dung về hướng dẫn việc thực hiện
chính sách, chế độ BHXH bắt buộc đối với cán bộ, công chức, người lao
động Tuy nhiên, hiện các văn bản hướng dẫn thực hiện chưa kịp thời và
đồng bộ. Một số nội dung hướng dẫn trong các văn bản còn chưa rõ ràng. Bên
cạnh đó, việc ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung cũng chưa kịp thời gây
khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Theo số liệu thống kê của BHXH Việt Nam, năm 2010 đã tiếp nhận và giải

một lần tại Điểm b và c, Khoản 1, Điều 55
Điều 55. Bảo hiểm xã hội một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng
lương hưu
1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c và e khoản 1 Điều 2 của
Luật này được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
a) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này
mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;
b) Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ hai mươi năm
đóng bảo hiểm xã hội;
c) Sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có
yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ hai mươi năm đóng
bảo hiểm xã hội;
d) Ra nước ngoài để định cư.
 Những điểu luật chưa đảm bảo mục đích an sinh xã hội. Nguyên nhân
theo BHXH Việt Nam khi về già không đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng
tháng, tiếp tục là gánh nặng cho xã hội. Do đó, cần sửa đổi theo hướng quy
định người lao động chỉ được hưởng trợ cấp 1 lần trong trường hợp đã hết tuổi
lao động nhưng không đủ 20 năm đóng BHXH.
b) Biện pháp 2:
Nội dung:
Tăng cường công tác kiểm tra
Thực hiện nghiêm minh các chế tài xử lý vi phạm. Đồng thời nghiên cứu đề
xuất sửa đổi mức phạt. Có ý kiến đề xuất mức độ xử phạt phải được tính theo
tỷ lệ của số tiền nợ đóng, chậm đóng. Đối với những trường hợp cố tình trốn
đóng bảo hiểm xã hội, cần thực hiện kiên quyết, có thể khởi kiện ra toà.
Phân tích:
Vấn đề là hiện nay, BHXH Việt Nam đang vướng mắc cơ chế. Đó là, cơ quan
BHXH chưa được quyền xử phạt đối với các đối tượng chây ỳ, trốn đóng hoặc
nợ BHXH kéo dài. Hiện tại, các cơ quan BHXH ở tỉnh, thành phố mới chỉ

b) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng;
c) Tịch thu hồ sơ giả và phương tiện, công cụ sử dụng để làm giả hồ sơ;
d) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II
của Nghị định này.
Điều 42. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Thanh tra Lao động
– Thương binh và Xã hội
1. Thanh tra viên Lao động – Thương binh và Xã hội khi đang thi hành công
vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 500.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá
trị đến 2.000.000 đồng;
d) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II
của Nghị định này.
2. Chánh Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng;
c) Tịch thu hồ sơ giả và phương tiện, công cụ sử dụng để làm giả hồ sơ;
d) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II
của Nghị định này.
3. Chánh Thanh tra Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng;
c) Tịch thu hồ sơ giả và phương tiện, công cụ sử dụng để làm giả hồ sơ;
d) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II
của Nghị định này.
-Thành lập tổ công tác liên ngành để thực hiện nhiệm vụ phát triển đối
tượng tham gia và thu nợ tiền BHXH, BHYT và bảo hiểm thất nghiệp Chánh
Thanh tra tỉnh làm Tổ trưởng, giam đốc hoặc Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội ,
và lãnh đạo các ngành Sở Lao động -Thương binh và Xă hội, Sở Tài chính,

Hơn nữa, Điều 138 Luật bảo hiểm xã hội quy định, tùy theo tính chất, mức độ
vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự nhưng trong Bộ luật Hình sự lại không quy định tội danh
liên quan đến bảo hiểm xã hội.
Theo phân tích của các chuyên gia thì mặc dù từ ngày 1-10-2010, mức xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH đã được tăng lên theo quy định mới
tại Nghị định số 86/2010/NĐ-CP. Cụ thể, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi
không đóng BHXH bắt buộc, tăng từ 20 triệu lên 30 triệu đồng. Đối với hành
vi chậm đóng BHXH bắt buộc thì mức phạt tiền bằng 0,05% mức đóng theo
quy định của pháp luật BHXH cho mỗi ngày chậm đóng, nhưng tối đa không
quá 30 ngày. Song thực tế, mức xử phạt này vẫn còn quá “nhẹ”; cộng thêm
việc lãi suất nợ BHXH thấp hơn lãi suất ngân hàng nên thay vì phải đóng
khoản tiền tham gia BHXH lên đến hàng trăm triệu đồng/năm, nhiều doanh
nghiệp chấp nhận vi phạm, chịu xử phạt hành chính ở mức cao nhất (theo quy
định cũ là 20 triệu đồng) và trả lãi suất nợ BHXH. Vì vậy cần sửa đổi mức
phạt cao hơn mức phạt trong luật hiện giờ để đảm bảo
Hiện chủ sử dụng lao động giữ sổ BHXH của NLĐ nên NLĐ không biết được
DN đã đóng BHXH cho mình hay chưa. Để đảm bảo quyền lợi NLĐ, BHXH
cần kiến nghị nên để NLĐ giữ sổ BHXH. Như vậy, NLĐ sẽ biết mình đã được
DN đóng hay chưa và với mức đóng là bao nhiêu. Trên thực tế, có rất nhiều
NLĐ về hưu mới phát hiện mình chưa đóng đủ BHXH. Đây là lỗi của chủ sử
dụng lao động chứ không phải của NLĐ. BHXH đã giải quyết cho phép DN
đóng riêng cho NLĐ về hưu để hưởng chế độ kịp thời
Bùi Thuỳ Dưong
CQ528142 Bùi Thuỳ Dương : tổng hợp sắp xếp nội dung, thu thập tài
liệu, phân tích phần thực trạng và phân
tích biện pháp 1
CQ521386 Nguyễn Thị Kim Hoàn : word tổng quát phân tích biện pháp 2
CQ522008 Chu Hà Linh : thu thập tài liệu về nguyên nhân , biện
pháp xử lí và Phân tích về nguyên nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status